Thứ Năm, 9 tháng 4, 2026

Những người cùng thời nghĩ gì về tiểu thuyết Sông Đông êm đềm của M. Sholokhov?

 Dmitry Tsyganov

Vào tháng 10, nhà xuất bản New Literary Observer sẽ cho ra mắt một cuốn sách của nhà ngữ văn học, nhà sử học văn hóa và nghiên cứu viên tại Viện Văn học Thế giới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga, Dmitry Tsyganov, có tựa đề Giải thưởng Văn học Stalin. Tác giả thu hút sự chú ý của độc giả đến những chi tiết cụ thể của quá trình trao giải, bằng cách tái hiện lại các sự kiện, mô tả sự hình thành “chuẩn mực văn học thời Stalin. Tạp chí Snob đăng tải một đoạn trích.

Tô Hoàng


Stalin và Sholokhov

SỰ CẦN THIẾT PHẢI LỰA CHỌN: TÁC PHẨM ĐƯỢC STALIN YÊU THÍCH TRONG BỐI CẢNH VĂN HỌC

Cuộc thảo luận về các văn bản được đề cử bắt đầu tại phiên họp toàn thể của Ủy ban xét giải vào ngày 18 tháng 11 năm 1940. Vào thời điểm này, tất cả những người tham gia lẽ ra đã đọc tiểu thuyết “Ngọn lửa trong đầm lầy của V. Vasilevskaya và bài thơ Mayakovsky bắt đầu của N. Aseyev. Nemirovich-Danchenko nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thảo luận các văn bản do ban văn học đệ trình, nhưng sau đó yêu cầu những người tham gia thảo luận ghi nhớ một sự thật quan trọng: “...cho dù chúng ta đánh giá cao một tác phẩm nghệ thuật đến đâu, chúng ta cũng không thể bỏ qua giá trị tư tưởng của nó”. A. Tolstoy bắt đầu báo cáo của mình bằng cách đọc cho các thành viên Ủy ban nghe bài phê bình tiểu thuyết của M. Sholokhov do ban văn học viết, bài phê bình này đã trở thành chủ đề chính được thảo luận tại phiên họp:

“Cho dù một tác phẩm nghệ thuật được tạo ra tốt đến đâu, chúng ta vẫn đánh giá nó dựa trên ấn tượng cuối cùng mà nó để lại, dựa trên tác động nội tâm mà nó tiếp tục thực hiện trong chúng ta.

Những tác phẩm nghệ thuật vĩ đại, bao hàm các chủ đề xã hội có phạm vi và chiều sâu đáng kể, tiếp tục tác động ấy trong chúng ta suốt một thời gian rất dài, đôi khi suốt cả cuộc đời. Ảnh hưởng của các tác phẩm nghệ thuật là thước đo chất lượng của chúng.

Liệu chúng ta có thể tiếp cận các nhà văn đương đại của mình bằng thước đo như vậy? Liệu chúng ta có thể xác định được sự xuất sắc nghệ thuật thực sự của họ mà không cần xem xét kỹ lưỡng? Vâng, chúng ta có thể và phải làm vậy. Đánh giá một tác phẩm nghệ thuật cũng là một hành động sáng tạo táo bạo, giống như bất kỳ nỗ lực sáng tạo nào khác.

Liệu chúng ta có thể áp dụng tiêu chuẩn đánh giá như vậy cho tiểu thuyết Sông Đông êm đềm của Sholokhov? Tác phẩm này đã gây ra cả sự ngưỡng mộ và thất vọng trong lòng độc giả. Ai cũng biết rằng nhiều độc giả đã viết thư cho Sholokhov yêu cầu tiểu thuyết phải có phần tiếp theo. Kết thúc của tập IV (hay đúng hơn, toàn bộ phần truyện mà nhân vật chính, Grigory Melekhov, một đại diện của cộng đồng Cossack kiên cường, một người tài năng và đầy nhiệt huyết, lại sa vào con đường cướp bóc) đã làm tổn hại cả tính cách hỗn loạn của Grigory Melekhov và toàn bộ thế giới nhân vật do Sholokhov tạo ra – một thế giới mà người ta khao khát được sống cùng – bởi nó độc đáo và chân thực đến mức nào, tràn đầy những đam mê sâu sắc của con người.

