Thứ Hai, 9 tháng 11, 2026

Nhìn lại âm nhạc miền Nam – Tập 2 (kỳ 6)

  Nguyễn Phú  Yên

CHƯƠNG XII: PHONG TRÀO NHẠC TRẺ

 

Chiến tranh Việt Nam kéo dài ngày mỗi tàn khốc và bi thương khiến một bộ phận thanh niên mệt mỏi, chán chường. Thời đạn lửa tạo cho một bộ phận lớp trẻ ở các đô thị cảm giác như đời sống bế tắc và phần nào họ nhuốm tinh thần bi quan. Dù đời sống ở phần lớn các các thành thị miền Nam có phần yên bình, không nguy hiểm như vùng thôn quê và rừng núi xa xôi, nhưng tuổi trẻ vẫn mong ước có được một thứ gì bồi đắp để giữ được hy vọng dù mong manh. Nhạc trẻ được ưa thích, có thể phản ảnh một phần về tâm trạng này.

Cùng với tác động của lối sống hiện sinh, một bộ phận thanh niên đô thị muốn thoát ly đời sống chiến tranh. Tâm trạng ấy dẫn một số bạn trẻ lao vào sự chưng diện áo quần, ăn mặc lập dị, nhất là khi có sự du nhập của phong trào hippy, hoặc lao vào cờ bạc, ma túy để lãng quên đời. Một bộ phận khác thì khao khát tìm vào đam mê âm nhạc mới lạ so với dòng âm nhạc trước đó.

         Sau các bài hát ca ngợi quê hương thanh bình sau ngày chia cắt đất nước là các bài hát về nhạc lính khi chiến tranh lan tràn khắp miền Nam. Giữa lúc này âm nhạc hiện đại phương Tây du nhập vào miền Nam đã gây được ảnh hưởng vào tâm hồn họ; họ yêu thích loại nhạc mới này để rồi tự thành lập những nhóm nhạc riêng lẻ. Hoạt động đó cuối cùng đã hình thành Phong trào Nhạc trẻ, được xem như một dòng chảy âm nhạc riêng của thanh niên đô thị trong hoàn cảnh chiến tranh.

 

  1. CÁC BAN NHẠC TRẺ

 

Nhạc trẻ buổi đầu thường được gọi là nhạc kích động. Phong trào ra đời và phát triển mạnh trong hai thập niên 1960 -1970, do các bạn trẻ lúc ấy yêu thích dòng nhạc pop rock Âu Mỹ, đã tìm cách thể hiện sở thích của mình bằng cách phổ biến dòng nhạc ấy trong giới trẻ cùng với sự hỗ trợ của công nghệ âm thanh, băng đĩa thời bấy giờ. Hình ảnh quen thuộc của các ban nhạc trẻ trên sân khấu là những chàng trai, cô gái trẻ yêu thích loại nhạc nước ngoài với tóc dài, áo quần kiểu cách theo trào lưu hippies bấy giờ (áo bó, quần patte), chơi các nhạc cụ điện tử như guitar, organ và dàn trống. Họ vừa đàn, vừa hát những giai điệu và tiết tấu mạnh mẽ, giậm giựt, kích động; họ lắc lư nhún nhảy cơ thể khi biểu diễn các điệu nhạc pop-rock, twist, bebop, mashed, rock and roll… cùng với tiếng đệm yeah yeah... đầy phấn khích và trở thành sở thích của phần lớn bạn trẻ.

Ngay từ những năm cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, với sự du nhập của âm nhạc Âu Mỹ, lớp trẻ yêu thích trào lưu “đợt sóng mới” (new wave) là những khuynh hướng cách tân trong các lĩnh vực điện ảnh và âm nhạc. Họ bắt đầu yêu thích và say mê các bài hát nước ngoài với các ca sĩ của Pháp như Johnny Halliday, Sylvie Vartan, Françoise Hardy, Christophe, Dalida, Mathieu Mireille…; ca sĩ và nhóm nhạc của Anh như Cliff Richard, The Shadows, The Beatles, The Rolling Stones…; ca sĩ và nhóm nhạc Mỹ như Elvis Presley, Bill Haley, Blue Comets, Chubby Checker, The Platters…

Với sở thích đó các nhóm nhạc trẻ bắt đầu hình thành, sớm nhất từ các trường học ở Sài Gòn; một số nhóm cũng bắt chước đặt tên ban nhạc bằng tiếng nước ngoài, kể cả các ca sĩ cũng thích mới lạ với tên Tây như Jo Marcel, Billy Shane, Elvis Phương, Paolo, Pat Lâm, Carol Kim... Các ban nhạc sử dụng các nhạc cụ điện tử, trước mắt để vui chơi thỏa thích với trào lưu mới; chẳng hạn Trường Petrus Ký có ban nhạc Bách Việt, Trường Trưng Vương có ban Phoenix, Trường trung học Taberd có ban nhạc Le Frère (1964)…

Phần lớn các ban nhạc đều xuất thân là học sinh các trường Tây như J.J Rousseau, Taberd, Marie Curie vì họ có trình độ ngoại ngữ, dễ tiếp cận tiếng nước ngoài tốt hơn. Chẳng hạn ban Rockin’ Stars với Elvis Phương, ban The Black Caps với các giọng ca như Công Thành, Thanh Lan, Helena, Bích Trâm, Paolo (Thanh Tuấn). Hoặc có những ban nhạc gia đình với thành viên  là anh chị em trong nhà như Peanuts Co., CBC (Bích Liên), The Dreamers (các con của nhạc sĩ Phạm Duy), Crazy Dog (các con của cặp nghệ sĩ Việt Hùng - Ngọc Nuôi với Ngọc Bích đầu đàn)…

Tiếp sức cho giới trẻ yêu nhạc trẻ là các phim ca nhạc nước ngoài như Rock Around The Clock, Nuits d’Euro… với hình ảnh của những ca sĩ, nhạc công cuồng say cùng với tiếng đàn điện tử, tiếng trống chát chúa được trình chiếu tại các rạp hát đã làm say mê giới trẻ.

Các hãng phim trong nước cũng góp phần thúc đẩy phong trào nhạc trẻ: Alpha Phim tung ra phim Saigon By Night (1964) - cuốn phim đen trắng phóng sự về giải trí ban đêm của Sài Gòn, trong đó có phần phụ diễn ca nhạc do các ban nhạc trẻ biểu diễn. Năm 1970, đạo diễn Thái Thúc Nha đã đưa vào hình ảnh ban nhạc CBC lên màn bạc trong phim Tiếng hát học trò; Liên Ảnh phim quay Điệu ru nước mắt có Đức Vượng cùng ban nhạc The New Flinstones; Giao Chỉ phim đưa hình ảnh buổi sinh hoạt nhạc trẻ với phần trình diễn của Magic Stones - Đức Vượng; phim Người tình không chân dung có sự xuất hiện của nữ ca sĩ Candy Xuân hát nhạc soul; phim Người cô đơn do Hoàng Thi Thơ đạo diễn cũng mời ban nhạc CBC xuất hiện; phim Tuổi choai choai với sự xuất hiện của The Dreamers và The Enterprise… Cuối năm 1971, nhóm Jo Marcel cho tung ra cuốn phim 16 ly dài 1 giờ 30 phút thuần túy về thế giới nhạc trẻ với những ban nhạc và những ca sĩ nổi tiếng của làng nhạc trẻ Sài Gòn.

Bên cạnh đó còn có chương trình ca nhạc nước ngoài trên Đài phát thanh Sài Gòn do Hải Nam phụ trách với giọng ca của ca sĩ Mỹ như Frank Sinatra, Ricky Nelson, Pat Boone, Frankie Avalon, Bobby Darin, Paul Anka…Từ đó một số ban nhạc hoạt động vượt ra ngoài khuôn viên trường học; họ kết hợp với nhau để sinh hoạt chung và trở thành phong trào rộng khắp ở Sài Gòn.

Ngoài Phượng Hoàng nổi đình nổi đám, các ban nhạc trẻ khác cũng có tên tuổi như Shotguns của Ngọc Chánh, Black Stone, Blue Jets, Enterprises, The Hammer, Blue Stars (ban nhạc nữ), Magic Stone, Les Vampires, The 46, Fanatiques, Spotlights, Ba Con Mèo (có Vi Vân, Julie và Mỹ Hòa), The Uptight … 

The Blue Jets với Anh Tú, Khánh Hà, Thúy Anh, The Blue Stars thành lập năm 1964 với Minh Trang, Ngọc Phương Bass, Tường Nga, Hồng Loan… là ban nhạc trẻ nữ xuất sắc nhất của Sài Gòn, một ban nhạc tồn tại lâu nhất và đi đến tan rã vào năm 1970. Một số thành viên tham gia cùng ban nhạc phái nữ khác là The Generations để thành lập ban The Blue Bells với Hải Yến, Nina, Việt Nga, Tường Nga, Tường Vân. Sau The Blue Stars, năm 1967 bốn cô gái Trường Trưng Vương đã xuất chiêu trong ban The Phoenix, tuy nhiên ban nhạc nữ nầy chỉ biểu diễn trong các dạ vũ gia đình với tính cách giải trí mà thôi.

The Hammers với Nguyễn Thành (guitar lead), Lê Hòa (trống), Nguyễn Đức (bass), Ngọc Tâm (organ) và Cathy Huệ (ca sĩ). The Entreprise với Trung Nghĩa (lead guitar) và Lý Được (bass), sau này có thêm Thanh Tuyền (guitar lead) khá nổi tiếng.

Ban CBC chuyên chơi nhạc psychedelic với Bích Linh, Bích Liên, Tùng Vân, Bích Loan.

 

The Rockin’ Stars thành lập năm 1960 với Nguyễn Trung Lang (bass guitar), Nguyễn Trung Phương (rythm guitar), Jules Tampicanou (lead guitar), Đặng Hữu Tòng (tenor saxophone), Lưu Văn Hùng (trống) và Elvis Phương (ca sĩ). Năm 1961 có thêm 2 thành viên mới là Jean Jacques Cussy và Nicole. Cuối năm 1961 có thêm ca sĩ Billy Shane.

The Strawberry Four gồm Tuấn Ngọc (guitar), Đức Huy (guitar), Tiến Chỉnh (bass, trước đó là Billy Shane), Tùng Giang (trống). Riêng Tuấn Ngọc hát và đàn trong những ban nhạc The Black Caps (với Minh Phúc, Ngoc Tùng, Billy Hùng, Quốc Huy), Blue Jays, The Revolution, The Strawberry Four. Khi The Strawberry Four tan rã, Tuấn Ngọc đi hát một mình tại các phòng trà. Nhưng khi Thanh Tuyền rã với Đức Huy để theo Trung Nghĩa, Tuấn Ngọc và Đức Huy thành lập ban song ca chuyên hát nhạc country của Mỹ.

