Rory O’Sullivan, tiến sĩ triết học cổ điển tại Trinity College de Dublin, https://aeon.co/essays/the-tragic-life-and-principled-politics-of-tran-duc-thao
Dương Thắng chuyển ngữ và đặt lại tiêu đề.
(Cám ơn bạn Arlette Quỳnh-Anh Trần đã nhiệt tình giới thiệu cho tôi bài viết này)

TP Hồ Chí Minh, 1995. Ảnh của Hiroji Kubota/Magnum
1. Phải mất năm cuộc trò chuyện “bất hạnh” với Jean-Paul Sartre thì rốt cuộc triết gia Việt Nam Trần Đức Thảo mới quyết định đoạn tuyệt với triết học Pháp. Trong khoảng từ tháng Mười Một 1949 đến tháng Giêng 1950, Thảo và Sartre đã ghi âm và chép lại các cuộc đối thoại của họ về mối quan hệ giữa chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa hiện sinh, một trào lưu “triết học mới” với ý định sẽ xuất bản những tranh luận này trong một cuốn sách. Sartre hy vọng sẽ chứng minh được rằng chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa hiện sinh – mà ông là gương mặt đại diện chủ yếu – là nhất quán với nhau: đó là những dự án có thể dung hòa được. Tuy nhiên, sự trao đổi quan điểm giữa hai người bị đứt đoạn trước khi chúng được hoàn tất, dưới một chuỗi những lời trách móc qua lại. Thảo vẫn luôn cay đắng về chuyện này, thời gian sau đó khi nhắc lại chuyện này, ông gọi đó là một “chiến dịch ngấm ngầm” trong giới “môn đồ” của Sartre nhằm tô vẽ ông như kẻ phải chịu trách nhiệm chính cho sự thất bại của dự án triết học đó. Cho đến hôm nay, nội dung cụ thể của những cuộc trò chuyện đó vẫn còn chưa tìm lại được.
2. Đối với Thảo, sự bất đồng giữa hai người nằm ở chỗ Sartre đã không thừa nhận tính nghiêm túc về mặt triết học của chủ nghĩa Marx. Đối với Sartre, chủ nghĩa Marx truyền thống đưa ra một chương trình xã hội và chính trị hấp dẫn, nhưng lại thiếu một suy ngẫm thực sự – hay nghiêm túc – về phương diện triết học liên quan đến hữu thể và bản tính con người. Sartre đã phát triển các ý niệm của mình về chủ nghĩa hiện sinh xuất phát từ một tham vọng lớn: cung cấp những nền tảng cho một nền triết học mới của cánh tả trong thế kỷ XX.
3. Vào đầu thập niên 1940, Thảo cũng có một dự án trí tuệ tương tự như vậy. Từ một xứ bảo hộ của Pháp, tức là Việt Nam ngày nay – Thảo đặt chân đến Pháp theo diện nhận học bổng của Toàn quyền Đông Dương để theo đuổi việc học đại học ở Paris. Dưới ảnh hưởng của những người xung quanh, ông tin chắc rằng hiện tượng học – một hệ hình triết học mới do Edmund Husserl đề xướng – hứa hẹn sẽ mang lại những câu trả lời mới mẻ cho các vấn đề cơ bản nhất về thân phận con người. Vào thời điểm ấy, Thảo có một vị trí và một danh tiếng vững vàng trong giới triết học Pháp như là người diễn giải và phê bình quan trọng nhất đối với hệ tư tưởng của Husserl.
4. Đến thập niên 1950, Thảo đã đổi ý. Sau một thập kỷ làm việc nỗ lực để tiếp cận hiện tượng học của Husserl, ông đi đến chỗ tin rằng nó rốt cuộc không đủ khả năng đáp ứng nhiệm vụ hiểu về sự tồn tại con người, bởi nó không thể giải thích thỏa đáng lịch sử và sự phát triển tự nhiên. Thảo cũng bị các biến cố cuốn hút và làm biến đổi con người ông. Đến cuối Thế chiến II, ông là một phát ngôn viên chủ chốt cho nền độc lập của Việt Nam tại Pháp. Sự xích lại gần và ngày càng gắn bó với Việt Minh khiến cho nhãn quan triết học của ông cũng thay đổi rất nhiều. Ông khẳng định rằng chỉ có chủ nghĩa Marx chính thống, với quan niệm duy vật lịch sử của nó, mới có thể cung cấp một trình bày đầy đủ và đã được “giải thiêng” về nguồn gốc của những ý niệm mà con người có được về chính mình và về thế giới.