Liệu cái kết này của Sông Đông êm đềm là có chủ ý hay là một sai lầm? Tôi nghĩ đó là một sai lầm. Hơn nữa, sai lầm chỉ xảy ra nếu Sông Đông êm đềm kết thúc ở tập IV này... Nhưng dường như đối với chúng ta thì điều này tự nhiên nẩy sinh yêu cầu tác giả phải tiếp tục câu chuyện về Grigory Melekhov.

Tại sao Sholokhov lại kết thúc tập IV như thế? Thật khó, thậm chí có thể là không thể, để kết thúc câu chuyện nghệ thuật này trong khuôn khổ đã được tác giả thiết lập, trong đó nó đã diễn ra xuyên suốt bốn tập. Grigory Melekhov đã có một lối thoát khác. Nhưng nếu Sholokhov dẫn dắt nhân vật này theo con đường khác ấy, thông qua Trung đoàn Kỵ binh số Một, để đến sự tái sinh và thanh tẩy khỏi mọi ô uế, thì bố cục của tiểu thuyết, cấu trúc nội tại của nó, liệu có sẽ sụp đổ. Tiểu thuyết bị giới hạn trong vòng tròn hẹp của quan điểm, cảm xúc và kinh nghiệm của gia đình Cossack thời Cựu Ước của Melekhov và Aksinya. Sholokhov, với tư cách là một nghệ sĩ chân chính, ông không thể thoát khỏi vòng tròn này. Ông phải dẫn dắt nhân vật của mình đến sự hủy diệt không thể tránh khỏi của thế giới nhỏ bé định mệnh ấy đến bước cuối cùng, đến tận hố đen.

Gia đình của Grigory Melekhov đã diệt vong, mọi thứ anh ta sống dựa vào đều bị phá hủy mãi mãi. Nhưng người đọc vẫn có quyền hỏi: điều gì sẽ xảy ra tiếp theo với Grigory?

Grigory không được phép rời bỏ văn học như một tên cướp. Điều này sẽ là bất công với người dân và với cuộc cách mạng. Hàng ngàn bức thư của độc giả đã nói lên điều như thế. Tất cả chúng ta đều yêu cầu như thế. Nhưng, tôi xin nhắc lại, sẽ chỉ là một sai lầm nếu Sông Đông êm đềm kết thúc ở tập IV. Cấu trúc của toàn bộ tiểu thuyết đòi hỏi sự khai mở số phận tiếp theo của Grigory Melekhov.

Không cần phải bàn nhiều về chất lượng nghệ thuật của tiểu thuyết. Nó ở một đỉnh cao mà hầu như không có cuốn sách nào khác của văn chương Xô viết trong 20 năm qua đạt được. Lối kể chuyện và đối thoại sống động, đậm chất Nga, chính xác và mới mẻ, luôn được thể hiện bởi sự quan sát tinh tế và kiến thức sâu sắc về chủ đề. Sholokhov chỉ viết về những gì ông cảm nhận sâu sắc. Người đọc được nhìn thấy mọi chuyện, mọi việc bằng đôi mắt của mình và yêu mến ông bằng cả trái tim.

Liệu tiểu thuyết Sông Đông êm đềm của Sholokhov có thể được bằng thước đo dành cho nghệ thuật cao cấp không? Có, nó có thể. Tiểu thuyết của Sholokhov sẽ sống mãi trong chúng ta và sẽ khơi dậy trong chúng ta những cảm xúc sâu sắc, những suy ngẫm sâu xa, cả những bất đồng với tác giả, cả những cuộc tranh luận; chúng ta sẽ bực tức với tác giả nhưng vẫn yêu mến ông. Đó là sự tồn tại của một tác phẩm nghệ thuật vĩ đại.”

