(Thực tế thu hẹp trường mỹ thuật Việt Nam mới đáng “lo ngại” - Từ góc nhìn xã hội học văn hoá)
Nguyên Hưng
Trong môi trường xã hội Việt Nam hiện tại, khi hệ thống bảo tàng tư nhân, đội ngũ curator được đào tạo quốc tế và phê bình mỹ thuật ngày càng chịu sự chi phối hoặc liên minh với tầng lớp tư bản thân hữu bất động sản và tài chính, các thiết chế trung gian vốn có của trường nghệ thuật bị biến đổi sâu sắc. Logic vận hành của chúng không còn chủ yếu dựa trên thị hiếu thẩm mỹ, chiến lược văn hóa dài hạn hay khoảng tự trị tương đối, mà chịu sự chi phối mạnh của logic tích lũy vốn, hợp thức hóa vị thế và chuyển hóa tài sản. Ba lực lượng này – bảo tàng tư nhân, curator và phê bình – tạo thành một mạng lưới thiết chế mềm hoàn thiện vòng kiểm soát trong mô hình ba lớp của trường nghệ thuật Việt Nam: lớp đê (quyền lực nhà nước) vẫn giữ quyền cơ bản, lớp kênh thông luồng cung cấp diễn ngôn trung hòa, còn lớp van xả lũ (thị trường) bị chiếm lĩnh bởi dòng vốn thân hữu.
*
BẢO TÀNG TƯ NHÂN trong điều kiện này không chỉ đứng giữa giá trị thẩm mỹ và giá trị trao đổi, mà còn trở thành thiết chế trung gian giữa quyền lực kinh tế thân hữu và quyền ban phát ý nghĩa nghệ thuật. Việc hình thành bộ sưu tập gắn liền với các chiến lược mang tính công cụ. Tác phẩm được lựa chọn không thuần túy vì chiều sâu hình thức hay tính phê phán, mà vì khả năng tạo dựng hình ảnh, xây dựng tính chính danh văn hóa và hỗ trợ chuyển hóa tài sản. Tranh Đông Dương được hồi hương, mảng sáng tác giai đoạn 1975–1995 được đẩy mạnh sưu tập và trưng bày, thường được gắn với diễn ngôn di sản, bản sắc và thành tựu nội sinh. Những lựa chọn này vừa tạo lớp vỏ thẩm mỹ thuận tiện, vừa giúp hợp thức hóa mức giá cao và giảm thiểu các câu hỏi về chiều sâu tư tưởng hay tính xác thực lịch sử.
Chức năng thẩm định, lưu trữ và công chúng hóa vẫn được duy trì về hình thức, nhưng nội dung và định hướng bị lệch. Việc đưa một tác phẩm vào bộ sưu tập vẫn tạo ra lớp giá trị biểu tượng, song lớp giá trị ấy ngày càng gắn với uy tín kinh tế – chính trị của chủ sở hữu hơn là với sự công nhận từ cộng đồng chuyên môn độc lập. Triển lãm và hoạt động giáo dục được tổ chức bài bản, có catalog dày, có sự tham gia của học giả kinh viện, song diễn ngôn xung quanh bộ sưu tập thường nghiêng về tính liên tục, tính nội sinh và tính chính danh văn hóa. Trong điều kiện ấy, bảo tàng tư nhân không còn đơn thuần rút tác phẩm ra khỏi vòng quay thị trường ngắn hạn; CHÚNG THAM GIA TÍCH CỰC VÀO VIỆC TẠO RA VÀ DUY TRÌ BONG BÓNG THẨM MỸ.
Đối với quan hệ với quyền lực nhà nước, bảo tàng tư nhân thân hữu tạo ra khoảng đệm đặc thù. Chúng ít bị ràng buộc bởi khung định hướng cứng của bảo tàng công, song cũng ít mang tính đối kháng. Vì chủ sở hữu thường có quan hệ mật thiết với quyền lực kinh tế - chính trị, các bảo tàng này có xu hướng tự điều chỉnh để không vượt quá các đường biên nhạy cảm. Khoảng tự chủ tương đối bị thu hẹp thành khoảng tự chủ có điều kiện: được phép vận hành và thậm chí được khuyến khích ở mức độ nhất định, miễn là chúng phục vụ hoặc không đối đầu với các diễn ngôn chính thống và bán-chính thống. Chúng vừa lấp đầy khoảng trống đương đại mà bảo tàng công chưa đáp ứng, vừa trở thành một phần của chiến lược văn hóa mềm, trong đó nguồn lực tư nhân được huy động để củng cố tính chính danh mà không làm lung lay cấu trúc quyền lực cơ bản.