Ban nhạc Bách Việt đều là học sinh Trường Petrus Ký, là ban nhạc trẻ đầu tiên muốn khôi phục âm nhạc cổ truyền, sử dụng những nhạc cụ cổ truyền như đàn tranh, tỳ bà, đàn cò, đàn kìm, đàn đáy, trống cơm với nhạc khí phương Tây (chỉ có một cây guitar và trống). Ban nhạc xuất hiện trong Đại hội nhạc trẻ năm 1971 và chơi ở các phòng trà Đêm Màu Hồng, Queen Bee và Hội Quán CâyTre.

Ban The Dreamers với Duy Quang (ca), Duy Minh (trống), Duy Hùng (lead guitar), Duy Cường (organ), Julie Quang và Vény. Trong ban này ngoài Duy Quang và Julie thì người nổi nhất là Duy Cường.

Tuy nhiên ban nhạc trẻ được mến mộ nhất là Phượng Hoàng, đã đóng góp rất lớn cho phong trào nhạc trẻ Sài Gòn từ 1960 đến 1974 với hai tên tuổi Lê Hựu Hà (1946 - 2003) và Nguyễn Trung Cang (1947-1985). Ban nhạc khi đổi tên xuất hiện vào tối 15-6-1971 tại phòng trà Đêm Màu Hồng. Khác với các ban nhạc mang tên Mỹ, ban nhạc này mang tên Việt: Phượng Hoàng chỉ hát toàn nhạc Việt do chính các nhạc sĩ trong ban sáng tác như Yêu người yêu đời, Phiên khúc mùa đông, Tôi muốn, Thương nhau ngày mưa, Yêu em, Tình ca hồng… Tiền thân của ban nhạc Phượng Hoàng là ban nhạc Hải Âu được thành lập năm 1963 nhân Ngày Nhạc trẻ của Trường trung học Lasan Taberd, với thành viên ban đầu là Lê Hựu Hà (solo, ca phụ), Nguyễn Trung Cang (organ, bass, ca phụ), Nguyễn Trung Vinh (trống), Như Khiêm, (bass). Hai ca sĩ là Hoài Khanh và Mai Hoa. Sau này có thêm giọng ca Elvis Phương - tên thật là Phạm Ngọc Phương, cựu học sinh Jean Jacques Rousseau.

Riêng ở Vũng Tàu, có hai ban nhạc nổi tiếng của ngày ấy là The Misfits và TheBlack Bees. The Misfits gồm có Châu Hiệp Clément, Jeannot, René và Trí. Sau có sự tăng cường của Mạnh Hà từ Sài Gòn về, là một ca nhạc sĩ từng góp phần thành công cho The Hardstones. The Black Bees gồm có Minh Tây, Hoàng Nam, Hải, Sương, Nghĩa, Nhân.

 

  1. HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN

 

Thật ra ở Sài Gòn sau ngày chia cắt đất nước, ngoài việc phổ biến nhạc tiền chiến có từ trước đó, đã manh nha hoạt động âm nhạc mới gọi là kích động nhạc. Theo nhà văn Lê Văn Nghĩa, từ cuối năm 1959 nhà hàng Hòa Bình ở Sài Gòn đã xuất hiện một ban kích động nhạc mang tên Thời Đại, sau đó tại phòng trà Anh Vũ xuất hiện ban Rock Tigers, rồi tiếp đến là The Blue Jean Boys.

Từ năm 1961, xuất hiện những ban nhạc mang tên nước ngoài như Les Vampires với tay đàn kiêm ca sĩ Đức Huy, The Rocking Stars với giọng ca trẻ Elvis Phương. Hai ban The Rocking Stars và Black Caps thường biểu diễn tại Trường Lamartine. Vào năm 1963, ban nhạc Les Tridents ra đời, sau này đổi tên là Surfing. Cũng năm 1963, Hội Ái hữu học sinh J.J Rousseau và Marie Curie tổ chức liên hoan nhạc trẻ tại vũ trường Đại Kim Đô, Sài Gòn qui tụ những ban nhạc trẻ lúc ấy như Falcons, Fanatiques…và được xem như sự khởi đầu cho những đại hội nhạc trẻ sau này.

Một số ban nhạc trẻ thường biểu diễn ở những quán bar, những dạ vũ gia đình hoặc góp mặt trong các sinh hoạt của các câu lạc bộ Mỹ, các đại hội nhạc trẻ ở Sài Gòn.

Người khởi xướng nhạc trẻ đầu tiên là Trường Kỳ; ông được biết đến như là người đi đầu trong hoạt động nhạc trẻ thời bấy giờ. Ông không là ca sĩ, cũng không là nhạc sĩ, nhưng tên tuổi ông gắn liền với phong trào nhạc trẻ Việt Nam. Một tên tuổi hoạt động khá lâu dài là Lê Hựu Hà, khi mới bước vào con đường âm nhạc, đã đứng ra thành lập ban nhạc Hải Âu. Chính từ ban nhạc này tiếng hát Thanh Lan đã được nhiều bạn trẻ biết đến để rồi cô nổi tiếng sau này. Nhưng phải đợi tới đầu thập niên 1970, khi ban nhạc Hải Âu không còn nữa, thì Lê Hựu Hà cùng phối hợp với một số bạn để thành lập ban nhạc Phượng Hoàng. Chính tại sân chơi nhạc trẻ này, nhiều tài năng đã cất cánh bay cao.

Đại hội nhạc trẻ đầu tiên được tổ chức tại thính đường Trường Lasan Taberd vào năm 1964 với các ban nhạc trẻ và những giọng ca thời danh lúc ấy. Khán giả có khoảng 1.000 người. Ban nhạc nữ đầu tiên là The Blue Stars, ra mắt vào tháng 10-1964 tại đai nhạc hội Vui Sống tổ chức tại rạp Văn Hoa, Đa Kao cùng với các ban nhạc đàn anh như Teddy Bears, The Black Caps… Cũng vào tháng 10-1964, tại rạp Văn Hoa tổ chức Đại hội Kích động nhạc trong năm đêm liền. Năm 1964-1965 có Faucons Noirs là ban nhạc nổi bật nhất trong các buổi trình diễn văn nghệ do các trường trung học lớn tổ chức. Ngoài ra còn có ban nhạc Teddy Bears (với Tiến Chỉnh sử dụng bass) và Les Fanatiques, Les Vampires, The Rocking’s Stars.

Vào ngày 28-11-1965, Trường Taberd đứng ra tổ chức một buổi đại hội nhạc trẻ với mục đích giúp quỹ xã hội. Có đến 17 ban nhạc góp mặt trong chương trình, một con số kỷ lục từ trước đến nay; trong đó có các ban The Black Caps, The Blue Stars, Les Vampires, Hải Âu…

Đại hội nhạc trẻ năm 1966 được tổ chức để cứu trợ nạn lụt miền Tây, có tất cả 23 ban tham dự trình diễn trong 6 giờ. Các ban nổi tiếng có The Spotlights (sau này đổi tên là Strawberry Four với Billy Shane, Đức Huy, Tuấn Ngọc và Tùng Giang), The Blue Stars với Kim Thoa, Kim Loan…

Đại hội nhạc trẻ có thể xem là có qui mô nhất diễn ra tại sân vận động Hoa Lư vào năm 1971, với sự góp mặt của gần 20 ban nhạc quốc tế như Mỹ, Philippines và Việt Nam Cộng hoà do Tổng cục Chiến tranh chính trị đứng ra tổ chức và giúp đỡ. Lần này số người tham dự lên đến 20.000 người. Tất cả lợi nhuận của đại nhạc hội đều được gửi tặng các thương phế binh và cô nhi quả phụ. Đến năm 1972, Đại hội nhạc trẻ diễn ra tại Thảo Cầm Viên cũng được tổ chức qui mô với mục đích từ thiện, thu hút hàng ngàn bạn trẻ học sinh, sinh viên.

Đại hội nhạc trẻ Taberd năm 1974 là đại hội cuối cùng với sự có mặt của Quốc Dũng trong ban Hồn Hoang, The Dreamers với Thanh Lan, Crazy Dogs với Ngọc Bích…

 

  • PHỔ BIẾN BÀI NHẠC GỐC VÀ PHÓNG TÁC LỜI CA NHẠC TRẺ PHƯƠNG TÂY

 

          Buổi đầu là sự phổ biến các bài hát của Pháp, do các học sinh trường Tây, học sinh con nhà khá giả, họ mua các băng và đĩa nhạc của Pháp du nhập vào Việt Nam. Sau ảnh hưởng của âm nhạc Pháp, bắt đầu xuất hiện ngày mỗi phong phú những giai điệu và tiết tấu mới của âm nhạc Anh Mỹ. Sự chuyển tiếp nguồn ảnh hưởng nhạc Pháp và nhạc Anh Mỹ đã làm phong phú sở thích nghe nhạc của lớp trẻ đô thị. Âm nhạc là ngôn ngữ vượt ra khỏi biên giới quốc gia, nếu bỏ ra phần lời vì khác ngôn ngữ thì người nghe cũng có thể cảm nhận được cái hay của âm nhạc đó qua giai điệu và tiết tấu mới mẻ. Với tuổi trẻ thành thị, các bài hát pop rock của Âu Mỹ như là những làn gió mát, những xúc cảm mới mẻ không còn theo khuôn phép như các bản nhạc bán cổ điển của các nhạc sĩ thời kỳ phôi thai dòng nhạc lãng mạn. Việc biểu diễn lại các bài hát Âu Mỹ do các bạn trẻ sưu tầm trên các tạp chí nước ngoài hoặc ký âm lại từ băng đĩa đứng ra tổ chức. Những bài hát Never my love, Rhythm of the rain, The sound of silence, Deborah, Oh Carol, It's now or never... cũng đủ làm xao xuyến tâm hồn lớp trẻ thời bấy giờ.

Qui tụ trong phong trào là lớp nhạc sĩ trẻ tuổi vừa biểu diễn vừa sáng tác trong các nhóm nhạc hình thành trong sinh viên, học sinh. Đó là các ca nhạc sĩ đầu đàn như Jo Marcel, Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà, Nam Lộc, Tùng Giang… Có thể xem đây là hoạt động bước đầu của phong trào nhạc trẻ. Sau đó trong khoảng thời gian từ năm 1964 đến 1974, Trường Kỳ đứng ra tổ chức đại hội nhạc trẻ thường xuyên tại trường học, chẳng hạn tại khuôn viên Trường Taberd. Những năm kế tiếp nhạc trẻ mở rộng hoạt động ở phạm vi lớn hơn như các đại hội được tổ chức ở rạp Thống Nhất và rạp Quốc Thanh, Sài Gòn.