Vào thời điểm đó, theo lời ông Chủ tịch ủy ban xét giải, bộ phận này thiếu sự thống nhất về quan điểm đối với các văn bản được đề xuất: “...ngay trong chính bộ phận này cũng có những thị hiếu khác nhau, những quan điểm khác nhau”. Nhưng thảo luận sâu hơn sẽ cho thấy rằng tiểu thuyết của Sholokhov ngay từ đầu đã thiếu những “đối thủ” thực sự, và cuộc thảo luận của các thành viên Ủy ban về “tác phẩm vô cùng hấp dẫn và lôi cuốn của Wanda Vasilevskaya, tác phẩm đáng kính và được tôn trọng của Sergeyev-Tsensky, và “ tác phẩm dữ dội nhưng được yêu thích của Sholokhov” ban đầu mang đậm tính thiên vị từ phía các chuyên gia.

Mikhail Sholokhov, một “nhà văn tận tâm”, đã chọn cách báo cáo tiến độ viết tiểu thuyết trực tiếp cho lãnh đạo sau những lời nổi tiếng của Stalin về “những sai lầm nghiêm trọng và những phán đoán lầm lạc trắng trợn” trong hai cuốn đầu của Sông Đông êm đềm. Tư liệu xác nhận rằng từ năm 1931 đến năm 1940, nhà văn (thường đi cùng với Molotov, Kaganovich, Yezhov, và ngay từ những năm 1940, cả Beria) đã đến thăm văn phòng của Stalin tại Điện Kremlin 11 lần, và vào ngày 24 tháng 5 năm 1936, ông thậm chí còn đến thăm nhà nghỉ mùa hè của Stalin. (Tài liệu lưu trữ của Stalin (RGASPI, Hồ sơ 558))

Một bức thư của Sholokhov, đề ngày 29 tháng 1 năm 1940, vẫn còn lưu giữ, trong đó ông thông báo với Stalin rằng ông đã mang đoạn cuối cùng của Sông Đông êm đềm đến Moscow từ Veshenskaya và rất muốn “thảo luận về cuốn sách”, không chỉ với “đồng chí Stalin thân mến” (từ “thân mến” chỉ xuất hiện lần đầu trong bức thư thứ tư của Sholokhov, đề ngày 16 tháng 4 năm 1933), mà còn với “Joseph Vissarionovich thân mến”. Cách xưng hô này không chỉ bất thường đối với các bức thư của Sholokhov gửi cho Stalin, mà còn độc đáo trong chính nó: chi tiết này ngay lập tức gây ấn tượng, làm nổi bật thái độ bề trên của người nhận thư đối với “người được ông ta yêu thích nhất” (Yu. B. Lukin). Câu hỏi về điều gì đã thúc đẩy sự ưu ái của Stalin đối với tác giả trẻ tuổi, người mà ông gọi là “nhà văn nổi tiếng của thời đại chúng ta”, rõ ràng không chỉ giới hạn ở những cân nhắc thuần túy thực dụng, mà còn dẫn chúng ta đến một phân tích về các hành vi của nhà độc tài, tuy nhiên, điều này nằm ngoài chủ đề đã chọn. Trong khi đó, không có nghi ngờ gì rằng sự ưu ái đó thực sự tồn tại. Ngay cả trước khi những chương cuối cùng của tập IV Sông Đông êm đềm được xuất bản trên tờ Thế giới Mới vào ngày 30 tháng 12 năm 1939.A. Gladkov đã ghi lại một sự kiện kỳ lạ trong nhật ký của mình:

“Các tờ báo gần đây đưa tin rằng Eisenstein sẽ dàn dựng vở opera Die Walküre của Wagner tại Nhà hát Bolshoi. Đây là vở opera yêu thích của Hitler, và mọi người đều hiểu rằng đây cũng là một cử chỉ lịch sự đối với người bạn mới của ông ta.