5. Thảo đi đến chỗ tin rằng các đồng nghiệp của ông – những triết gia Pháp cùng thời – đã chọn một hoàn cảnh tiện nghi cho chính mình và vai trò được ưu ái của họ trong chế độ đế quốc tư sản phương Tây, thay vì chọn cái con đường có giá trị cao hơn hẳn về mặt đạo đức: ủng hộ chủ nghĩa cộng sản cách mạng. Năm 1951, sau khi cuốn sách được ca ngợi nhất của ông – cuốn Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng – được xuất bản, Thảo rời sang Việt Nam. Ông sẽ chỉ trở lại Paris vào năm 1991, tức hai năm trước khi ông qua đời.
6. Những ngày tháng của Thảo ở Việt Nam rất khắc nghiệt: cho dù hiện tại đất nước này đã tôn vinh ông, nhưng khi còn sống ông đã bị nhà nước hắt hủi và để mặc ông xoay xở để tồn tại trong cảnh nghèo túng. Bởi vậy, những công trình quan trọng nhất của Thảo đều được viết ở Pháp trong thập niên 1940. Sức hấp dẫn của chúng không chỉ nằm ở tính độc đáo trong cách ông đi xuyên qua những trào lưu chủ đạo của trường tư tưởng Pháp đương thời, mà còn ở cách ông đáp lại một số xung đột quan trọng nhất của thế kỷ XX: Chiến tranh Lạnh và các phong trào giành độc lập thuộc địa trên toàn thế giới. Kết quả là một chuỗi tác phẩm triết học đã đặt ra những câu hỏi trọng yếu nhất về cách hiểu cái mối quan hệ giữa một bên là cái chúng ta đã và đang là, một bên là “cái” lịch sử cùng “cái” xã hội đã nhào nặn ra chúng ta. Hơn nữa, việc Thảo khước từ sự phân biệt giữa suy tư triết học, quan điểmchính trị và con người cá nhân ở nơi ông đã khiến ông trở thành một trong những nhà nghiên cứu lý thuyết đầu tiên về sự phân cực giữa kẻ bị thực dân hóa và kẻ thực dân hóa.
7. Trần Đức Thảo sinh năm 1917 tại một làng thuộc xứ bảo hộ Bắc Kỳ của Pháp khi ấy, nay là Việt Nam. Nhờ một sự hội tụ của những hoàn cảnh đặc biệt hiếm có, ông nhận được học bổng sang Paris học tại các lycée Louis-le-Grand và Henri IV. Năm 1939, ông được nhận vào Trường Sư phạm Cao cấp (ENS) phố Rue d’Ulm, ngôi trường danh giá nhất của Pháp trong lĩnh vực nhân văn. Vì xuất thân từ một thuộc địa của Pháp và không có địa vị pháp lý của một công dân Pháp, ông bị xếp vào cái gọi là quy chế “số hai” tại ENS. Ông học ở đó trong thời kỳ Thế chiến II: trong số các thầy của ông ở đây có người du kích kháng chiến Jean Cavaillès (bị giết năm 1944) và triết gia Maurice Merleau-Ponty.
8. Khởi đầu là một người theo Spinoza, những cuộc tiếp xúc với các bậc thầy trong môi trường ENS đã dẫn dắt Thảo đến với với triết học hiện tượng học của Edmund Husserl, một sự phát hiện đã hoàn toàn thay đổi cuộc đời ông. Thảo đã dành phần lớn thời gian trong thập niên 1940 để phát triển một cách diễn giải và một lời hồi đáp lại đối với trước tác của Husserl: vừa là các tác phẩm đã xuất bản, vừa là hàng nghìn trang bản thảo và sổ tay chưa công bố đã được bí mật vận chuyển đến nước Bỉ trong thời gian chiến tranh, dưới sự chỉ đạo của một linh mục dòng Phanxicô tên là Herman Van Breda.
