Phùng Khắc Khoan
Đặng Văn Sinh dịch
時蓋己酉二十二歲也
天機往復妙難言
節到今朝又上元
夏曆初頒新歲月
春光頓改舊乾坤
好將綠蟻酬華旦
學剪金雞帖上門
最愛東風曾識面
早傳春信到花根
Phiên âm:
NGUYÊN NHẬT
(Thời cái Kỷ dậu, nhị thập nhị tuế dã)
Thiên cơ vãng phục diệu nan ngôn,
Tiết đáo kim triêu hựu thượng nguyên.
Hạ lịch sơ ban tân tuế nguyệt,
Xuân quang đốn cải cựu càn khôn.
Hảo tương lục nghị thù hoa đán,
Học tiễn kim kê thiếp thượng môn.
Tối ái đông phong tằng thức diện,
Tảo truyền xuân tín đáo hoa côn (căn).
Dịch nghĩa:
MỒNG MỘT TẾT
(Bấy giờ là năm Kỷ Dậu [1549],tôi 22 tuổi)
Máy trời vần xoay qua lại thật là kỳ diệu khó nói,
Tết đến sớm nay lại là ngày đầu năm.
Lịch nhà Hạ mới ban ra năm tháng mới,
Quang cảnh xuân liền đổi cả trời đất cũ.
Nên đem rượu tăm ra uống ngày đầu năm,
Học cách cắt gà vàng, dán trên cửa sổ[1].
Gió đông rất đáng yêu ta từng biết mặt,
Nó đã sớm truyền tin xuân về đến rễ hoa rồi.
Dịch thơ:
Cơ trời sắp đặt thật thông huyền
Tết sớm bây giờ đã thượng nguyên
Lịch cũ vừa sang năm tháng mới
Cảnh xuân phút chốc đổi càn khôn
Rượu tăm nên rót mừng nguyên đán
Học cắt gà vàng dán trước tường
Rất thích gió đông ta mới gặp
Sớm đưa tin trước báo xuân sang.
除夕書懷
待春坐對小書齋
終夜挑燈約共來
鬼去何勞催爆竹
神清獨自好觀梅
人心直與天心合
歲事何嫌世事催
冬去春來風景好
百花從此向陽開
Phiên âm:
TRỪ TỊCH THƯ HOÀI
Đãi xuân tọa đối tiểu thư trai,
Chung dạ khiêu đăng ước cộng lai.
Quỷ khứ hà lao thôi bộc trúc,
Thần thanh độc tự hiếu quan mai.
Nhân tâm trực dữ thiên tâm hợp,
Tuế sự hà hiềm thế sự thôi.
Đông khứ xuân lai phong cảnh hảo,
Bách hoa tòng thử hướng dương khai.
Dịch nghĩa:
ĐÊM BA MƯƠI TẾT VIẾT BÀY TỎ NỖI LÒNG
Ngồi trong phòng sách nhỏ đợi xuân về,
Suốt đêm khêu ngọn đèn luôn để hẹn xuân cùng lại.
Ma quỷ khắc sẽ đi, chả phải phiền đốt pháo đuổi,
Tinh thần thanh sảng, một mình vui xem hoa mai,
Lòng người thẳng ngay đã hòa hợp với thiên tâm,
Việc trong năm quản gì việc đời thúc bách.
Đông qua xuân lại phong cảnh tốt đẹp,
Trăm thứ hoa cũng theo đó mà nở tràn.
Dịch thơ:
Một mình lặng lẽ phòng văn
Khêu đèn ngồi đợi tin xuân đang về
Chẳng đốt pháo, quỷ cũng đi
Tinh thần sảng khoái cần gì hoa mai
Lòng người hòa hợp ý trời
Việc nhà chẳng quản sự đời gian nan
Đông qua xuân lại tuần hoàn
Trăm hoa đua sắc nở tràn khắp nơi.
夢覺偶成
長宵臥對小齋東
夢到君門第九重
面對龍顏纔密邇
親承天語好雍容
到頭頓與凡塵敻
拭目頻添喜氣濃
來日青雲如得路
定知天意已先從
Phiên âm:
MỘNG GIÁC NGẪU THÀNH
Trường tiêu ngọa đối tiểu trai đông,
Mộng đáo quân môn đệ cửu trùng.
Diện đối long nhan tài mật nhĩ,
Thân thừa thiên ngữ hảo ung dung.
Đáo đầu đốn dữ phàm trần quýnh,
Thức mục tần thiêm hỷ khí nùng.
Lai nhật thanh vân như đắc lộ,
Định tri thiên ý dĩ tiên tùng.
Dịch nghĩa:
TỈNH MỘNG BẤT CHỢT THÀNH THƠ
Đêm dài nằm quay mặt về phía đông ngôi nhà học nhỏ,
Chiêm bao đi tới lần cửa thứ chín trong cung vua[2].
Được đối diện với long nhan, thật là sát gần,
Thân tiếp lời vua thật là ung dung.
Quay đầu nhìn lại, thấy rõ là xa cách phàm trần,
Giụi mắt trông lên khí vui thêm nồng nàn.
Sau này đường mây nếu như được nhẹ bước[3],
Thật biết rõ ý trời đã sớm định theo lòng người.
Dịch thơ:
Đêm dài ngoảnh mặt trái nhà đông
Mộng đến hoàng cung gặp cửu trùng
Lặng ngắm long nhan gần sát mặt
Tiếp lời thiên tử thật ung dung
Ngoảnh đầu nhìn lại phàm trần cách
Dụi mắt trông lên thụy khí nồng
Ngày khác đường mây ta nhẹ bước
Mới hay trời đất cũng chiều lòng.