Sự chi phối của tư bản thân hữu làm trầm trọng thêm những hạn chế vốn có của hệ thống bảo tàng tư nhân Việt Nam. Tính bền vững vốn đã phụ thuộc nhiều vào cá nhân chủ sở hữu nay càng gắn chặt với biến động của thị trường bất động sản và tài chính. Tính công cộng vốn đã yếu nay càng bị thu hẹp vì logic tài sản và logic hợp thức hóa vị thế chiếm ưu thế. Đội ngũ chuyên môn, nếu có, thường phải vận hành trong khung định hướng của chủ sở hữu hơn là theo tiêu chuẩn nghiên cứu và phê bình độc lập.
*
Khi các CURATOR được đào tạo bài bản từ môi trường cao cấp ở Mỹ và Tây Âu đồng thời là con cháu hoặc được sử dụng bởi tầng lớp tư bản thân hữu, vị thế trung gian của họ bị biến đổi tương tự. Năng lực chuyên môn, vốn lý thuyết và kỹ năng tổ chức triển lãm được trang bị từ môi trường quốc tế không còn vận hành chủ yếu theo logic nâng đỡ giá trị thẩm mỹ phức cảm và khoảng tự trị, mà bị kéo vào quỹ đạo của logic tích lũy biểu tượng và hợp thức hóa vị thế.
Việc sở hữu nền tảng đào tạo cao cấp mang lại vốn biểu tượng quốc tế mạnh. Họ nắm vững ngôn ngữ lý thuyết đương đại, phương pháp trưng bày chuyên nghiệp, kỹ năng viết văn bản và khả năng kết nối mạng lưới toàn cầu. Những năng lực này vốn có thể trở thành lực lượng đối trọng. Tuy nhiên, khi gắn với xuất thân hoặc sự sử dụng bởi tư bản thân hữu, vốn chuyên môn ấy dễ bị chuyển hóa thành công cụ hợp thức hóa. Triển lãm được tổ chức bài bản, mạch kể được xây dựng tinh tế, catalog được viết bằng ngôn ngữ học thuật quốc tế, song nội dung và định hướng thường nghiêng về những gì có thể gắn với diễn ngôn bản sắc, lịch sử nội sinh hoặc tính đương đại an toàn. Tác phẩm phức cảm, bất an hoặc mang tính phê phán sâu dễ bị lọc bỏ, được đặt vào bối cảnh trung hòa, hoặc được diễn giải lại theo hướng làm dịu chiều kích đối kháng.
Chức năng sản xuất ý nghĩa và xây dựng mạch kể vẫn được duy trì ở mức độ chuyên nghiệp cao, nhưng mục tiêu thay đổi. Curator không chỉ sáng tạo bối cảnh để tác phẩm được nhìn nhận sâu hơn; họ sáng tạo bối cảnh để tác phẩm và bộ sưu tập của chủ sở hữu được nhìn nhận như thành tựu văn hóa có tính chính danh quốc tế. Việc một nghệ sĩ được mời vào triển lãm do curator có bằng cấp và uy tín quốc tế phụ trách vẫn mang lại lớp giá trị biểu tượng mạnh, song lớp giá trị ấy ngày càng gắn với mạng lưới quan hệ kinh tế - chính trị của tư bản thân hữu hơn là với sự công nhận từ cộng đồng chuyên môn độc lập.
Đối với quan hệ với thị trường, họ trở thành cầu nối đặc biệt hiệu quả. Họ mang lại vẻ chuyên nghiệp, tính “quan trọng” và lớp sơn học thuật quốc tế cho các triển lãm và bộ sưu tập. Gallery thương mại và bảo tàng tư nhân thân hữu ngày càng dựa vào họ để tạo uy tín biểu tượng nhanh và mạnh. Khi logic phục vụ mục tiêu tích lũy tài sản và hợp thức hóa vị thế chiếm ưu thế, chức năng thẩm định độc lập bị suy giảm. Curator dễ trở thành mắt xích tinh vi trong chuỗi hàng hóa hóa.