9. Husserl (1859-1938) khởi đầu sự nghiệp như một triết gia về toán học, toán học đã được ông lý thuyết hóa như một hệ thống những biểu trưng trừu tượng tương ứng với cách mà thực tại xuất hiện đối với chúng ta trong những tình huống nhất định. Một định lý toán học, nói một cách chặt chẽ, không phải là “đúng” (true): mà đúng hơn, nó là một phát biểu về chân lý (truth), một kiểu “bản đồ chỉ đường” mà ta có thể lần theo để đi tới một tri giác khách quan về điều mà nó mô tả. Thảo phát triển ý niệm này để đi xa hơn trong hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng (1951), nơi ông giải thích rằng “một định lý hình học chỉ có thể là đối tượng của một “trực giác lờ mờ”, hoặc của một “biểu tượng/biểu trưng mù lòa” hay mang tính ký hiệu” (nhấn mạnh trong ngoặc kép là của Thảo). Trong trường hợp thứ nhất, ta chỉ có thể nhớ một cách mơ hồ hoặc hiểu được phần nào điều mà định lý nhắm tới. Trong trường hợp thứ hai, khi ta hiểu nó một cách hoàn hảo, thì “điều hợp lý duy nhất cần làm là đặt nó dưới một phân tích cẩn trọng, trong đó định lý được trình hiện trong sự đầy đủ của chính nó bằng việc thực hiện những thao tác chứng minh chân lý của nó.” Tiền đề về một sự phân chia giữa thực tại cụ thể – cái chỉ có thể được kinh nghiệm – và những biểu tượng/biểu trưng của ta về nó – vốn tất yếu phải được kết tinh/ cô đặc hoặc cấu trúc lại/ tổ chức lại lại chân lý – đã cấu thành ra cái là trực giác cơ bản mà Husserl đã xây dựng toàn bộ hệ thống của mình trên đó.
Bầu trời hiếm khi thực sự xanh, và ý nghĩa của từ “cha” thì khác nhau tùy ta ba hay 53 tuổi
10. Hiện tượng học không được biết đến một cách rộng rãi, chẳng hạn giống như như phân tâm học; nhưng giữa hai trường phái tư tưởng này có nhiều điểm tương đồng. Cả hiện tượng học lẫn phân tâm học đều được hình thành tại cái bước ngoặt quan trọng của thế kỷ XX, và cùng bởi những trí thức Do Thái – Husserl và Sigmund Freud – những trí thức sinh ra và lớn lên trong các gia đình Do Thái đã hội nhập thuộc Đế quốc Áo-Hung. Freud, nhà lâm sàng y học, và Husserl, nhà logic học theo Kant, mỗi người đều tận tụy với các phương pháp truy vấn duy lý. Nhưng cả hiện tượng học lẫn phân tâm học, về căn bản, đều đặt ra những câu hỏi nghi vấn về cái quan niệm Khai sángcho rằng con người (trong trạng thái lý tưởng của mình) và thế giới (như cách mà ta có thể hiểu được chúng) là duy lý. Mỗi bên, theo cách riêng, đều phủ nhận vai trò nền tảng của lý tính như là nguyên tắc của trí tuệ.
11. Chẳng hạn, hãy lấy làm ví dụ một phát biểu thông thường tự nhận là có cơ sở duy lý: “Bầu trời thì xanh”, “Ta là cha của con”, “Hai đường thẳng song song thì không cắt nhau”, v.v. Thay vì tiếp nhận những quan sát như thế theo nghĩa đen, cả Husserl lẫn Freud đều chỉ xem chúng như những hiệu ứng bề mặt. Nói cách khác, cái điều khiến các phát biểu ấy có vẻ “duy lý” chính là ấn tượng sai lầm mà chúng tạo ra: cái ấn tượng như thể chúng đứng tách ra khỏi những thôi thúc và trải nghiệm phàm trần thường nhật của chúng ta. Với Freud, tất cả liên quan đến quá khứ: trong mọi lĩnh vực của đời sống, một cách vô thức, ta lặp lại những kịch tính của những năm tháng đầu đời. Dù ta bịa ra bất cứ sự biện minh hay lời giải thích nào, dù ta kém cỏi đến mức nào để nhận ra điều này, khi hành động, ta vẫn sẽ đi theo “lôgíc của thời thơ ấu”. Còn với Husserl, điều thiết yếu lại là khoảnh khắc hiện tại, là kinh nghiệm. Thoạt đầu, luận điểm của ông có vẻ chỉ hạn chế ở một nhận xét tầm thường rằng ai cũng sẽ nhìn thế giới bằng chính đôi mắt mình. Nhưng chiều sâu lại nằm ở cái nỗ lực của ông: mô tả kinh nghiệm cá nhân bằng những thuật ngữ có tính hệ thống và đưa ra một phê bình đối với sự hiểu biết thường ngày. “Bầu trời hiếm khi thực sự xanh, và ý nghĩa của thuật ngữ “cha” thì khác nhau tùy vào lúc ta là 3 tuổi hay 53 tuổi”.