          Theo thời gian, đến những năm đầu thập niên 1970, nhạc trẻ bắt đầu Việt hóa, nghĩa là hát nhạc ngoại quốc có lời Việt. Việc chuyển ngữ, phóng tác lời ca do các nghệ sĩ Phạm Duy, Trường Kỳ, Nam Lộc, Kỳ Phát và Vũ Xuân Hùng đảm trách. Phần lớn các bài hát được chuyển ngữ đều viết về tình yêu đôi lứa. Vũ Xuân Hùng đã chuyển soạn lời Việt cho các ca khúc Búp bê không tình yêu (Poupée De Cire, Poupée De Son), Gõ cửa 3 tiếng (Knock Three Times), Chuyện Phim Buồn (Sad Movies), Lãng du (L’Aventura), Anh thì không (Toi Jamais), Nam Lộc với Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu  (Tell Laura I Love Her). Mây Lang Thang(The Cowboy’s Work Is Never Done)…

 

Một số bài được phổ biến rộng rãi như Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu, một sáng tác của hai nhà viết ca khúc Jeff Barry và Ben Raleigh:

Tim em chưa nghe rung qua một lần 
Làn môi em chưa hôn ai cho thật gần 
Tình trần mong manh như lá me xanh 
Ngơ ngác rơi nhanh...
Thu giăng heo may cho bóng cây lạnh đầy 
Người cho em nghe câu nhớ thương từng ngày 
Những ngày đợi chờ đợi người qua cơn mơ

Trong mắt ngây thơ, trong nắng vu vơ. 
Nhớ khói bay lạc vấn vương 
Cho hơi ấm lên môi người 
Lùa sương kín nhẹ vây ngập trường 
Làn mây yêu thương vướng trong hồn em.

     (Nam Lộc viết lời Việt)

Hay bài Chỉ Còn Là Giấc Mơ Qua:

Như làn mây

Tình yêu thôi giờ đây lững lờ 
Như làn gió

Người yêu thôi giờ đây hững hờ 
Rồi một lần xa cách

Là một đời than trách 
Rồi cuộc tình bay mất

Và một người đi khuất 
Tình chỉ còn cay đắng

Để chỉ còn xa vắng 
Để chỉ còn nắng vương cuối đường. 
Thương người thương

Ngàn xưa ơi ngàn sau nét cười 
Vương sầu vương

Đường xưa nay giờ đâu bóng người 
Tình nhiệm mầu tan vỡ

Lòng chỉ còn nhung nhớ 
Giờ một mình quên lãng

Lạnh lùng theo năm tháng 
Dù một lần em đã

Mềm lòng như chiếc lá… 

     (Nam Lộc viết lời Việt)

Những ca khúc trữ tình được đặt lời Việt như Hỡi người tình Lara (nhạc phim Dr.Zivago):

Người tình thương nhớ
Hãy lắng nghe lời mặn mà 
Dù mùa xuân đã
Chôn vùi bởi làn tuyết kia. 
Ngọn đồi trắng xóa
Sẽ có hoa mọc đầu mùa 
Mộng đẹp như cũ
Ân tình còn về với ta… 

Hoặc bài nhạc phim Romeo & Juliet:

Giây phút ban đầu ngày ta gặp nhau
Mắt yêu thầm trao những câu ân tình
Biết bao là âu yếm.
Nhưng mối duyên đầu thường gây khổ đau
Lòng khóc thầm vì phút chia ly chợt đến
Như mưa trời ngâu.
Nhìn lá vàng rơi xao xuyến hồn tôi
Nào đâu người yêu và những ngày xưa.
Thôi đã hết rồi, tình yêu đầu tiên 
Giống như hạt mưa mát cho tâm hồn

Phút giây rồi chợt đến
Theo áng mây sầu nghìn năm buồn trôi
Vì nhớ người, người hỡi đang say hạnh phúc

Thấu cho tình tôi…

     (Quốc Bảo viết lời Việt)

Bài dân ca Ái Nhĩ Lan Giàn thiên lý đã xa:

Tội nghiệp thằng bé

Cứ nhớ thương mãi quê nhà 
Giàn thiên lý đã xa, đã rời xa 
Đứa bé lỡ yêu, đã lỡ yêu cô em rồi 
Tình đã quên mỗi sớm mai lặng trôi. 
Này nàng hỡi nhớ may áo cho người 
Giàn thiên lý đã xa tít mùi khơi 
Tấm áo cắt ngay, đã cắt trên khăn lụa là 
Là chiếc chăn đắp chung những ngày qua. 
Tìm một miếng đất cho gã si tình 
Giàn thiên lý đã xa mãi ngàn xanh 
Miếng đất cát hoang

Miếng đất ngay bên giáo đường 
Biển sẽ ru tiếng hát bên trùng dương. 
Giờ đã đến lúc tan ánh mặt trời 
Giàn thiên lý đã xa mãi người ơi! 
Lấp đất hố tôi, lấp với đôi tay cô nàng 
Thì hãy chôn, trái tim non buồn thương.

     (Phạm Duy viết lời Việt)

Bài Histoire d’un amour (Lịch sử một chuyện tình):

Chuyện tình yêu đôi ta ngày ấy tuyệt như mơ 
Chuyện tình yêu đôi ta ngày ấy đẹp như thơ 
Mình làm quen nhau trên đường vắng khuya 
Dìu nhau qua bao nhiêu hè phố mưa 
Ngồi bên nhau công viên lạnh giá... 
Chuyện tình yêu đôi ta ngày ấy đầy mộng mơ 
Chuyện tình yêu đôi ta ngày ấy thật kiêu sa 
Và trần gian thênh thang chỉ có ta 
Mình cho nhau yêu thương rồi xót xa 
Rồi chia ly rồi đến phôi pha...

     (Phạm Duy viết lời Việt)

Các nhóm nhạc trẻ còn được cung cấp thêm các tập bài hát do nhà phát hành Hiện Đại in ấn đều đặn, ghi các bản nhạc có lời ca tiếng Anh, Pháp và có lời Việt của các nhạc sĩ viết thêm để dễ phổ biến. Đó là các tập nhạc đều mang tên Tình Ca Nhạc Trẻ từ tập 1 đến tập 10 (phát hành tháng 9-1973). Nhạc trẻ ăn khách chính là nhờ các bài hát có thêm lời Việt dễ hiểu giúp sự cảm nhận trực tiếp và gần gũi hơn.

Xin giới thiệu một số bài hát của phong trào nhạc trẻ thường sử dụng từ các tập nhạc nêu trên: Thú yêu thương, Chuyện tình, Hỡi người tình Lara, Xin hãy cười một lần cho anh, Lá xanh mùa hè, Tình thơ, Như lá thu vàng, Dĩ vãng buồn, Buồn chợt đến, Một thời để yêu, Hè muộn, Nụ hôn đầu, Điệu buồn, Xin được giấc an vui, Tình trong thoáng giây, Thăng trầm (Tình Ca Nhạc Trẻ 5); Xin để ta yêu em, Hôm nay ta về, Biết bao nhiêu tình, Những tháng ngày cô độc, Không có em, Đồng xanh, Yêu em, Một đời chiêm bao, Đêm sao không bao giờ tôi quên, Cho người yêu bé nhỏ, Giòng đời, Tình thoáng bay, Điệu tình (Tình Ca Nhạc Trẻ 6); Cuộc đời, Yêu em, Chiều về, Một đời cây cỏ, Đôi khi ta muốn khóc, Bài hát cho những người tuổi trẻ, Hãy ngước mắt nhìn đời, Yêu trong cơn say, Đừng cho tôi thấy, Xin hãy quên đi, Sau cơn mê, Người yêu ơi giã biệt, Tôi sẽ tới (Tình Ca Nhạc Trẻ 7); Vắng bóng người yêu, Hát lên đi, Nỗi đau dịu dàng, Đêm trắng, Biệt ly, Yêu em bằng trái tim anh, Cứ yên vui, Người tình bé nhỏ, Biết đâu, Tay trong tay, Đừng nhắc tên chàng, Hè 42, Gửi đến người yêu, Trong nắng trong gió (Tình Ca Nhạc Trẻ 8); Em đẹp nhất đêm nay, Tiễn em nơi phi trường,Yêu em bằng cả trái tim, Tôi nói đùa, Ngày cưới em, Mơ ước rồi đây, Hè đã tới, Dòng suối tình, Dù sao, Khi ta hai mươi, Đường bay em đi, Nói với em, Đêm buồn, Hãy hát lên (Tình Ca Nhạc Trẻ 9); Người yêu nếu ra đi, Dịu dàng bên anh, Xa rồi, Yêu nhau mùa hè khóc nhau mùa đông, Mộng phiêu du, Mưa, Cuộc tình tàn, Tango xanh, Khói mờ mắt người yêu, Tiếng âm thầm, Himalaya, Người đẹp, Hỡi người yêu, Chủ nhật tuyệt vời (Tình Ca Nhạc Trẻ 10).

Ông Kỳ Phát - một thành viên trong phong trào nhạc trẻ, hiện là chủ nhiệm báo Trẻ Magazine hải ngoại - tâm sự: “Tôi từng sống trong thời kỳ mà khi ấy thanh niên rất hoang mang về chiến tranh và trong cuộc sống. Giới trẻ không biết sống chết ngày nào. Họ say đắm và thả hồn vào dòng nhạc kích động để vơi đi những tâm trạng, buồn chán và lo lắng”. Còn ông Nam Lộc nhận xét: “Đã gọi là giới trẻ thì khi lớn lên, rất tự nhiên, họ thích gì thì họ làm đó. Họ không bị ảnh hưởng nhiều bên ngoài, nghĩa là dù đất nước bị chinh chiến, có chiến tranh nhưng không phải lúc nào họ cũng bị cô lập trong cái chinh chiến đó mà họ vẫn phát triển ý thích của họ”.

Ý thích đó chính là những bài hát viết về tình yêu của nhạc trẻ nước ngoài; chúng sẽ là nơi trú ẩn cho những tâm hồn mệt mỏi, chán chường, muốn thoát ly không khí chiến tranh kéo dài mãi mà thế hệ họ phải đương đầu. Những bài hát trong các tập Tình Ca Nhạc Trẻ đã chứng minh cho sự lựa chọn của một lớp người trẻ ở các đô thị tương đối còn yên bình ở miền Nam.