Cũng trong một ghi chép ngày 18 tháng 2 năm 1940, Gladkov đã nói ấn tượng của mình về một buổi phát thanh vở opera của Wagner do Nhà hát Bolshoi trình diễn, một phần lặp lại ghi chú đã trích dẫn ở trên:

“S.M. Eisenstein đã đọc lời khai mạc bằng tiếng Đức. […] Ông ấy dự định sẽ dàn dựng Die Walküre tại Nhà hát Bolshoi vào mùa tới. Do đó tất cả điều này là những thủ đoạn chính trị. Ở Berlin, họ đã dàn dựng Ivan Susanin và cho xuất bản tiểu thuyết Sông Đông êm đềm.

Rõ ràng, là sự “lịch sự chính trị” của hai bên với nhau như vậy nói lên rất nhiều điều về ý định cá nhân của Stalin, và đặc biệt là thái độ của ông đối với tác phẩm của Sholokhov và với chính nhà văn. Nhiều năm sau (mùa hè năm 1963), Svetlana Alliluyeva – con gái của Stalin – trong cuốn hồi ký “tự thú” mang tên Hai mươi lá thư gửi một người bạn, khi nhớ lại chuyến thăm cuối cùng đến biệt thự Blizhnyaya của cha mình ở Kuntsevo, bà đã chỉ ra một chi tiết kỳ lạ về cuộc sống thường nhật của Stalin:

“Cả một phòng lớn trưng bày tranh vẽ (bản sao, không phải bản gốc) của họa sĩ Yar-Kravchenko, miêu tả các nhà văn Liên Xô: Gorky, Sholokhov, và tôi không nhớ ai khác nữa. Cũng được treo ở đó, đóng khung và đặt dưới lớp kính, là bản sao bức tranh Lời đáp của người Cossack Zaporozhian gửi Sultan của Repin – cha tôi rất yêu thích tác phẩm này [...]. Tất cả những điều đó hoàn toàn xa lạ và kỳ quặc với tôi – nói chung là cha tôi chưa bao giờ thích tranh vẽ hay ảnh chụp”

Chúng ta chỉ có thể suy đoán những bức chân dung nào đã tạo nên “điện thờ” văn học thời Stalin này, nhưng chúng ta có một số cơ sở để đưa ra những giả thuyết cụ thể hơn về các tác phẩm đồ họa mà Alliluyeva đã xem. A.N. Yan-Kravchenko đã nhận được Giải thưởng Stalin hạng hai năm 1948 cho bức tranh Gorky đọc truyện cổ tích Cô gái và cái chết của mình cho các đồng chí I. V. Stalin, V. M. Molotov và K. E. Voroshilov nghe” (ngày 11 tháng 10 năm 1931). và cả chân dung của M. Gorky, D. Bedny, Dzhambul Dzhabayev, I. Barbarus (Vares), và S. Neris. Đồng thời, bất kỳ bức tranh nào khác từ loạt tranh lớn của Yan-Kravchenko cũng có thể đã không được treo trên tường tại khu nhà nghỉ Blizhnyaya chân dung một số nhà văn Xô viết khác từ bộ sưu tầm của ông họa sỹ này. Thể giả định rằng trong số “những người ấy”, không có chân dung của A. Fadeyev. Kết luận này nảy sinh vì vào thời điểm khi Alliluyeva đang viết luận án và cô ta khó có thể nhớ được, trong số các bản sao mà bà đã xem, chân dung của “những người hùng” của mình, như M. Gorky, M. Sholokhov, V. Azhayev và G. Nikolaeva, một chương riêng trong tác phẩm của bà sẽ đề cập tới.