12. Tất cả những gì trong những lúc cẩu thả, ta có thể (tùy tiện) gọi là các mô tả “khách quan” về những sự vật ấy, đối với nhà hiện tượng học, thực ra chỉ là một lối viết/ nói tắt mà ta dùng để xây dựng một bức tranh chung, nhất quán về thế giới. Điều này sẽ dễ nhận thấy rõ hơn khi nói về một thứ thuộc về cảm xúc, những thứ thường vốn thường khó diễn đạt thành lời. Thế nhưng, hiện tượng học lại dựa trên ý niệm rằng: bất cứ điều gì ta đang nói tới, ta cũng không thể nắm bắt nó một cách trọn vẹn. Ngay cả một cái ghế hay một cái bàn, càng nhìn kỹ, chúng càng bắt đầu bộc lộ những thuộc tính mới: hắt ánh sáng theo những cách không ngờ, để lộ nguồn gốc của mình như gỗ đã được một bàn tay nào đó tạo hình, v.v. Hiện tượng học cho rằng cái cách ta thường hiểu về “chủ quan” và “khách quan” đã làm đảo lộn các thuật ngữ này. Thông thường, ta coi những gì thuộc cá nhân là chủ quan, và tưởng rằng các mô tả chung có tính hệ thống về sự vật thì là khách quan. Nhưng thực tế không phải vậy. Tính khách quan là điều ta tìm thấy ngay trong kinh nghiệm cá nhân của mình khi ta gặp gỡ đối tượng; còn tính chủ quan là sự trừu tượng hóa các thuật ngữ và các liên tưởng mà ta áp đặt lên kinh nghiệm để có thể hiểu nó.
13. Chính cái hệ thống này là điều Thảo đã dành thập niên 1940 để cố gắng diễn giải nó. Năm 1942, ông bảo vệ luận văn tốt nghiệp về Husserl tại ENS ở Paris. Năm 1944, ông sang Louvain (Bỉ) để thu thập một số bản thảo chưa công bố của Husserl và lén đưa chúng trở lại Paris. Sau đó, Thảo cất giữ chúng tại nhà mình trong vài năm, trong khi ông sửa chữa lại luận văn thành một cuốn sách về triết học Husserl. Cũng trong thập niên 1940, Thảo dấn thân ngày càng sâu vào chính trị. Từ giữa thế kỷ XIX, người Pháp đã là kẻ thống trị thuộc địa của vùng đất khi ấy được gọi là Đông Dương, bao gồm Việt Nam, Campuchia và Lào ngày nay. Trong Thế chiến II, người Nhật xâm lược và chiếm đóng vùng này. Khi họ rút đi vào năm 1945, Việt Minh – một lực lượng cách mạng cộng sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo – chớp lấy cơ hội tuyên bố độc lập, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ đó bắt đầu một chuỗi biến cố dẫn tới cuộc chiến tám năm giữa Pháp và Việt Minh. Đến cuối Thế chiến II, Thảo đã là một phát ngôn viên hàng đầu của phong trào độc lập Việt Nam chống thực dân tại Pháp. Khi nhà nước Pháp phản ứng trước phong trào ấy, ông trở thành một mục tiêu được nhắm tới.
14. Vào cuối năm 1945, đúng lúc các lực lượng Pháp dưới quyền tướng Leclerc đổ bộ lên Sài Gòn, Thảo bị bắt và bị giam tại Paris. Vụ bắt bớ đã chia rẽ những đồng hương của ông ở ENS, và nỗ lực ủng hộ ông chống lại nhà nước Pháp đã không dẫn tới một kết quả trọn vẹn nào. Từ trong tù, Thảo viết bài đầu tiên và quan trọng nhất trong một loạt bài về cuộc xung đột ở Đông Dương, đăng tải trên Les Temps modernes, tạp chí trí thức do Sartre, Merleau-Ponty và Simone de Beauvoir sáng lập. Về sau, Thảo mô tả bài này là một ảnh hưởng then chốt đối với Frantz Fanon. Về Đông Dương của Thảo đã đi trước một trong những ý tưởng quan trọng nhất của Fanon: rằng các lý tưởng phổ quát, theo cách ta thường hiểu, là không thích đáng trong các thảo luận giữa kẻ thực dân và kẻ bị thực dân hóa, bởi bị thực dân hóa chính là bị đẩy ra ngoài tầm với phổ quát của phương Tây.