元 日
時蓋辛亥之二十四歲也
人嫌歲月去如流
我喜年芳與我俱
暖日迎來好時節
春風送入美屠蘇
不妨飛箭催光影
更把新桃換舊符
惟有梅花心結友
年年占榜似吾儒
Phiên âm:
NGUYÊN NHẬT
(Thời cái Tân Hợi chi nhị thập tứ tuế dã)
Nhân hiềm tuế nguyệt khứ như lưu,
Ngã hỷ niên phương dữ ngã câu.
Noãn nhật nghênh lai hảo thời tiết,
Xuân phong tống nhập mỹ đồ tô.
Bất phương phi tiễn thôi quang ảnh,
Cánh bả tân đào hoán cựu phù.
Duy hữu mai hoa tâm kết hữu,
Niên niên chiếm bảng tự ngô nho.
Dịch nghĩa:
NGÀY ĐẦU NĂM
(Bấy giờ là năm Tân Hợi [1551], tôi 24 tuổi)
Người ta buồn bực vì nỗi năm tháng trôi qua như nước chảy,
Ta thì vui mừng tuổi xuân xanh[4] cùng song hành với ta.
Khí trời ấm áp đưa tiết tốt đến,
Gió xuân đưa dồn vào chén rượu đồ tô[5] ngon.
Chả ngại gì ánh xuân quang trôi đi nhanh như tên bay,
Hãy cứ đem gỗ đào mới thay cho bùa đào[6] cũ.
Chỉ có hoa mai đáng kết bạn đồng tâm với ta,
Năm nào cũng nở đầu tiên giống như nhà Nho ta thi đỗ đầu vậy.
Dịch thơ:
Tháng năm trôi khiến người buồn
Ta vui vì tuổi xanh luôn bên mình
Trời ấm áp, khí tốt sinh
Đồ tô một chén mượn tình gió say
Ánh xuân chẳng ngại tên bay
Hãy đem bùa mới mà thay gỗ đào
Hoa mai kết bạn thanh cao
Giống như năm nào ta đỗ thủ khoa.
行年
時蓋甲戌之四十七歲也. 受禮科給事中
年已四旬今又七,
所求道四未能一.
中随 時在且安常,
學與年俱惟務實.
拭自重有元旦春,
回頭近見長安日.
早來樹樹好花開,
金玉滿 庭相甲乙.
Phiên âm:
HÀNH NIÊN
Thời cái Giáp Tuất chi tứ thập thất tuế dã.
Thụ lễ khoa cấp sự trung.
Niên dĩ tứ tuần kim hựu thất,
Sở cầu đạo tứ vị năng nhất.
Trung tùy thời tại thả an thường,
Học dữ niên câu duy vụ thực.
Thức tự trọng hữu nguyên đán xuân,
Hồi đầu cận kiến trường an nhật.
Tảo lai thụ thụ hảo hoa khai,
Kim ngọc[7] mãn đình tương giáp ất.
Dịch nghĩa:
NĂM TRẢI QUA
Bấy giờ là năm giáp Tuất, ta bốn mươi bảy tuổi,
nhận chức quan Cấp Sự trung Lễ Khoa.
Năm nay ta bốn mươi bảy tuổi,
Kỳ vọng sẽ thấu hiểu tứ đạo, nhưng bản lĩnh chưa đạt được.
Sống giữ yên khuôn phép thường tùy vào thời cơ,
Sức học cùng với sức làm ngày một tiến bộ.
Làm cho mình trong sạch, coi trọng việc đón ngày xuân đầu năm,
Mong được thấy những ngày bình yên như thuở ban đầu.
Sáng sớm tới cây cối đều nở hoa đẹp,
Hoa nở đầy sân là điều đáng quý như châu báu, bắt đầu năm Giáp Ất.
Dịch thơ:
NĂM TRẢI QUA
Trải đời đã bốn bảy năm
Tứ đạo muốn hiểu, kiến văn chưa tường
Noi theo khuôn phép lẽ thường
Việc làm, sự học hiển dương từng ngày
Giữ trong sạch, sớm xuân nay
Nhớ sao năm tháng trước đây an lành
Sáng ra hoa nở đầy cành
Giáp chuyển sang Ất đã thành tân niên.
[1] Ngày xuân người ta cắt con gà bằng giấy hay bằng lụa để chơi tết mong tránh được điều dữ, mong gặp điều lành.
[2] Lần cửa thứ chín: chỉ nơi vua ở thâm nghiêm, cũng là ý chỉ hoàng quyền, chốn cung đình nói chung.
[3] Đường mây nhẹ bước: chỉ việc đỗ đạt, thỏa ý nguyện công danh bằng con đường khoa cử.
[4] Tuổi xuân xanh: dịch chữ “niên phương”. “Niên phương” hay“niên hoa” đều chỉ khoảng thời gian tươi sáng tốt đẹp. Ở đây chỉ tuổi xuân của con người.
[5] Chén rượu đồ tô: chỉ thứ rượu dùng uống trong ngày tết, người lớn trẻ con trong gia đình theo thứ tự mà chúc rượu mừng tuổi nhau.
[6] Bùa đào: một loại phù hiệu bằng gỗ đào treo ngoài cửa nhà vào dịp tết để trừ ma đuổi quỷ.
[7] Kim ngọc: châu báu, vàng ngọc, được người quý trọng.