 

  1. SÁNG TÁC MỚI CỦA NHẠC TRẺ MIỀN NAM

 

Sau giai đoạn trình diễn các bài hát nhạc trẻ của nước ngoài, một số bạn trẻ trong phong trào bỗng thấy có nhu cầu cần diễn đạt tình cảm và tư tưởng của chính mình bằng ngôn ngữ Việt. Cụ thể là họ muốn sáng tác những bài hát mới để thể hiện tiếng nói của riêng mình, cũng như làm phong phú thêm cho các chương trình biểu diễn. Sau này nhà thơ Du Tử Lê nhận xét: “Ban nhạc Phượng Hoàng của Lê Hựu Hà thành lập năm 1963, với chủ trương dứt khoát của Lê Hựu Hà là “người Việt phải chơi nhạc Việt” nhằm tạo một khuynh hướng khác biệt với hàng loạt các nhóm nhạc trẻ lúc đó, phần lớn đang cover lại các bài hát ngoại quốc, và lấy tên tiếng nước ngoài như The Enterprise, CBC, The Dreammers, Les Vampires... Nhạc trẻ thuần Việt được coi như khai sinh từ đó. Nếu lịch sử âm nhạc Anh quốc có cột mốc vĩ đại từ cuộc nói chuyện vô tình trên tàu điện giữa Paul McCartney và John Lennon, thì ở Việt Nam cũng có chương lịch sử âm nhạc kỳ thú từ sự kết nối giữa Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang”. (1)

Trong số các bạn trẻ sáng tác nhạc và lời Việt để phục vụ phong trào, phải kể đến tác phẩm của các nhạc sĩ như Tùng Giang, Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang, đều là thành viên trong ban nhạc Phượng Hoàng. Nội dung các bài hát của họ phần lớn không tách rời không khí văn hóa thành thị thời chiến. Họ cũng nói về tình yêu nhưng không phải một thứ tình yêu bất chấp không-thời gian mà là tình yêu của người thanh niên trong hoàn cảnh chiến tranh với tâm trạng ưu tư, giằng xé giữa mơ ước và thực tại. 

Họ không có giấc mơ tuyệt đẹp như trong trong một thế giới yên bình nên đôi khi tình yêu của họ cũng vướng nhiều u buồn, trăn trở. Phút giây nồng nàn vừa có đó nhưng biết đâu tiếp nối là sự phũ phàng:

Hỡi anh yêu xin anh đừng buồn
Có đôi khi em hay giận hờn
Ðể cho anh quên đi ngày dài
Với bao đêm suy tư miệt mài.

Mắt môi đây xin anh đừng chờ
Chiếc hôn kia mong anh từng giờ
Ngón tay kia xin chớ hững hờ
Dắt em đi về trong đợi chờ
...

Hãy cho em môi hôn nồng nàn
Lỡ mai sau duyên ta muộn màng
Sẽ không ai cho ta vội vàng
Mới yêu đây nay sao phũ phàng.

Hãy yêu như chưa yêu lần nào
Hãy cho nhau môi hôn ngọt ngào
Hãy đưa em về nơi cuối trời
Giấc mơ yêu cùng anh trọn đời. 
     (Lê Hựu Hà, Hãy yêu như chưa yêu lần nào)

Tình cảm yêu đương của đôi lứa có nhiều cung bậc cảm xúc nên âm nhạc của các tác giả trẻ cũng diễn tả được các dạng thức của cảm xúc ấy, khi tha thiết mặn nồng, khi buồn phiền áo não. Trong bài Thương nhau ngày mưa, Nguyễn Trung Cang (2) sử dụng điệu slow rock để diễn tả dòng nhạc nhẹ nhàng với tình cảm vương vấn của thời hoa mộng, tựa những cơn mưa tuôn rơi đều đặn gợi nhớ về dĩ vãng:

Khi mặt trời vắng bóng 
Khi lời nguyền khuất lấp 
Nghe lạc loài kiếp sống sao mỏi mong. 
Như giọt buồn nước mắt 
Mưa ngại ngùng héo hắt 
Thương người về buốt giá trên đường xa. 
Mưa từng ngày thướt tha 
Mưa bàng hoàng xót xa 
Còn mưa mãi giữa bơ vơ nắng trong mơ. 
Như mưa ngày nào thấm ướt vai em 
Như mưa ngày nào khuất lấp sao đêm 
Thương em ngày nào khóc ướt môi mềm. 
Thương nhau thật nhiều biết mấy tin yêu 
Cho nhau trọn tình dẫu có điêu linh 
Xa nhau trọn đời vẫn nhớ thương nhau. 

     (Nguyễn Trung Cang, Thương nhau ngày mưa)

Hầu hết các nhạc sĩ trẻ đều viết về tình yêu, họ có những giai điệu nhẹ nhàng, êm ái:

Bây giờ là mùa thu,

Chiều vắng khói sương mù
Hàng cây khô sầu úa,

Hiu hắt đứng trong mưa.
Mưa như lệ tình xưa,

Lệ thấm mấy cho vừa
Lệ thương hoa phượng rũ,

Anh có nghe mùa thu.
Thu mang cho tình yêu một thời đã qua
Thu mang cho người yêu một đời xót xa
Mùa thu đã xóa hết cơn mong chờ
Mùa thu sẽ cất dấu chân ơ thờ
Một người bước đi, lệ tình ướt mi.
Hôm nay trời vào đông,

Tình đã chết trong lòng
Niềm cô đơn chợt đến,

Anh đã quên mùa thu.
Anh đã quên mùa thu,

Anh đã quên mùa thu...
Mùa thu!

     (Tùng Giang & Nam Lộc, Anh đã quên mùa thu)

Nhưng đôi khi uất nghẹn vì tình cảm yêu thương đã nhạt nhòa hoặc vội vàng mất đi:

Em ơi, anh muốn nói rằng

Sao em còn mãi hững hờ.

Em ơi, anh muốn nói rằng

Sao em còn mãi hững hờ.
Khi anh trọn lòng yêu em thiết tha.
Xin em đừng luôn dối lòng

Khi tim làm đôi má hồng.
Cho ta được gần nhau trong giấc mộng.

     (Lê Hựu Hà, Yêu em)

Phút đầu gặp em, tinh tú quay cuồng 
Lòng đang giá băng

Bỗng ngập tràn muôn tia nắng 
Nghe bao xót xa

Vụt bay theo cánh chim ngàn 
Dừng bước nơi này, chỉ còn em với ta... 
Ngỡ ngàng nhìn em... như đã quen rồi 
Hỏi em biết chăng

Những bàng hoàng giăng vây kín 
Như muôn tóc mây

Quyện vương đôi mắt nhung huyền 
Mộng ước đây rồi

Sao ngại ngùng vương trong ta... 
Bao đêm cô đơn,

Miên man với niềm thương nhớ 
Suy tư âu lo, men thuốc đắng trên môi 
Đã xót xa nhiều mà sao nói không nên lời 
Đành xin ôm trọn mối u hoài trong tâm tư... 

     (Tùng Giang & Trường Kỳ, Biết đến thuở nào)

Nước mắt ấy đã lau khô rồi
Đôi môi ấy đã quen tiếng cười
Cuộc tình lỡ đã phai nhạt rồi
Người tình cũ đã xa ta rồi.
Tiếc nuối mấy cũng thêm thừa
Yêu đương biết nói sao cho vừa
Cuộc tình đủ để em vui đùa
Đọa đày đó giờ đã đến mùa ...
Trong quan tài buồn

Hồn nghe thêm trống vắng
Tóc chưa xanh một lần

Nhưng tim nghe đã thương thân
Trong cơn gọi hồn đời nghe xa xôi lắm
Gót chân đi chưa mòn

Đường tình nay đã lơi dần...

     (Nguyễn Trung Cang, Phiên khúc mùa đông)

Đến một lúc nào đó, người nhạc sĩ nhận ra tình yêu đem lại muộn phiền và anh ta sẽ trở về với nỗi cô đơn và lời thở than khi đối diện với chính mình:

Đêm có tiếng thở dài,

Đêm có những ngậm ngùi,
Khu phố yên nằm, đôi bàn chân mỏi
Trên lối về mưa bay.
Đêm anh hát một mình

Ru em giấc mộng lành
Xin những yên bình cho loài chim nhỏ
Cao vút trời thênh thang.
Anh ru em ngủ không bằng

Những lời buồn anh đã viết
Anh ru em ngủ này lời ru

Tha thiết rộn ràng
Ai cho tôi một ngày yên vui
Cho tôi quên cuộc đời bão nổi
Để tôi còn yêu thương loài người.
Đêm hiu hắt lạnh lùng,

Sâu thêm mắt muộn phiền
Soi bóng đời mình bên dòng sông cũ

Tôi với trời bơ vơ.

     (Tùng Giang, Tôi với trời bơ vơ)

Giữa một đất nước tao loạn, xã hội phức tạp, lòng người thay đổi khó lường, ở đó nhiều ganh ghét, hận thù, lừa lọc, dối trá… khiến nét nhạc của các tác giả trẻ tuổi còn vướng vất bi quan hoặc là sự thở than trước nhân tình thế thái. Trong tình cảnh đó đôi khi họ cũng giấu đi dòng lệ. Nhưng rồi cũng phải yêu thương người, yêu thương đời:

Cười lên đi em ơi
Dù nước mắt rớt trên vành môi
Hãy ngước mặt nhìn đời
Nhìn tha nhân ta buông tiếng cười.
Ta không cần cuộc đời
Toàn những chê bai và ganh ghét
Ta không cần cuộc đời
Toàn những khoe khoang và thấp hèn.

Cười lên đi em ơi
Cười để giấu những dòng lệ rơi
Hãy ngước mặt nhìn đời
Nhìn đổi thay ta vang tiếng cười.
Ta không thèm làm người
Thà làm chim trên rừng hoang vắng
Ta không thèm làm người

Thà làm mây bay khắp phương trời...