Việc xuất bản cuốn cuối cùng của tác phẩm Sông Đông êm đềm trong số kép của tạp chí Thế giới Mới tháng 2-3 năm 1940 đã gây ra một cuộc tranh luận sôi nổi trên báo chí trung ương (chủ yếu là các báo Văn học và Sự thật), chủ yều là cuộc thảo luận về cuốn tiểu thuyết của Ủy ban Giải thưởng Stalin. Điều đáng chú ý là trước đó, việc phê bình cuốn tiểu thuyết hầu như không xuất hiện trên báo chí: không cuốn nào trong số các cuốn trước đó của Sông Đông êm đềm được đón nhận nồng nhiệt như cuốn cuối. Hầu hết các nhà phê bình đều lo ngại về cái kết bi thảm của cuốn tiểu thuyết, một vấn đề đã được nêu ra ngay trong những bài phê bình đầu tiên về cuốn tiểu thuyết này. Cuộc tranh luận lên đến đỉnh điểm vào những tháng hè năm 1940. Sự khởi đầu của nhiều cuộc tranh cãi là bài báo của biên tập viên Yu. Lukin – một biên tập viên của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – với tiêu đề Một hiện tượng quan trọng trong văn học đăng trên báo Văn học (số 29 (880)) ngày 26 tháng 5. Bài báo này mang tính thiên vị như dự đoán: Sông Đông êm đềm được cho là một “tác phẩm kinh điển Xô Viết,” và cái đoạn kết của tiểu thuyết được hiểu là như một kết thúc hoàn toàn hợp lý (cái chết của Melekhov được liên hệ trực tiếp với điều mà Ermilov sau này mô tả là “bội giáo”). Không chỉ các nhà phê bình, các học giả văn học (I. Grinberg, V. Hoffenshefer, P. Gromov, V. Ermilov, N. Zhdanov, V. Kirpotin, L. Levin, I. Lezhnev, A. Leites, M. Charny, V. Shcherbina) mà cả các nhà văn (A. Bek, B. Yemelyanov, V. Kataev, A. Novikov-Priboy, A. Serafimovich, A. Fadeev, V. Shishkov, và những người khác) cũng tham gia thảo luận về tiểu thuyết này. Dường như phần kết của cuộc thảo luận có liên quan cụ thể đến việc đề cử tác phẩm Sông Đông êm đềm cho Giải thưởng Stalin.

Hãy quay lại với biên bản cuộc họp. A. Fadeyev, người phát biểu sau A. Tolstoy, nhận xét rằng tiểu thuyết của Sholokhov “xuất sắc vượt trội”, điều mà theo ông là không thể nghi ngờ (“...bất cứ ai đọc nó cũng sẽ nói: “Đây là một tác phẩm khó tìm được sánh bằng”). Nhưng nhà văn này bày cũng tỏ sự thất vọng với cái kết của cuốn tiểu thuyết, cảm thấy bị xúc phạm “theo nghĩa tốt nhất của cảm xúc Xô Viết”. (Nemirovich-Danchenko sau này sẽ so sánh kết thúc của Sông Đông êm đềm với kết thúc của Anna Karenina, do đó đặt Fadeyev vào một vị trí khá kỳ lạ). Một loạt các phán xét hời hợt, mang động cơ ý thức hệ, lên đến đỉnh điểm trong kết luận của Fadeyev về “sự hiểu biết chính trị” không đầy đủ của tiểu thuyết Sholokhov khi tranh giải nhất, điều này không làm sáng tỏ cuộc thảo luận tổng thể.

“Người nghệ sỹ hiểu rõ môi trường, cuộc sống và phong tục của người Cossack, và đã miêu tả một giai đoạn nhất định trong sự phát triển của người Cossack (sửa chữa bằng tay. - D.Ts.), sự diệt vong của phe phản cách mạng. Sự diệt vong hoàn toàn là điều hiển nhiên. Vì mục đích gì và tại sao lại dẫn tới sự diệt vong đó – điều này còn thiếu. Giống như bất kỳ tài năng thực thụ nào, Sholokhov tạo nên nhiều bức tranh chân thực. [...] Có rất nhiều sự thật khách quan trong những bức tranh về các trận chiến, các cuộc giao tranh, trong cảm xúc, trong những đam mê, trong những xung đột của thời kỳ ấy. Đó là lý do tại sao mọi người yêu thích tác phẩm này và nâng nó lên tầm cao như vậy. Nhưng cuối cùng, cuốn tiểu thuyết lẽ ra phải làm rõ ý tưởng, nhưng Sholokhov lại khiến người đọc bối rối. Và điều này đặt chúng ta vào một vị trí khó khăn khi đánh giá nó. Ý kiến cá nhân của tôi là nó không thể hiện (viết tay – D. Ts.) chiến thắng của sự nghiệp Stalin, và điều này khiến tôi do dự trong sự lựa chọn của mình.