Đối với quan hệ với quyền lực nhà nước, họ tạo ra khoảng đệm mang tính đặc thù. Nền tảng đào tạo quốc tế và ngôn ngữ chuyên môn tinh tế giúp họ tổ chức các hoạt động có vẻ năng động, hội nhập và đương đại, đồng thời tự điều chỉnh để không vượt quá các đường biên nhạy cảm. Khoảng tự chủ về khái niệm bị thu hẹp thành khoảng tự chủ có điều kiện: đủ mở để tạo hình ảnh văn hóa mềm và quốc tế hóa, đủ thận trọng để không trở thành điểm tụ hội của các diễn ngôn gai góc.
Sự xuất hiện của nhóm curator này làm thay đổi sâu sắc cục diện đội ngũ curator Việt Nam vốn đã mỏng và phân hóa. Sự phân hóa không còn chỉ là giữa thương mại và độc lập, mà còn giữa độc lập thực chất với độc lập mang tính hình thức được nâng đỡ bởi vốn thân hữu. Khoảng trống về curator chuyên nghiệp và độc lập thực sự không được lấp đầy một cách ngang bằng; nó bị chiếm lĩnh một phần bởi những người có năng lực cao nhưng vận hành trong logic hợp thức hóa vị thế.
*
Khi PHÊ BÌNH MỸ THUẬT liên minh hoặc chịu sự chi phối bởi tư bản thân hữu, chức năng trung gian then chốt của nó cũng bị biến đổi. Phê bình không còn vận hành chủ yếu như bộ lọc, người phiên dịch và lực lượng phản kháng tương đối độc lập, mà dần trở thành mắt xích trong việc sản xuất diễn ngôn phục vụ logic tích lũy biểu tượng và hợp thức hóa vị thế.
Việc liên minh hoặc chịu tác động thường diễn ra thông qua đặt hàng catalogue, tài trợ không gian xuất bản, mời viết bài cho triển lãm lớn, hoặc hỗ trợ các diễn đàn và giải thưởng mang tính biểu tượng. Nhà phê bình được tiếp cận nguồn lực, sân chơi và mạng lưới quan hệ mạnh hơn. Tuy nhiên, tiêu chí thẩm định, cách lịch sử hóa và hướng công chúng hóa dần bị điều chỉnh theo hướng ưu tiên những gì có thể gắn với diễn ngôn bản sắc, lịch sử nội sinh, tính liên tục và thành tựu văn hóa dễ hợp thức hóa. Những phân tích chỉ ra sự phình to của giá trị trao đổi so với chiều sâu thẩm mỹ, hoặc đặt câu hỏi về logic đầu cơ và quan hệ quyền lực, dễ bị đẩy ra vùng biên hoặc được viết lại theo hướng trung hòa.
Chức năng thẩm định, lịch sử hóa và công chúng hóa vẫn được duy trì về hình thức, nhưng nội dung và lập trường thay đổi. Phê bình vẫn phân tích cấu trúc hình thức và chiều sâu ý niệm, song thường nhấn mạnh những khía cạnh có thể được đọc như biểu hiện của bản sắc hoặc thành tựu nội sinh. Việc đặt tác phẩm vào mạch lịch sử nghiêng về câu chuyện trưởng thành tự thân, ít đứt gãy, ít xung đột với thể chế. Công chúng hóa diễn ra mạnh mẽ hơn nhờ nguồn lực truyền thông, song công chúng được dẫn dắt theo hướng chấp nhận thang giá trị đã được điều chỉnh.
Đối với quan hệ với thị trường, phê bình chịu sự chi phối trở thành công cụ hiệu quả trong việc tạo uy tín và nâng giá trị trao đổi. Logic đầu cơ được hỗ trợ bởi lớp sơn diễn ngôn chuyên môn. Phê bình độc lập vốn có khả năng chỉ ra sự lệch pha giữa giá trị trao đổi và chiều sâu thẩm mỹ nay bị thu hẹp không gian.
Đối với quan hệ với quyền lực nhà nước, phê bình trong điều kiện này tạo ra khoảng đệm mang tính đặc thù. Nó ít bị ràng buộc bởi khung định hướng cứng, song cũng ít mang tính đối kháng thực sự. Vì gắn với lợi ích của tư bản thân hữu, phê bình có xu hướng tự điều chỉnh để hoạt động trong vùng an toàn tương đối. Khoảng tự chủ bị thu hẹp thành khoảng tự chủ có điều kiện: đủ chuyên môn để tạo vẻ độc lập và học thuật, đủ thận trọng để không trở thành điểm tụ hội của các diễn ngôn gai góc.