     (Lê Hựu Hà, Hãy ngước mặt nhìn đời)

Bạn thân ơi cố gắng yêu thương người
Dù người không yêu ta, hãy cứ yêu thương hoài
Mặc người ai quen ai, hãy cho nhau một lời
Dù là lời nghe chua cay,

Dù là lời thoáng qua tai...
Bạn thân ơi cố gắng thương yêu đời
Dù đời không yêu ta, hãy cứ thương yêu hoài
Mặc đời ta không ai, hãy vững tin yêu đời
Dù đời chỉ yêu gian dối,

Dù đời cay đắng như vôi...
Ngày nào bầu trời còn mây bay
Lòng ta vẫn thấy yêu thương người…

     (Lê Hựu Hà, Yêu người yêu đời)

Và như thế sau khi trải qua nhiều buồn phiền, cay đắng, người nhạc sĩ cũng chỉ mong ước giản dị:

Tôi muốn mình tìm đến thiên nhiên
Tôi muốn sống như loài hoa hiền
Tôi muốn làm một thứ cỏ cây
Vui trong gió và không ưu phiền.
Tôi muốn mọi người biết thương nhau
Không oán ghét không gây hận sầu…

(Lê Hựu Hà, Tôi muốn)

oOo

 

Chiến tranh kéo dài trên đất nước, ngày càng mãnh liệt, làm tâm trạng thanh niên thiếu nữ mòn mỏi trong khát khao yên bình, muốn vươn lên để xây dựng tương lai. Dù chiến tranh chưa làm xáo trộn nhiều đời sống ở Sài Gòn cũng như các thành thị miền Nam và sự nguy hiểm không thường xuyên và tàn khốc như ở các vùng thôn quê và rừng núi, những người tuổi trẻ vẫn khao khát một thứ âm nhạc nói lên tâm trạng và khát vọng của chính mình để bồi đắp tâm hồn. Nhạc trẻ được ưa thích vì có thể phản ảnh phần nào tâm trạng này của một lớp thế hệ thanh niên bị đóng khung trong các đô thị miền Nam như thế.

 

 

 

_______

CHÚ THÍCH:

(1)  Du Tử Lê, Lê Hựu Hà: Tin yêu giữa thảm kịch, tháng 4-2016, FB DTL.

(2) Nguyễn Trung Cang còn có hai bài hát được nhiều người biết đến và cứ tưởng đó là sáng tác trước năm 1975. Bài Bâng khuâng chiều nội trú viết năm 1981 và Còn yêu em mãi là ca khúc viết vào cuối đời. Nguyễn Trung Cang mất năm 1985.

 

CHƯƠNG XIII: NHẠC SINH VIÊN TRANH ĐẤU

 

Truyền thống văn nghệ đấu tranh đô thị của giới sinh viên khởi đi từ thập niên 1940 trong kháng chiến chống Pháp. Trong hoàn cảnh mới của thập niên 1960-1970, chúng ta có thể nhận ra tác động xã hội rõ rệt của phong trào Nhạc sinh viên tranh đấu mà giới trẻ thường gọi là phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe”. Những người sáng tác các bài hát đấu tranh là những nhạc sĩ sinh viên và cả những người say sưa truyền bá tiếng hát ấy cũng chính là lớp trẻ lớn lên giữa lòng quần chúng. Họ biết phản ánh tâm tư, tình cảm, nhịp đập con tim của chính mình cũng như ghi lại tiếng nói của lương tâm và ước vọng của quần chúng. Do xuất thân từ sinh viên các phân khoa văn chương, khoa học, luật hoặc y khoa, họ chưa bao giờ là nhạc sĩ chuyên nghiệp nhưng khi đứng vào đội ngũ thanh niên đấu tranh đô thị họ tự viết lên tâm tình và truyền cảm hứng cho một lớp thế hệ trẻ và chính họ đã góp phần cho phong trào lớn mạnh. Vì là tiếng nói chân thật phát ra tự đáy lòng, các ca khúc trong phong trào văn nghệ học sinh, sinh viên thật sự đã ảnh hưởng đến suy nghĩ của nhiều lớp người khác nhau.

 

  1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHONG TRÀO NHẠC SINH VIÊN TRANH ĐẤU

 

  1. Giai đoạn 1965-1969

Những năm giữa thập niên 1960, tình hình chính trị có nhiều thay đổi với nhiều lãnh đạo quân sự và dân sự, đời sống tại các đô thị hoàn toàn bị xáo trộn nhất là khi có sự hiện diện của quân Mỹ trên đất nước ta. Trong sinh hoạt văn nghệ, nhiều sản phẩm nghệ thuật ra đời khiến người có ý thức dân tộc bước đầu cảm thấy xa lạ. Các sinh viên phản ứng lại bằng cách dùng thứ vũ khí sẵn có được sử dụng ngay trong hoàn cảnh này chính là dân ca để khêu gợi tinh thần dân tộc. Phong trào hát dân ca trong tầng lớp học sinh, sinh viên ra đời. Thanh niên hát các bài ca như Lý ngựa ô, Lý con sáo, Se chỉ luồn kim, Qua cầu gió bay, Trống cơm, Cây trúc xinh... Những trang phục cổ truyền và nhạc cụ dân tộc họ sử dụng như là một cách bày tỏ thái độ hưởng ứng trào lưu văn hóa “về nguồn”.

Trước sự lớn mạnh của phong trào văn nghệ yêu nước, các chính quyền miền Nam cũng tìm cách để giành lại quần chúng về mặt tinh thần. Họ gấp rút tổ chức những đoàn văn nghệ lấy tên Nguồn Sống, Tiên Rồng cũng như trình diễn các tiết mục dân ca. Đặc biệt là phong trào du ca Việt Nam cũng ra đời vào giai đoan này nhưng được cấp phép hoạt động, được đi hát khắp nơi, trong khi nhạc sinh viên tranh đấu thì bị cấm đoán, thường chỉ phổ biến trong khuôn viên các trường đại học.

Trong khi đó phong trào tranh đấu ngày càng phát triển. Sinh viên học sinh chuyển sang hát sử ca và kháng chiến ca. Đó là các bài hát Trên sông Bạch Đằng, Nước non Lam Sơn, Bóng cờ lau (Hoàng Quý), Gò Đống Đa, Thăng Long hành khúc (Văn Cao), Ải Chi Lăng, Người xưa đâu tá, Bạch Đằng giang, Hội nghị Diên Hồng, Khúc khải hoàn (Lưu Hữu Phước)..., và tiếp đó là các bài Sông Lô (Văn Cao), Du kích sông Thao (Đỗ Nhuận), Lên đàng (Lưu Hữu Phước)... là những bài hùng ca viết trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp.

Sử ca và kháng chiến ca có tác dụng kích thích lòng yêu nước song không phản ảnh được thực tại đấu tranh nóng bỏng của quần chúng thành thị miền Nam. Vì vậy, học sinh sinh viên đã trực tiếp sáng tác những bài ca tranh đấu để thúc đẩy hành động. Từ chủ trương của các tổng hội sinh viên, tổng đoàn học sinh khẳng định tính chất đấu tranh, phong trào ca hát trong lớp trẻ học đường càng phát triển. Đoàn văn nghệ Học sinh sinh viên Sài Gòn được thành lập từ ngày 15-5-1965 để truyền bá và thu hút các tài năng trẻ nhiệt huyết. Các sinh viên Dương Văn Đầy, Trương Thìn, Hồ Hữu Nhựt, Trần Thiện Tứ đã lần lượt lãnh đạo Đoàn văn nghệ. Bên cạnh đó còn có các đội văn nghệ của sinh viên học sinh Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt, Cần Thơ… cũng hoạt động tích cực.

Những năm từ 1966 đến 1969, nhạc sĩ Tôn Thất Lập đã có nhiều sáng tác mới như Nói với nhau, Đêm hồng, Giao ca, Người đi qua dòng sông, Hãy giành lại ruộng vườn, Từ sông Hương nhớ về sông Hát, Người đợi người, Tiếng hát tôi, Lúa reo trên khắp đồng bằng, Đốt sáng đêm tìm lấy hòa bình… Đó là những bài hát mang tính chất thức tỉnh, nhìn nhận lại vai trò của lớp trẻ giữa hoàn cảnh chiến tranh; giai điệu các bài hát còn nhẹ nhàng, tình cảm, dễ đi vào lòng người như những lời tình tự tha thiết:

Chúng ta nói với nhau bằng tiếng mẹ ru mây

Chúng ta nói với nhau câu hát nhủ trên tay

Anh ơi nói với nhau câu nói của dân ta

Tiếng hát tự trong tim, không xa hoa giả dối…

     (Nói với nhau)

Hát cho trăm năm nở lúa trên đồng

Cho biết anh hùng đuổi giặc xâm lăng…

     (Giao ca)

Tiếng hát tôi lên từ cuộc đời

Tiếng hát tôi xa dần loài người

Tiếng hát tôi rã rời chiêm bao.

Tiếng hát tôi giam vào nụ cười

Máu các anh đổ mòn đường dài

Tiếng hát tôi không còn trong tôi…

Mẹ ơi cho con xin đôi vai gầy

Trên quê hương bom đạn

Bạn bè đã thiếu mặt

Chim trời gãy cánh lạc loài hư vô…

     (Tiếng hát tôi)

Tinh thần tranh đấu của học sinh sinh viên được thắp sáng từ các buổi xuống đường, bãi khóa, từ các đêm thơ nhạc diễn ra liên tục ở Huế, Sài Gòn và một số đô thị khác.

Có thể điểm qua một số chương trình biểu diễn quan trọng của phong trào sinh viên:

- Tháng 11-1967, nhạc sĩ Tôn Thất Lập tổ chức đêm hát “Bài ngợi ca Việt Nam” tại Câu lạc bộ  Đại học Dược khoa, Sài Gòn do tạp chí Đất Mới của sinh viên Luật khoa Sài Gòn tổ chức.

- Tháng 12-1967, Ban đại diện sinh viên Đại học Sư phạm và Đại học Văn khoa Huế tổ chức đêm thơ nhạc với nhiều bài thơ rực lửa của Trần Quang Long, Ngô Kha, những bài hát đầy chất sử thi của nhạc sĩ Tôn Thất Lập.

- Nổi bật trong phong trào văn nghệ là đêm biểu diễn của sinh viên học sinh Sài Gòn vào một ngày cuối năm 1967 tại khuôn viên Trường Quốc gia Hành chánh. Hàng ngàn người đã vượt hàng rào cảnh sát phong tỏa, kéo nhau về dự Đại hội Văn nghệ Tết Quang Trung. Bên ngoài cảnh sát càng siết chặt vòng vây. Bên trong, hàng ngàn ánh đuốc càng bùng lên trên nền bức tranh hoành tráng vẽ lại hào khí Thăng Long. Tiếng hát dàn đồng ca vang lên một bài hát mới, một bài ca nghe xôn xao, rộn ràng trong lòng người như ta đã từng nghe những ca khúc Lên đàng, An Phú Đông..., một bài ca vừa mang sức sống của dân tộc vừa mang âm hưởng các hành khúc hùng tráng:

Hát cho dân tôi nghe

Tiếng hát tung cờ ngày nào

Hát qua đêm thiên thu

Lửa cháy trên trại giặc thù

Hát âm u trong đêm

Muôn cánh tay đang dậy lên

Hát cho anh công nhân

Xiềng xích như mây tan hoang

Hát cho anh nông dân

Bỏ cày theo tiếng loa vang.