Fadeyev sau đó nói rất ít về hai cuốn tiểu thuyết còn lại. Ông ta, gần như lặp lại nguyên văn lời của Stalin, gọi Vasilevskaya là một “nghệ sĩ trung thực” với “lòng cảm thông sâu sắc đối với những người bị áp bức”, và mô tả cuốn tiểu thuyết Ngọn lửa trên đầm lầy là một cuốn sách “cần thiết cho đất nước chúng ta” (trong khi đó, nhà văn cũng có “nhiều phản đối ở cấp độ nghệ thuật thuần túy”). Fadeyev gọi tác phẩm Đường Sevastopol của Sergeyev-Tsensky là một “tác phẩm vĩ đại”, nhưng sau đó lại đưa ra một nhận xét tiết lộ nhiều điều về quan điểm của người đoạt giải tương lai về chính ý tưởng Giải thưởng Stalin:

“Khi nói đến Giải thưởng Stalin, bạn không muốn trao nó cho một tác phẩm như vậy, bởi vì khi đó nó sẽ phải đóng vai trò là tấm gương cho các nghệ sĩ khác. [...] Tôi nghĩ sẽ là sai lầm nếu trao giải nhất cho một tác phẩm lịch sử”.

“Cuộc thảo luận” của các thành viên Ủy ban về các ứng cử viên đã quay trở lại với cuộc tranh luận học thuật đã được thảo luận kỹ lưỡng trước đó về giá trị và thiếu sót nghệ thuật của tiểu thuyết Sholokhov, vốn trở thành một loại “thước đo” trong đánh giá của những người tham gia. Ví dụ, A. Korneichuk tin rằng Giải thưởng Stalin nên được trao cho Sholokhov, vì nó “có thể truyền cảm hứng cho một nghệ sĩ”; về Vasilevskaya, ông nói rằng “bà ta chắc chắn là một bậc thầy nhưng kém hơn Sholokhov”. Nhà văn này cũng không thể hình thành một ấn tượng mạch lạc về tác phẩm Đường Sevastopol.

Một nhận xét gây tranh cãi của A. Dovzhenko, người vào thời điểm đó đang bị Bộ Nội vụ giám sát chặt chẽ, đã làm thay đổi giọng điệu của cuộc thảo luận. Nhà văn này chỉ trích cuốn tiểu thuyết Sông Đông êm đềm, vì nó để lại cho ông ấn tượng không tốt và cảm giác bất mãn sâu sắc”. Trong đánh giá của mình về cuốn tiểu thuyết này, Dovzhenko đã đề cập rõ ràng đến bối cảnh tranh cãi cuối những năm 1920, gần như lặp lại nguyên văn các luận điểm của các bài phê bình xuất hiện vào thời điểm đó, tỏ ra hoài nghi về “tác giả” quá trẻ. Theo thành viên ủy ban này, “sai lầm” của Sholokhov là “những khía cạnh sáng tạo, tích cực của sử thi, kẻ thù của kẻ thù, được đồng chí Stalin nhắc đến, đã không được thể hiện trong tiểu thuyết. Chúng không được dành đủ không gian cần thiết, cũng như không được thực hiện với chất lượng cần thiết.” Dovzhenko làm rõ thêm ý tưởng này khi nói: “Tác phẩm không đóng góp cho bất cứ điều gì gắn liền với tên tuổi của đồng chí Stalin và các chính sách của đồng chí lãnh tụ”. Nếu cố gắng khái quát hóa những lời phàn nàn này, thì theo đánh giá của Dovzhenko, tiểu thuyết của Sholokhov dường như là một tác phẩm chống Liên Xô (!), đi chệch hướng rất xa (hoặc thậm chí là đi chệch hướng) khỏi “đường lối của đảng trong nghệ thuật”. Dovzhenko cho rằng ưu điểm chính tác phẩm của Vasilevskaya là nó được “viết bởi một phụ nữ Ba Lan, con gái của một bộ trưởng tư sản Ba Lan”, người đã tự mình “phá vỡ sự trì trệ của những người xung quanh và nói lên nhiều điều như trong cuốn sách này”.