*
Ba lực lượng – bảo tàng tư nhân thân hữu, curator được đào tạo quốc tế gắn với tư bản thân hữu, và phê bình chịu sự chi phối – tạo thành một mạng lưới thiết chế mềm khép kín. Chúng vừa nâng cao vẻ chuyên nghiệp, học thuật và quốc tế hóa của các hoạt động, vừa tham gia điều tiết và trung hòa năng lượng phản biện. Trong mô hình kiểm soát mềm hiện nay, chúng hoàn thiện vòng kiểm soát: vừa lấp đầy khoảng trống đương đại, vừa ban phát giá trị theo hướng có lợi cho liên minh quyền lực mới, đồng thời thu hẹp dần khoảng tự trị thực sự của nghệ thuật và tiếng nói phê bình độc lập.
Đối với họa sĩ trẻ, các thiết chế này vẫn là kênh lưu trữ, diễn giải và tạo vốn biểu tượng nhanh, mạnh. Việc được sưu tập, được curator quốc tế đưa vào triển lãm, được phê bình viết về một cách chuyên nghiệp có thể tạo ra uy tín biểu tượng đáng kể. Tuy nhiên, vốn biểu tượng ấy thường gắn với diễn ngôn an toàn - bản sắc - lịch sử nội sinh hơn là với chiều sâu phê phán hay thử nghiệm. Nghệ sĩ buộc phải ý thức rõ hơn về ranh giới giữa cơ hội nâng đỡ và nguy cơ bị đồng hóa vào chiến lược tích lũy biểu tượng của tư bản thân hữu. Việc đối thoại với các thiết chế này đòi hỏi sự tỉnh táo chiến lược: tận dụng năng lực chuyên môn và nguồn lực mà không đánh mất logic nội tại của tác phẩm.
Đối với những người muốn duy trì khoảng cách độc lập – dù là curator, nhà phê bình hay họa sĩ – sự xuất hiện và vận hành của mạng lưới thiết chế mềm này vừa là thách thức vừa là áp lực. Năng lực chuyên môn cao và bằng cấp quốc tế không tự động đảm bảo khoảng cách độc lập. Xây dựng uy tín dựa trên chuyên môn, tính nhất quán và ý thức phê phán trở thành chỗ dựa dài hạn khó khăn hơn, vì phải cạnh tranh với những người vừa có năng lực vừa có nguồn lực thân hữu mạnh. Việc giữ khoảng cách với logic thương mại và logic hợp thức hóa vị thế đòi hỏi không chỉ năng lực lý thuyết mà còn sự lựa chọn đạo đức nghề nghiệp rõ ràng trong điều kiện bị bao vây bởi nguồn lực bất đối xứng.
*
Khi hệ thống bảo tàng tư nhân, curator được đào tạo quốc tế và phê bình mỹ thuật chịu sự chi phối của tầng lớp tư bản thân hữu bất động sản và tài chính, chúng không còn chỉ là lực lượng trung gian giữa giá trị thẩm mỹ, giá trị trao đổi và quyền lực nhà nước. Chúng trở thành thiết chế quan trọng trong việc tái cấu trúc trường nghệ thuật theo hướng ưu tiên logic hợp thức hóa vị thế và tích lũy biểu tượng. Trong môi trường xã hội Việt Nam hiện tại, nơi lớp đê vẫn giữ quyền lực cơ bản, lớp kênh thông luồng cung cấp diễn ngôn trung hòa, và lớp van xả lũ bị chiếm lĩnh bởi dòng vốn thân hữu, mạng lưới thiết chế mềm này hoàn thiện vòng kiểm soát. Chúng vừa nâng cao vẻ chuyên nghiệp và quốc tế hóa, vừa tham gia điều tiết năng lượng phản biện, đồng thời thu hẹp dần những khoảng còn có thể để nghệ thuật phát triển theo logic nội tại của nó. Khoảng tự trị tương đối vốn mong manh nay càng trở nên có điều kiện, và ranh giới giữa các thiết chế độc lập thực chất với các thiết chế mang danh độc lập nhưng vận hành theo logic thân hữu ngày càng khó nhận diện.