     (Tôn Thất Lập, Hát cho dân tôi nghe)

Tiếng hát vừa cất lên trên sân khấu thì hàng ngàn tiếng vỗ nhịp bên dưới đã cất theo:

Ngày nao thênh thang

Dân đứng lên phá xiềng nô lệ

Ngày nao hiên ngang

Ta cùng nhau đứng chung đồng bào

Giành lại dòng sông này

Cho lúa chín khắp đồng xanh

Giành lại thành phố đó

Bàn tay nâng cao hòa bình…

     (Tôn Thất Lập, Hát cho dân tôi nghe)

Và trên nền những khúc sử ca hào hùng: Thăng Long hành khúc, Hội nghị Diên Hồng..., tiếng hát sinh viên vang lên trong đại vũ khúc Lúa thơm đồng xanh tạo nên khí thế quyết chiến đấu của nhân dân:

Người đợi người trong ngày hội trùng tu

Người đợi vào Thăng Long một tối…

Người đợi người trên vận thuyền chung

Người đợi người lúa cũng trổ bông

Người đợi nhau qua cầu đổ nát

Người đợi nghe nửa đêm hòa bình.

Lúa của anh thơm trên đồng xanh

Lúa người nghèo nuôi dân cả nước

Lúa một trăm năm nuôi anh kháng chiến

Lúa còn đời đời đuổi giặc xâm lăng.

     (Tôn Thất Lập, Người đợi người)

 

Tất cả đã biến thành biển sóng - một đại hợp xướng hùng hồn, và tiếng hát đã trở thành nhịp đập con tim của hàng ngàn khán giả trẻ hòa mình vào không khí sôi động của một dòng nhạc mới tươi vui đầy ý nghĩa như muốn ôm ấp lấy quê hương thân yêu của mình. Và tiếng hát học sinh, sinh viên các thành thị miền Nam như vậy đã trở thành tiêu biểu cho sức mạnh của phong trào.

- Ngày 27-9-1968, sinh viên Sài Gòn lại tổ chức đêm hội thảo về tình hình đất nước, xen kẽ là các bài hát tranh đấu quen thuộc.

- Ngày 9-11-1968, Hội đồng Sinh viên Liên khoa Huế tổ chức đêm nhạc Tôn Thất Lập tại giảng đường C Đại học Khoa học Huế, khởi đầu cho phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe” tại thành phố này với các giọng ca sinh viên học sinh Huế. Dịp này nhạc sĩ Tôn Thất Lập tập cho khán giả hát tập thể các bài Giao ca, Người đợi người…

- Đầu năm 1969, Tôn Thất Lập tổ chức “Đêm Hồng ca” tại Trung tâm Văn hóa và xã hội Phật giáo Sài Gòn.

- Ngày 27-12-1969 trong đêm văn nghệ “Vì hòa bình” tại Trường đại học Nông Lâm Súc, Sài Gòn đã chính thức ra mắt tên gọi phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe” tại Sài Gòn, khẳng định rõ nét nhất tính chiến đấu của phong trào văn nghệ của học sinh, sinh viên ở các đô thị miền Nam. Phong trào đã phát triển không chỉ ở Sài Gòn mà còn lan tỏa ra khắp các đô thị khác. Tuy nhiên có thể nói phong trào văn nghệ sinh viên học sinh trong giai đoạn đầu 1967-1969 chủ yếu vẫn sử dụng những bài dân ca, sử ca, kháng chiến ca, những bài thơ, bài hát yêu nước mới sáng tác khêu gợi tinh thần quật cường của dân tộc trong tiến trình lịch sử giữ nước. Giai đoạn này như một bản lề đánh dấu sự chuyển biến trong nhận thức của lớp trẻ thông qua nội dung của các sinh hoạt văn nghệ học đường. Các ca khúc tranh đấu của sinh viên đang ở bước khởi đầu, tuy chưa phong phú nhưng đã tạo tiền đề cho hoạt động sáng tác những năm về sau.

  1. Giai đoạn từ 1970 đến 1975

Từ năm 1970 trong cao trào đấu tranh, với tính chất đa dạng và phức tạp của nó, các đoàn văn nghệ được thành lập thêm tại các trường đại học:

- Đoàn văn nghệ Sinh viên Vạn Hạnh do sinh viên Vũ Kim Hạnh làm trưởng đoàn; đoàn không chỉ có tác động mạnh mẽ tại Đại học Vạn Hạnh và các tổ chức sinh viên Phật tử miền Nam mà còn bao trùm cả giới sinh viên và trí thức ngoài Phật giáo.

- Đoàn Văn nghệ Sinh viên Văn khoa Sài Gòn do sinh viên Trần Long Ẩn làm trưởng đoàn.

- Đoàn văn nghệ Thanh niên sinh viên Phật tử do sinh viên Trương Quốc Khánh phụ trách.

- Đoàn văn nghệ Thiếu nhi Cờ Lau do nữ sinh viên Mười, Hiếu, Quỳnh Như phụ trách. 

- Đoàn văn nghệ học sinh sinh viên Huế hoạt động dưới sự chỉ đạo của Tổng hội Sinh viên Huế do sinh viên Phan Hữu Lượng phụ trách; các bạn trẻ đến biểu diễn ở các trường học, các giảng đường đại học, ở các đêm không ngủ, các chương trình công tác xã hội tại các vùng quê, các trại tạm cư, thậm chí còn biểu diễn tại một vùng Công giáo ở Huế... Tiêu biểu là tiếng hát tranh đấu vang lên sôi nổi tại giảng đường Đại học Khoa Học Huế ngày 6-8-1970, với sự có mặt của nhiều sinh viên các phân khoa, đặc biệt có GS Lê Thanh Minh Châu, viện trưởng Viện Đại học Huế, tham dự.

- Ở các đô thị khác cũng có những đội văn nghệ xung kích hoạt động với sự tham gia của các sinh viên nòng cốt, các tổng đoàn học sinh được thành lập ở mỗi địa phương: Đà Nẵng, Cần Thơ, Mỹ Tho, Long Xuyên, Quy Nhơn, Đà Lạt (với hai đêm văn nghệ tại giảng đường chùa Linh Sơn năm 1972), Phan Thiết (chương trình biểu diễn tại Hội quán Thanh niên năm 1972)...

          Qua quá trình hoạt động ở khắp nơi đã hình thành các tổ chức văn nghệ yêu nước trong học sinh, sinh viên khá vững mạnh và có sức thuyết phục lớn. Trong các năm từ 1970 đến 1972, “Hát cho đồng bào tôi nghe” đã dâng lên thành một cao trào lớn mạnh. Đội ngũ ngày càng đông đảo các nhạc sĩ sinh viên được định hình, vừa hoạt động trong phong trào vừa sáng tác được nhiều ca khúc phục vụ kịp thời.

Phong trào ngày càng mở rộng với sự tham gia nhiệt tình của các nhạc sĩ đàn anh nổi tiếng như Trịnh Công Sơn, Phạm Trọng Cầu, Phạm Thế Mỹ. Học sinh sinh viên Huế không thể nào quên những đêm hát của Trịnh Công Sơn tại cư xá Nam Giao với các bài trong các tập nhạc “Ca khúc Da Vàng”, “Kinh Việt Nam”, “Ta phải thấy mặt trời” như Huế Sài Gòn Hà Nội, Chính chúng ta phải nói hòa bình, Đừng mong ai đừng nghi ngại, Ta quyết phải sống, Những giọt máu trổ bông, Nối vòng tay lớn…; nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu xuất hiện với tác phẩm Quê hương (phổ thơ Giang Nam); nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ với các ca khúc Thương quá Việt Nam, Người về thành phố và một số bài trong các hợp xướng mang màu sắc dân tộc của ông.

Song song với ca khúc, các đội văn nghệ học sinh, sinh viên còn có những màn nhạc cảnh như Đốt sáng đêm tìm lấy hòa bình, Công trường chiều nay do Tôn Thất Lập sáng tác. Đặc biệt là những vở múa lớn như Tiếng trống hào hùng, Làm thân cỏ cú, Rạch Gầm dậy sóng (nhạc của Lưu Hữu Phước), Từ sông Hương nhớ về sông Hát, Tiếng gọi sinh viên, Cánh chim Hòa bình... do biên kịch Tùng Linh sáng tác. Những vở kịch đường phố như Diêm Vương xử án do Trương Quốc Khánh và Trương Anh Dũng sáng tác. Ở Huế, thời gian này có các hoạt cảnh do Phan Hữu Lượng và Võ Quê dàn dựng. Tuy vậy sức sống của phong trào chính là từ các ca khúc của các nhạc sĩ sinh viên.

Nhìn chung, các buổi trình diễn của các đoàn văn nghệ sinh viên học sinh ở nhiều tỉnh thành đã nói lên được tâm tình của tuổi trẻ nhiệt tình yêu nước, đã gây tiếng vang trong quần chúng. Các hoạt động văn nghệ ấy đã nói lên được những khát vọng bức thiết của người dân, những điều mà mọi người Việt Nam yêu nước đều mong đợi. Rõ ràng học sinh sinh viên đã chọn văn nghệ làm phương tiện hữu hiệu để chống lại các khuynh hướng văn nghệ phi dân tộc lúc bấy giờ. Tiếng hát của tuổi trẻ còn cất cánh bay xa hơn, vượt bờ cõi Việt Nam, khơi dậy lòng yêu nước của những người con đất Việt.

 

  1. NỘI DUNG CA KHÚC CỦA NHẠC SINH VIÊN

TRANH ĐẤU

 

Ra đời từ thực tế đấu tranh và cuộc sống nhân dân thành thị, đề tài sáng tác của các nhạc sĩ sinh viên rất phong phú và đa dạng, bao giờ cũng sinh động vì được đắm chìm trong niềm ước mơ của dân tộc. Họ đã bị đánh đập, bắt bớ, cầm tù, thế mà công việc sáng tác không bao giờ ngừng nghỉ. Những nhạc sĩ sinh viên bao giờ cũng lấy nguồn cảm hứng từ nhịp đập con tim thời đại, không phải một con tim cô độc và viễn mơ, mà bao giờ cũng gắn bó với số phận khốn cùng của người dân trong cơn lốc chiến tranh, số phận ngặt nghèo trong hoàn cảnh chiến tranh. Trong những hoàn cảnh nghiệt ngã, nguy hiểm của người dân, chất liệu của tác phẩm lại càng trung thực và dễ rung động lòng người. Các bài ca tranh đấu còn gợi lên lòng nhân ái, tình yêu thương đùm bọc, đoàn kết, đó là lời nói đanh thép thể hiện ý chí chiến đấu hùng hồn của tuổi trẻ. Tiếng hát còn biểu lộ tình yêu quê hương đất nước, niềm hy vọng vô biên vào tương lai tươi sáng của dân tộc, niềm mơ ước hòa bình với cuộc sống trong thái hòa, yên vui...