Sau đó là những nhận xét dài dòng của A. Gurvich, trong đó ông cố gắng tìm hiểu lý do của những bất đồng trong viêc đánh giá cuốn Sông Đông êm đềm. Ông đã nói một vài lời về hai cuốn tiểu thuyết của Vasilevskaya và Sergeev-Tsensky phù hợp với bối cảnh đánh giá đã được thiết lập từ trước của các thành viên khác trong Ủy ban. N. Aseyev, cố gắng cụ thể hóa hơn bản chất của những lời chỉ trích đối với tiểu thuyết, đã mô tả luận điểm phản bác chính như sau: “...một tác phẩm văn học xuất sắc vẫn có thể gây hại về mặt tư tưởng”. Nhưng, mỗi người phát biểu tại cuộc họp về tác phẩm của Sholokhov đều bày tỏ ý định bỏ phiếu cho tiểu thuyết, điều này đã gây ra một cuộc tranh luận sôi nổi. Aseyev nghiêng về hai tác phẩm của Vasilevskaya và Sergeev-Tsensky nhưng không mấy thuyết phục. Cuộc thảo luận kết thúc bằng lời của A. Tolstoy, được nói ra như thể bổ sung cho ý kiến ông đã đọc; khi nhà văn này lưu ý sai lầm “nằm ngay từ đầu, trong thiết kế, trong cấu trúc của tiểu thuyết” trong đó cuộc cách mạng như bị thu hẹp thành “số phận của một gia đình,” nhưng A. Tolstoi lại kết luận nột cách chắc chắn: “Tôi sẽ bỏ phiếu cho Sholokhov”.