Thảo nêu những ví dụ về cách một từ có thể mang những ý nghĩa gần như đối lập đối với kẻ bị thực dân hóa và kẻ thực dân
15. Về Đông Dương (1946) không chỉ có ý nghĩa lịch sử đơn thuần – Thảo không chỉ lập luận cho nền độc lập cho các thuộc địa, mà còn cố gắng giải thích vì sao cái khoảng cách giữa các viễn tượng của kẻ thống trị thực dân và kẻ bị thực dân thống trị khiến cho việc tranh luận trên những thuật ngữ chung, hoặc việc thấu hiểu quan điểm của phía bên kia, trở thành điều bất khả. Ông nói tới “một sự hiểu lầm triệt để, mà không một lời giải thích nào có thể xua tan được, bởi mọi cách diễn đạt đều được hiểu theo một nghĩa đối lập với nghĩa mà nó được phát ngôn.”
16. Đối với người Pháp, những kẻ được gọi là “Annamites” (tức “người An Nam”, tên gọi mà người Việt ở Đông Dương được biết đến khi ấy, và cũng là cách Thảo gọi họ trong Về Đông Dương) không phải là người Pháp thực sự. Nhưng đồng thời họ cũng không hoàn toàn được tính như một dân tộc tự thân, bởi cộng đồng mà họ từng thuộc về là tiền hiện đại và tiền thuộc địa. Đối với một người Pháp trung thực, “có thiện chí”, “người An Nam” đang cần được hiện đại hóa và được hội nhập đúng đắn vào cộng đồng quốc tế. Dĩ nhiên, người An Nam nhìn tình thế hoàn toàn khác: họ coi mình là thành viên của một dân tộc đã bị chiếm đóng và bị đặt vào thế phục vụ một quyền lực ngoại bang. “Khi một [bên] nói ‘tự do’ hay ‘tiến bộ’”, Thảo viết, “bên kia nghe ‘tự do’ hay ‘tiến bộ-trong-nội-bộ-hệ-thống-Pháp’, theo cái cách mà để Việt Nam được tự do thì trước hết Việt Nam phải vẫn ở trong hệ thống ấy, bằng vũ lực nếu cần.” Các khái niệm tự do và tiến bộ ấy mặc nhiên giả định rằng Việt Nam phải là một xã hội kiểu phương Tây, với các cấu trúc kinh tế và xã hội tương ứng. Chừng nào Việt Nam còn thiếu điều ấy, Việt Nam có thể bị xếp vào loại xã hội kém phát triển và cần tới sự giúp đỡ của phương Tây – mà sự “giúp đỡ” ấy có thể xem là đồng nghĩa với sự kiểm soát của phương Tây. Có thể nói Thảo là người đầu tiên đã lý thuyết hóa việc ngôn ngữ và văn hóa của chủ nghĩa đế quốc phương Tây vận hành dựa trên sự xóa bỏ các dân tộc bị châu Âu thực dân hóa như thế nào.
17. Một ví dụ khác của Thảo về việc cùng một từ có thể mang những ý nghĩa gần như đối lập nhau đối với kẻ bị thực dân hóa và kẻ thực dân, đó là ví dụ xoay quanh từ “phản bội” (trahison), và ông đã mô tả một tình thế như thế đã xảy ra với trải nghiệm của chính ông. Từ viễn tượng của kẻ thực dân người Pháp, ông nói, một trí thức giống như ông, người đột ngột được nhấc khỏi giai cấp bị áp bức để nhận mọi lợi ích và đặc quyền của kẻ mạnh, “giờ đã là một thành viên [của giới tinh hoa], và hễ còn ý định quay trở lại để đứng về phía giai cấp bị bóc lột thì là phạm tội phản bội.” Thế nhưng, cách nhìn này của kẻ thực dân dựa trên việc đã làm ngơ một sự thật: người ấy vốn là, và đã tự coi mình là, công dân của đất nước mình – trong trường hợp này là Việt Nam. Thảo lập luận rằng điều một số trí thức Việt Nam giống như ông đã trải nghiệm, từ chính quan sát của họ, việc kẻ thực dân ban phát một loạt đặc quyền kèm theo một yêu sách trung thành về sau. Nói cách khác, một món hối lộ nhục nhã. Sự chống đối và phản kháng của những kẻ bị thực dân hóa nhưng có đặc quyền, theo ông, không chỉ là điều không thể tránh: đối với họ, đó còn là con đường duy nhất có danh dự, bởi “từ bỏ con người của mình để đổi lấy lợi ích cá nhân chính là định nghĩa của khái niệm phản bội.” Thảo đang khẳng định rằng người Pháp đã nuôi dưỡng một tầng lớp “chỉ điểm bản xứ” hoặc những kẻ trung thành bản xứ.