 

  1. Cuộc đấu tranh trực diện trên đường phố

 

Tiếng hát đấu tranh thể hiện rõ nét và để lại dấu ấn sâu sắc thường vang lên trong các cuộc hội thảo, bãi khóa, xuống đường của các tầng lớp nhân dân và ngay cả trong tù ngục. Đó là tiếng hát của của tuổi trẻ yêu nước khi đối diện với thực tại chiến tranh trên quê hương và xã hội còn nhiều bất công, nhiều cảnh đời buồn thảm. Tiếng hát ấy không chỉ là lời kêu gọi suông, trái lại lớp thanh niên, sinh viên đó đã trực tiếp bày tỏ mạnh mẽ qua các giai điệu đầy biểu cảm và nhịp điệu hùng tráng của những con tim nhiệt thành, cháy bỏng trên những nẻo đường của thành phố:

Xuống đường, xuống đường này anh em ơi

Tay cầm tay ta cùng bước tung ra phố phường

Tim sục sôi ta cùng gánh giang sơn lúc này

Xuống đường…

     (Trần Nhật Nam, Xuống đường)

Dậy mà đi, dậy mà đi,

Ai chiến thắng không hề chiến bại

Ai nên khôn không khốn một lần

Dậy mà đi, dậy mà đi,

Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi!...

     (Nguyễn Xuân Tân, Dậy mà đi)

Dù bạo quyền đem súng đạn áp bức

Vững niềm tin thẳng đường ta đi tới

Nguyện đấu tranh đến ngày mai thắng lợi

Ngày Việt Nam Hòa bình dậy nơi nơi…

     (Trần Long Ẩn, Hát trên đường tranh đấu)

Vùng lên thanh niên ơi

Vùng lên sinh viên ơi

Vang phố phường dậy tiếng đồng bào

Ta kết đoàn và tiên phong tiến tới...

     (Tôn Thất Lập, Tiếng gọi sinh viên)

 

Khi đất nước đang còn khổ đau

Khi nhân dân đang còn cơ cầu

Sao ta lại mãi cúi đầu nghe kinh

Khi trái tim ngủ quên.

Thanh niên ơi, sinh viên ơi!

Đồng bào ta đang gọi đó

Mau thức dậy kết đoàn xuống đường

Mau thức dậy kết đoàn tranh đấu

Giành lấy những mùa xuân…

     (Nguyển Duy Khoái, Xuống đường giành lấy mùa xuân)

Hừng hực, hừng hực lửa trong tim ta

Lửa nấu nung bao triệu con người

Lửa từ trên quê hương đổ nát

Lửa từ trong bao nỗi tủi hờn...

     (La Hữu Vang, Lửa cháy lên rồi)

Khi những người trai xuống đường, họ sẽ đối diện trước hết là những nhân viên công lực đón chờ họ với dùi cui, với bình xịt hơi cay, với dây kẽm gai để ngăn cản hoặc đánh đập, bắt bớ… Nhưng các bạn trẻ ân cần nói lời nhẹ nhàng để khêu gợi tấm lòng của họ đối với đồng bào:   

Chiếc dùi cui anh cầm là của người bạn Mỹ

Nhưng người dân tuy nghèo là dân mình anh ơi.

Trái đạn cay anh cầm là của người bạn Mỹ

Nhưng Việt Nam cơ cầu là quê mình anh ơi...

À ơi súng bom đày đọa quê mình

Có chàng là chàng cảnh sát

Quên tình là tình quê hương.

Dây thép gai chắn đường mình đi

Ta kéo qua bên ơi thép gai sá gì

Đấu tranh này càng nhiều gian nguy

Thì ngàn ngàn năm vẫn còn khắc ghi.

     (Trương Quân Vũ, Hát cho người cảnh sát anh em)

Khói đạn nào khói đạn không cay

Sinh viên nào không đấu tranh ngày ngày

Dùi cui nào đánh mình không đau

Học sinh nào không mến thương đồng bào.

Đấu tranh nào không nhiều hy sinh

Người Việt nào không ước mơ Hòa bình.

Ngăn bước chân ta tiến

Đạn cay vứt tung trên đường

Nước mắt ta chảy thấm vào đất mẹ yêu thương

Đạn này dù cay nhưng ta còn lòng yêu nước

Đạn này dù độc nhưng ta còn tình nhân dân.

     (Trương Quân Vũ, Hát trong làn khói đạn)

Chúng ta hãy ca dậy lên

Cho bàn chân biến thành cốt sắt

Chúng ta hãy ca dậy lên

Cho bàn tay đánh tan độc tài...

     (Lê Nguyên, Hãy ca dậy lên)

Chiến tranh làm cho cuộc sống người dân ngày mỗi khó khăn, người lao động phải tìm việc hằng ngày, người nghèo khó lang thang kiếm ăn trên đường phố:

Sưu cao thuế nặng,

Mười mấy năm giữa đô thành này

Dân ta nghèo chỉ còn đôi tay

Tay vẫn làm mà hàm không nhai…

A hôm nay phố phường lên tiếng

Dậy bàn chân người dân anh hùng.

Chiều nay bến tàu rợp người

Đây thành trì ngăn chặn áp bức

Đây sức mạnh đạp nát bất công

Ta đi giành lại mồ hôi

Ta đi giành lấy bát cơm nuôi người…

     (Nguyễn Dân, Ngày lao động bắt đầu)

Dân tôi vùng lên như bão tố

Dân tôi vùng lên như cuồng phong

Dân tôi hiên ngang tuy sống nhọc nhằn

Dân tôi vùng lên như bão tố

Dân tôi vùng lên như cuồng phong

Không ai cướp được đời dân tôi

     (Nguyễn Xuân Tân, Làm thân cỏ cú)

Mau đứng vùng lên hỡi đồng bào ta ơi

Mau đáp lời non sông nhà réo gọi

Tranh đấu cho mai này tự do cơm áo về ta

Cho núi sông hết giặc muôn triệu người hoan ca...

     (Trần Long Ẩn, Hát trên đường tranh đấu)

Ta sinh ra là con dân nhà Việt Nam

Vì không muốn nước non sống trong điêu tàn

Vì không muốn chúng ta chết trong lầm than

Đi lên thề quyết nối theo gót chân đồng bào…

     (Nguyễn Văn Sanh, Trong lòng đồng bào)

Ta châm ngọn lửa thiêng đốt lên xóa tan tăm tối

Trong ta mỗi trái tim sẽ đốt lửa đấu tranh muôn đời

Ô lửa đấu tranh bùng lên bùng lên

Triệu trái tim hùng anh vững tin

Tiến lên trong trời quê hương tối tăm…

     (Nguyễn Quang Nhàn, Đốt lửa đấu tranh)

 

  1. Khêu gợi lòng nhân ái và tình tự dân tộc

     Tình tự dân tộc như một ngọn cờ quy tụ mọi tầng lớp nhân dân nên nhiều bài ca sinh viên đã ngợi ca hình ảnh quê hương, đất nước qua dòng chảy lịch sử, khêu gợi lòng tự hào đối với các anh hùng dân tộc, lòng nhân ái của đồng bào. Có biết bao bà má phong trào, các mẹ già, em gái đứng bên đường ủng hộ cho các con, các anh từng túi ni lông, từng múi chanh, những ổ bánh mì, những chai nước… đỡ đần cơn khát của những đứa con trẻ tuổi đang xông xáo trên đường phố giữa trời nắng cháy:

Có người mẹ Bàn Cờ tay gầy tóc bạc phơ

Chuyền cơm qua vách cấm khi ngoài trời đổ mưa.

Có người chị Bàn Cờ lính ngồi gác đầy sân

Nhận sinh viên là chồng rồi đưa về đầu đường

Có người em Bàn Cờ tảo tần trao tin thơ

Đưa anh về cuối lối và nhìn theo bơ vơ…

     (Trần Long Ẩn, thơ Nguyễn Kim Ngân,

      Người mẹ Bàn Cờ)

Hay hình ảnh người thương phế binh đau đớn trong quân y viện hoặc thất nghiệp ngoài phố phường:

Chiều mưa qua ngoài quân y viện

Có anh phế binh cụt cả hai chân

Tay lăn lăn vòng xe chật hẹp

Sao đời anh dừng lại nơi đây?

Chiều mưa qua trong mái nhà tù

Anh nhớ về ngày tháng âm u

Nhớ những đêm bom rơi tàn phá…

Hai mươi năm là cây nạng gỗ

Hai mươi năm là chiếc xe lăn

Hai mươi năm là đời nghèo đói

Hai mươi năm trọn kiếp ăn năn.

     (Tôn Thất Lập, Bài ca cho anh phế binh)

Hình ảnh cây lúa tiêu biểu cho đồng quê Việt Nam, nơi bao nhiêu người con đã sinh ra. Vô tình các nhạc sĩ trẻ cùng gặp nhau ở hình ảnh này, vì vậy rất nhiều bài ca ngợi cây lúa, đồng quê:

Hò ơi, lúa thương người chẳng thương người

Đêm đêm tiếng súng (ơ) ngày ngày tiếng bom.

Lúa chờ gặt vội hôm qua

Mẹ về không được lúa ra tro tàn

Tro tàn ấp ủ đất thơm

Mẹ về cấy lại vội vàng ra đi

Người đi lúa vẫn chờ mong

Một ngày sung lặng mẹ về lúa reo.

     (Hải Hà, Gặt vội lúa vàng)

Đồng lúa reo tay người rộn ràng

Lời hát nhanh vang dậy đầu làng

Bao nhiêu năm bom đạn đổ xuống

Trên tay ta lúa vẫn nở nhịp nhàng.

Đồng lúa như tay người mẹ già

Mười mấy năm dang rộng một nhà

Che nghiêng nghiêng anh nằm giữ nước

Trong mưa bom hay nắng đạn ngợp trời…

     (Tôn Thất Lập, Đồng lúa reo)

Non nước tôi không còn

Những đêm dài gặt lúa trên đê

Những dân cày đập lúa trong sân

Những trẻ thơ vui chờ trăng về.

Non nước tôi không còn

Tiếng khoan hò khi nước mênh mang

Bóng dân cày trên luống cơm nâu

Đâu tiếng ai kêu đò trên làng.