Trong phần thơ ca, ban văn học của Ủy ban ban đầu nêu ra năm ứng cử viên: Mayakovsky, sự khởi đầu của N.N. Aseev, Vụ thu hoạch nho của M.F. Ryl'sky, Trường ca về Stalin (còn được biết đến với tên gọi Tuổi thơ của nhà lãnh đạo, Stalin. Tuổi thơ và tuổi thiếu niên) của G. N. Leonidze, Chim sơn ca của A. S. Malyshko, và Những bài thơ của S. P. Shchipachev. Cuộc thảo luận chính trong Ủy ban chỉ xoay quanh hai tác phẩm trong danh sách được đề cử: tác phẩm của Aseev “về chủ đề Mayakovsky” và “tác phẩm lớn đầu tiên về Stalin” của Leonidze, được chọn làm tài liệu học tập tại các trường trung học ở Gruzia. Cuộc thảo luận về các ứng cử viên của Rylsky và Malyshko chỉ giới hạn ở việc đọc bài phê bình bài thơ Vụ thu hoạch nho của K. Chukovsky và nhận xét của Aseev về “gu thẩm mỹ tuyệt đối” vốn có trong nhà thơ Ukraina, người mà ông “sẽ đặt [...] bên cạnh mình mà không cần sự khuyến khích mang tính bề trên”. Nemirovich-Danchenko nhận xét về điều này: “Tôi có ấn tượng rằng Malyshko và Rylsky là những nhà thơ xuất sắc, nhưng họ kém hơn Leonidze và Aseyev. Nhưng Leonidze kém hơn Aseyev, hay Aseyev kém hơn Leonidze – tôi không biết”. Mặc dù Yanka Kupala khẳng định rằng “chủ đề tự nó đã nói lên giá trị của Leonidze”, mặc dù A. Tolstoy, chủ nhiệm Tiểu ban văn học, đã đích thân viết bài phê bình về bài thơ của Aseyev, qua đó thể hiện rõ sự ưu ái của ông đối với vị trí ứng cử viên nhà thơ này. Ngoài việc mô tả mục đích của bài thơ (xem: “Mục đích của bài thơ là tái hiện thế giới nội tâm của Mayakovsky trẻ tuổi, người bước vào văn chương một cách ồn ào, mạnh mẽ và không khoan nhượng, để vươn lên tầm vóc của một nhà thơ cách mạng vĩ đại”), A.Tolstoy cũng lưu ý đến sự đổi mới về hình thức trong bài thơ của Aseyev, bài thơ “tái hiện Mayakovsky trẻ tuổi không phải như một bức chân dung đẹp đẽ trên nền bối cảnh thời đại, mà từ bên trong, như một sự tiết lộ về thế giới nội tâm của ông ấy “. A. Tolstoy đã đáp lại một cách dè dặt nhận xét của Nemirovich-Danchenko (dưới dạng một câu hỏi) về sự “bắt chước” nhất định của Aseyev: “Không, đó là giọng văn của anh ấy (Aseyev. - D.Ts.).” (B. Pasternak, với tất cả sự ác ý đặc trưng của mình, đã viết về “giọng văn” này của Aseyev trong một bức thư gửi A. Fadeyev vào tháng 6 năm 1943). Fadeyev cũng nói về văn bản của Aseyev, lưu ý đến sự “không đồng đều” trong “dòng chảy thơ ca” của nó. Đánh giá của Leonidze về bài thơ tóm gọn lại thành một nhận xét về sự không hoàn hảo trong bản dịch của Tikhonov, vốn không truyền tải được chiều sâu trong sự thấu hiểu thơ ca của tác giả về văn hóa dân gian Gruzia. Đánh giá của Gurvich về chất lượng nghệ thuật của tác phẩm của Aseyev thấp hơn đáng kể: “...khi bạn nhìn vào toàn bộ bài thơ, vào bức tranh tổng thể về cuộc sống mà nó miêu tả, ấn tượng bị giảm đi rõ rệt”; và “ý tưởng chính của bài thơ (D. T.) là sự bác bỏ cái cũ, chứ không phải sự khẳng định cái mới”. Bài phê bình của ông, đề cập đến cả khía cạnh hình thức và nội dung của tập thơ này. Tác phẩm chứa đầy những trích dẫn dài và về dung lượng (12 tờ đánh máy) lớn hơn nhiều lần so với bài phê bình của A.Tolstoy (1,5 tờ đánh máy). Phong cách phê bình tỉ mỉ và lập luận chặt chẽ, đặc trưng cho những nhận định báo chí của Gurvich về “những thành công mới của văn học Xô Viết”, sẽ dẫn đến những hậu quả hoàn toàn tất yếu: ngay từ năm 1943, nhà phê bình đã bị loại khỏi Ủy ban Giải thưởng Stalin, và năm 1949 trong bài xã luận của báo Sự thật Về một nhóm phê bình sân khấu phản quốc, cùng với A. M. Borshagovsky, G. N. Boyadzhiev, Ya. L. Varshavsky, L. A. Malyugin, E. M. Kholodov và I. I. Yuzovsky (sau này I. L. Altman cũng được thêm vào danh sách) bị cáo buộc không chỉ có khuynh hướng “chủ nghĩa hình thức thẩm mỹ” – “vỏ bọc cho bản chất phản quốc” – mà còn bị cáo buộc thực hiện “âm mưu độc ác nhằm đối lập kịch Xô Viết với các tác phẩm kinh điển, làm mất uy tín kịch Xô Viết,” và “vu khống công dân Liên Xô.” Tuy nhiên, vào năm 1940, quyền lực của Gurvich vẫn chưa bị lung lay nghiêm trọng; ông vẫn được phép vận động hành lang, và ông đã tích cực tận dụng điều đó.

Phiên họp toàn thể kéo dài của Ủy ban xét tặng giải thưởng đã kết thúc mà không có bất kỳ kết quả tạm thời nào cho các tác phẩm được ứng cử viên.

Tô Hoàng chuyển ngữ theo sách báo Nga