18. Trong suốt thập niên 1940, những căng thẳng gắn với vị thế của Thảo – như một triết gia Việt Nam đứng ở đỉnh cao của hệ thống Pháp – dường như ngày càng đè nặng lên ông. Gánh nặng ấy bắt đầu nhuộm đen các mối quan hệ của ông với giới trí thức Pháp. Ông vỡ mộng với môi trường triết học Paris, và hoạt động dấn thân đã đưa ông tới một quan điểm Marxist ngày càng triệt để hơn. Năm 1948, ông viết bài Nội dung thực của Hiện tượng học tinh thần, một bài điểm sách phê phán đăng trên Les Temps modernes, nhằm vào cách trình bày (cho đến nay vẫn có ảnh hưởng) của Alexandre Kojève về G. W. F. Hegel.
19. Những bài giảng của Kojève về Hegel khi ấy gây chấn động trong các nhóm hẹp và thân thiết của giới trí thức Paris, và chính Thảo coi bài phê bình này là sự đoạn tuyệt của mình với môi trường triết học Pháp. Về cơ bản, phê phán của Thảo là ở chỗ Kojève đã “huyền bí hóa” quan hệ giữa các khái niệm Tự nhiên và Tinh thần ở Hegel – tức quan hệ giữa một thế giới như một toàn thể và cái ý thức nhân loại nảy sinh trong lòng nó – “huyền bí hóa” theo một cách khiến cánh cửa vẫn có khả năng mở ra cho những diễn giải thần học. Đối với Thảo, phép biện chứng Hegel, khi được Marx tái diễn giải, đã trở thành một phương tiện mạnh mẽ để chứng minh cho thấy tâm trí là sản phẩm của những phương cách mà các sinh thể tương tác với môi trường của chúng. Thảo bảo vệ quan niệm Marxist cho rằng lịch sử nhân loại về cơ bản là lịch sử sản xuất, ông bảo vệ nó bằng cách đặt lại vấn đề trong khuôn khổ của một lý thuyết sinh học rộng hơn: ông khẳng định rằng ý thức và tâm trí phát triển từ sự trung giới giữa cơ thể hữu cơ và môi trường bao quanh. Thảo phác họa một quỹ đạo đi lên của sự tiến hóa và phát triển từ những sinh cảnh nhỏ nhất tới con người, trong đó các mức độ tri giác phức tạp hơn nảy sinh từ những đặc tính sinh học như năng lực tự di chuyển hay năng lực sử dụng công cụ.
20. Năm 1950, hai năm sau bài tiểu luận về Kojève, nổ ra cuộc tranh chấp giữa Thảo và Sartre. Cũng như đối với trường hợp Kojève, Thảo tin rằng bất đồng với Sartre vừa là chính trị vừa là triết học. Từ thập niên 1940 đến thập niên 1980, triết học Pháp cố gắng vạch ra một “con đường thứ ba” giữa Mỹ và Liên Xô, giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa Marx. Nhưng rốt cuộc điều đã xảy ra lại là một quá trình “phi Marx hóa” chậm chạp của giới tinh hoa trí thức Pháp, khi họ dần dần trở thành cái loa cho hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa của Hoa Kỳ. Thảo dường như đã nắm bắt tất cả điều này từ sớm, một phần bởi ông chưa bao giờ tin vào khả năng của một con đường thứ ba.
"Điều khởi đầu như một trình bày về hệ thống của Husserl đã trở thành nỗ lực nhằm chỉ ra và vượt qua những điểm yếu của nó"
21. Nhìn lại thời hậu chiến từ điểm nhìn của thập niên 1980, thời gian sau này Thảo mô tả rằng “cuộc tấn công bất ngờ của Kế hoạch Marshall, cùng với việc thanh trừng các bộ trưởng Cộng sản khỏi các chính phủ Tây Âu” đã đặt ông và những người khác trước một lựa chọn giữa hai khả thể: “Đứng trước sự trỗi dậy của chủ nghĩa đế quốc thực dân, tôi chỉ có thể chọn chủ nghĩa Marx.” Dĩ nhiên, nói như thế hàm ý rằng các đồng nghiệp của ông đã ngầm chọn chủ nghĩa tư bản. Thảo tiến hành cuộc chiến của mình với Sartre trên bình diện triết học: duy tâm hay duy vật? Cá nhân hay tập thể? Những tranh chấp giữa hai người và tranh chấp giữa các ý tưởng của họ đã hội tụ và kết tinh lại trong công trình lớn của Thảo, Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng – một văn bản sửa chữa rất nhiều lần của luận văn năm 1942 – được xuất bản năm 1951.
22. Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng được xem là công trình quan trọng nhất của Thảo, và là bản giới thiệu có ý nghĩa nhất về hệ thống của Husserl đối với cả một thế hệ sinh viên và trí thức Pháp, trong đó có Jacques Derrida, Jean-François Lyotard và Paul Ricoeur. Điều làm cho Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng trở nên quan trọng về mặt triết học là lập luận của Thảo cho rằng hệ thống hiện tượng học rốt cuộc sẽ tự làm suy sụp chính nó. Thảo lập luận rằng muốn vượt qua nghịch lý này về mặt trí tuệ, chúng ta buộc phải từ bỏ hiện tượng học để đi tới một lập trường Marxist chính thống, và ông khẳng định rằng, thay vì kinh nghiệm, sự phát triển tự nhiên và xã hội mới là những nền tảng triết học tốt nhất cho việc hiểu thế giới và bản tính con người. Theo nghĩa ấy, cuốn sách cũng là một bản ghi về chính sự biến đổi chính trị và trí tuệ của tác giả trong thập niên 1940. Điều khởi đầu như một trình bày về hệ thống Husserl đã trở thành một nỗ lực nhằm làm nổi bật và vượt qua những điểm yếu của nó bằng một khung duy vật biện chứng Marxist; nó cho chúng ta cái cảm giác như hai cuốn sách đã được gộp lại thành một.
23. Theo trình bày của Thảo, hệ thống hiện tượng học của Husserl bị khiếm khuyết về căn bản, bởi trong khi tìm cách tránh những trừu tượng hóa trí tuệ, nó lại khuyến nghị quay về “kinh nghiệm” – mà bản thân “kinh nghiệm” cũng là một trừu tượng. Với Thảo: “cái sống trải [vécu] chỉ là một khía cạnh trừu tượng của đời sống thực tại hiện thực”, đời sống ấy bao gồm “vận động thực, nhờ đó tự nhiên trở nên có ý thức về chính mình thông qua tiến hóa sinh học và lịch sử nhân loại.” Nói cách khác, kinh nghiệm không chỉ là một dòng chảy ngẫu nhiên từ đó ta tự tạo ra các ý niệm; nó là sản phẩm của những điều kiện sinh học và lịch sử trong đó ta sống. Husserl cho thấy các khái niệm của con người về thế giới bắt nguồn từ những kinh nghiệm của họ, nhưng những kinh nghiệm ấy cũng bắt nguồn từ đâu đó. Tâm lý học con người, nếu hiểu là việc nghiên cứu cách các cá nhân đi tới các ý niệm về bản thân và thế giới, chỉ là một phân ngành của tiến hóa nhân loại và lịch sử xã hội. Với Thảo, Husserl đã đẩy tới tận cùng lối triết lý hóa theo kiểu Descartes từ điểm nhìn của một ý thức cá nhân. Nhưng sai lầm của Husserl là xem kinh nghiệm thuần túy, vô hình thể như miền tối hậu của khảo sát triết học và cho rằng mọi thứ khác đều được xây dựng chồng chất lên trên đó. Đối với Thảo, điều này có nghĩa rằng, bất chấp bản thân mình, Husserl không thể tránh rơi vào một thứ duy-ngã luận khiến quan điểm cá nhân của mỗi người gần như trở thành trung tâm của vũ trụ.
24. Trong phần thứ hai của Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng, Thảo nhắm tới việc đưa ra một con đường vượt qua cái mà ông đã chỉ ra là duy-ngã luận của Husserl. Vì thế Thảo đề xuất một nền tảng cho một trình bày duy vật đầy đủ về thân phận con người: sự phát triển của loài, quỹ đạo của lịch sử và văn minh, sự hình thành của cá thể con người, và mối liên hệ giữa các “tầng” nhận thức ấy. Trình bày này đi sâu vào tiến hóa của con người và tâm lý học trẻ em. Trong toàn bộ tác phẩm, Thảo chấp nhận và tái hiện quan điểm lịch sử mang tính Tây-phương-trung-tâm, nhân-loại-trung-tâm và mục-đích-luận mà ông thừa hưởng từ châu Âu thế kỷ XIX: dường như mọi sự vận động từ những người nông dân sớm nhất tới Hy Lạp cổ đại, rồi tới Trung cổ, và cuối cùng đi vào chủ nghĩa tư bản. Ở điểm tốt nhất của mình, Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng của Thảo là một nỗ lực nghiêm túc nhằm dấn sâu vào chiều sâu triết học của chủ nghĩa Marx: đó không chỉ là một chương trình xã hội - chính trị, mà là một trình bày đầy tham vọng về hữu thể và bản tính con người. Phải thẳng thắn nói rằng phần thứ hai của Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng kém thành công hơn. Đôi khi nó rơi vào chính thứ duy vật ngây thơ mà Thảo từng cảnh báo mạnh mẽ ở nơi khác, nhìn thế giới thuần túy theo lối cơ giới, thiếu vắng sự kỳ diệu và bản tính của ý thức.
Cuộc đời ông về sau không còn là một quỹ đạo nữa, mà là một chuỗi những bước đi bị dở dang và những cuộc chiến trong thế yếu
25. Sau khi hoàn thành Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng, Thảo rời Pháp về Việt Nam. Phần đời còn lại của ông hóa ra đầy biến động và bi thảm. Năm 1956, vài năm sau khi ông trở về Việt Nam, chế độ cộng sản trở nên khoan dung hơn đối với các tiếng nói bất đồng, trong bối cảnh bài diễn văn bí mật của Nikita Khrushchev, lãnh đạo Liên Xô, tại Moscow. Dần dần hình thành một văn hóa trào phúng và phê phán chế độ trong giới trí thức, nổi tiếng nhất là trong hai tạp chí lần lượt mang tên Nhân Văn và Giai Phẩm (Thảo viết cho tờ thứ hai). Điều mà ngày nay được biết đến khá rõ ràng là việc vụ Nhân Văn - Giai Phẩm đã dẫn tới việc nhà nước cấm đoán các tạp chí ấy và trừng phạt những người có liên quan. Năm 1958, Thảo bị buộc phải tự kiểm điểm công khai, và bị đưa đi “cải tạo” tại một nông trường ở chân núi Ba Vì, gần Hà Nội.
27. Đời sống trí tuệ của Thảo từ đó trở đi không còn là một quỹ đạo thống nhất nữa mà là một chuỗi những bước đi bị dở dang và những cuộc chiến trong thế yếu. Khi cuối cùng ông được cho phép trở lại Pháp năm 1991, ông chỉ còn như một bóng ma. Một người đã từng gặp ông vào thời gian đó kể lại: “Càng nói chuyện nhiều, tôi càng không phân biệt nổi rằng câu chuyện mà chúng tôi đang nói là thực hay là một giấc mơ, một cơn ác mộng.” Thảo mất tại Paris năm 1993, thọ 75 tuổi, để lại hàng nghìn trang bản thảo chưa công bố.
28. Thảo là một nhân vật bi kịch, cả trong triết học lẫn trong đời sống. Công trình của ông về hiện tượng học vẫn là một trong những đánh giá sáng rõ nhất về phạm vi và giới hạn của hệ thống Husserl. Nhưng di sản trí tuệ của ông còn lớn hơn thế nhiều. Bất chấp nền giáo dục và những đặc quyền mà nước Pháp đã ban cho ông, Thảo từ chối phạm bất cứ điều gì giống như một cử chỉ “phản bội” đối với những người Việt Nam mà ông cảm thấy mình thuộc về. Trái lại, ông hiến mình cho sự nghiệp của họ, kể cả trên bình diện ý niệm, nơi những phê phán hậu thuộc địa của ông đối với ngôn ngữ phổ quát luận tự do và phân tích của ông về viễn tượng của kẻ bị thực dân hóa đã ảnh hưởng tới các thế hệ về sau. Sức mạnh lớn nhất của Thảo là ở chỗ ông đã cố gắng kết dính cái triết học, cái chính trị và cái cá nhân, và tổ chức tất cả chúng với một mức độ nhất quán nào đó. Nhưng đó cũng là điểm yếu của ông, và ở mặt tệ nhất, nó khiến ông trở nên giáo điều. Cũng chính vì thế mà ông trở về Việt Nam, ông đã gặp phải những sức mạnh tàn phá đời mình. Cuộc đời và nghiệp của Trần Đức Thảo đặt chúng ta đối diện với vài trong những chủ đề khó nhất: Chúng ta là loài sinh vật gì? Thế giới mà ta thấy mình ở trong đó là gì? Ta nên sống như thế nào? Những câu hỏi ấy hôm nay vẫn cấp bách như vậy, và câu trả lời cũng chẳng dễ tìm hơn.

Bản tự kiểm điểm viết tay của Trần Đức Thảo (lưu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia) – đoạn nói về cuộc tranh luận với Jean-Paul Sartre.