Non nước tôi không còn

Tiếng ai gọi trong sáng tinh sương

Tiếng trong lành ôi tiếng quê hương

Thơm gói cơm rộn ràng lên đường.

Non nước tôi không còn

Bước chân về em bé chăn trâu

Bóng ai về trên bãi dâu xanh

Khi gió đông đã về trên đồng…

     (Nguyễn Văn Sanh, Non nước tôi)

Lúa ngàn năm lúa xanh trên đồng

Lúa má trồng mòn mắt chờ mong

Lúa má gầy mười năm chinh chiến

Lúa ngàn năm héo trên bờ sông...

     (Trương Quân Vũ, Dành cho Má một ngày)

Bàn tay cha, bàn tay cha trên những bến tàu

Trên công trường mồ hôi đổ thấm

Nuôi con khôn bằng nước mắt tủi hờn.

Bàn tay mẹ, bàn tay mẹ bên luống mạ nhọc nhằn

Mong được một ngày thấy lúa đơm bông

Mong được một ngày thấy lúa đơm bông…

     (Nguyễn Huy Hùng, Những bàn tay)

Trên quê hương mến yêu đó, những chàng trai có ước mơ giữ gìn và bảo vệ cho quê hương thêm đẹp xinh và vững bền:

Nếu là chim tôi sẽ làm loài bồ câu trắng

Nếu là hoa tôi sẽ làm một đóa hướng dương

Nếu là mây tôi sẽ làm một vầng mây ấm

Là người tôi sẽ chết cho quê hương.

Là mây theo làn gió tôi bay khắp trời

Nghìn xưa oai hùng đó nên xin tiếp lời

Là người xin một lần khi nằm xuống

Nhìn anh em đứng lên cắm cao ngọn cờ...

     (Trương Quốc Khánh, Tự nguyện)

Có hay rằng một người trên dòng sông đêm

Reo cười thiết tha yêu người suốt đời

Đã vì dân mà hiên ngang đấu tranh...

     (Nguyễn Phú Yên, Thuyền em đi trong đêm)

Những cánh diều trắng ngẩn ngơ trên thành phố

Mẹ ru câu dịu hiền trong dòng đời đua tranh

Diều bay lên cao trên đồng vắng

Diều bay qua thành phố

Diều bay trong lòng người

Kêu gọi tình yêu thương…

     (Võ Đức Dũng, Những cánh diều trên thành phố)

Hoa em đã nở, hoa em đã nở,

Trên luống cày, trên rừng sâu

Trên hố hầm chiến tranh tàn phá

Hoa em đã nở, hoa em đã nở,

Trong tim người, trong cuộc sống

Trên phố phường của đồng bào ta.

     (Trần Xuân Tiến, Dâng hoa cho nước)

 

  1. Ca ngợi truyền thống oai hùng của dân tộc

Tuổi trẻ tự hào về truyền thống đấu tranh của dân tộc suốt chiều dài lịch sử với những chiến công, những gương anh hùng chống ngoại xâm. Đó là nguồn suối cảm hứng cho bao thế hệ để viết nên những khúc ca anh hùng bất tận. Phong trào Nhạc sinh viên tranh đấu càng làm rõ nét hơn với nhiều sáng tác trong giai đoạn chiến tranh này:

Đêm nay tôi đi trong thành phố

Nhớ em chống đò qua những con sông

Hoa lục bình trôi theo dòng nước đỏ

Em thơ ngây cùng gió ruộng hương đồng.

Đò em, đò em chở khách về xuôi

Đò em, đò em đưa người về ngược

Chở người thành phố về quê

Đưa người về thành phố…

     (Trần Long Ẩn, Hoa lục bình)

Không ai ngăn nổi lời ca

Lời ca mãi muôn đời

Lời ca yêu mến người.

Lời tôi ca trên đồng lúa

Lời tôi ca ánh mai hồng

Lời tôi ca cơn sóng nhỏ dòng sông.

Không ai ngăn nổi lời ca

Lời ca những anh hùng

Trọn đời yêu núi sông.

Lời tôi ca xanh đại dương

Lời tôi ca những con đường

Lời tôi ca bao dòng máu

Trên luống cày đọng giọt mồ hôi…

     (La Hữu Vang, Không ai ngăn nổi lời ca)

Ba mươi hai triệu người

Ba mươi hai triệu người

Lớn mãi mãi không thôi

Không bao giờ nô lệ (lệ) trăm năm

Không bao giờ nô lệ (lệ) một năm

Không bao giờ nô lệ (lệ) một giờ.

     (Miên Đức Thắng, Lớn mãi không ngừng)

Một tay súng một tay cày

Dân tôi suốt đêm ngày

Hò reo giữ non sông này

Còn bao lâu vẫn gồng gánh

Cho muôn đời Việt Nam ơi...

     (Tôn Thất Lập, Tiếng hát vang dậy đồng khô)

Ôi Tổ quốc ta đã nghe lời réo gọi

Trong tiếng hờn trong máu lửa ngập trời

Từng giây nghe quê hương

Xót xa đầy trong cơn thê lương

Thù quân gieo đau thương

Bao suối lệ tràn dâng muôn phương

Tổ quốc ơi ta đã nghe lời sông núi

Thề nguyền cả cuộc đời

Trọn dâng cho quê hương này

Muôn hoa tươi thắm

Ngát hương trên bao nụ cười

Gian khổ nề chi ta ra đi…

     (La Hữu Vang, Tổ quốc ơi ta đã nghe)

Đất nước ta đang còn nghèo

Nhân dân ta còn khổ đau

Trong áp bức trong xích xiềng

Trong khói lửa ngun ngút cháy...

     (La Hữu Vang, Hát cho quê hương)

Mừng xuân sang em chèo nhanh tay lái

Đón đưa người đón cả mùa xuân

Mừng xuân sang em ngắt cánh mai vàng

Hoa mai vàng thắm hồng ngày mới

Hoa mai này cho Tổ quốc em.

Ơ chim ca xuân đã đến rồi

Em ca em quyết đưa người qua sông

Em chở quê hương tới bến mùa xuân

Nước sông Hồng không bao giờ cạn

Cửu Long giang này chở vạn hùng anh…

     (Nguyễn Nam, Trên dòng sông lịch sử)

Tình Bắc Nam ta như trời biển bao la

Thề giữ quê nhà không bao giờ lìa xa

Trong cơn nguy biến đất nước gọi chúng ta

Vai chen vai tiến thấy như lòng nở hoa.

Từ đồng sâu cho đến non cao cờ phất phới

Bừng nhịp chân theo tiếng loa kiên cường đi tới

Trăm năm vang tiếng núi sông giục lên đường tiến quân

Bao nhiêu xương máu bấy nhiêu hận thù ngất trời…

     (Nguyễn Văn Sanh, Tình nghĩa Bắc Nam)

 

  1. Niềm hy vọng và mơ ước hòa bình

Cả một thế hệ thanh niên thao thức với lý tưởng cao cả, mục đích là để giành lại độc lập và hòa bình cho đất nước. Đó là ước mơ cháy bỏng của mọi con tim khi hiến dâng cuộc đời cho quê hương. Cũng như ở mọi dòng nhạc đồng thời khác, những nhạc sĩ sinh viên cũng hòa mình trong niềm cảm xúc lớn lao đó của những thế hệ thanh niên ra đời trong chiến tranh. Tuy vậy đến khoảng cuối năm 1972, phong trào sinh viên bị khủng bố và đàn áp dữ dội. Nhiều sinh viên nòng cốt bị giam giữ, phong trào ca hát giảm bớt hoạt động, các sinh viên chuyển sang phong trào Hát cho quê hương hòa bình. Dịp này một số ca khúc mới đã xuất hiện: Mai có Hòa bình (thơ Ngô Kha, nhạc Hải Hà), Gửi người em gái Y khoa (thơ Võ Quê, nhạc Trương Thìn), Hòa bình ơi ta nghe (Phan Hữu Lượng)… Hãy nghe những giai điệu của niềm mơ ước ấy:

Một sớm mai nào nghe tiếng chim ca

Tôi đang mơ thấy quê hương rộn rã

Dù bao năm qua bom trút xuống quê nhà

Trên những mùa xuân cánh chim đang còn bay.

Mừng non sông chim hót vang Trường Sơn

Chào quê hương em hát trên đồng lúa

Đêm nay giữa Sài Gòn mẹ già mắt hân hoan

Trông sao trời rực sáng sau bao ngày mong chờ.

     (Trần Long Ẩn, Một sớm mai nào)

Rồi ngày mai đất ta vươn thơm mùi lúa mới

Rồi ngày mai đất ta hoa thơm hồng môi cười

Rồi ngày mai quê hương xanh lên màu sông núi

Vì ngày nay dân ta quyết sống vì đất này...

     (Miên Đức Thắng, Hát từ đồng hoang)

 

Ta sinh ra là con dân nhà Việt Nam

Vì bao năm khát khao sống trong thanh bình

Vì bao năm khát khao sống trong tự do

Đi lên thề quyết phá tan xích xiềng lệ nô...

     (Nguyễn Văn Sanh, Trong lòng đồng bào)

Rồi hòa bình sẽ đến đến cho dân tộc Việt

Đôi chim bồ câu trắng hẹn nhau về làng xưa

Rồi hòa bình sẽ đến đến cho dân tộc Việt

Đền bù ngày gian khổ hiểm nguy nơi rừng sâu...

     (Nguyễn Tuấn Kiệt, Tin tưởng ca)

Những cánh diều trắng ngẩn ngơ trên thành phố

Mẹ ru câu dịu hiền trong dòng đời đua tranh

Diều bay lên cao trên đồng vắng

Diều bay qua thành phố

Diều bay trong lòng người

Kêu gọi tình yêu thương…

     (Võ Đức Dũng, Những cánh diều trên thành phố)

Tin em trao về hồng như nụ chín

Mai có Hòa bình khác thể yêu thương

Đường dù ngại đi rừng chen lớp lớp

Nhớ nhau thì về cho kịp trời thu.

Trời có tơ đan nắng hanh vườn cũ

Áo thô bạc màu đẹp buổi vu quy

Chim mỏi cánh bay theo đàn tình tự

Xứ mẹ con về góp hội trùng tu…

     (Hải Hà, thơ Ngô Kha, Mai có Hòa bình)

Nhưng ngày chinh chiến nay hết rồi

Chim trở về lòng thầm reo vui

Và sông núi hết điêu linh

Biết bao người sống vui hòa bình...

     (Nguyễn Phú Yên, Tiếng chim rừng hát mừng sông núi)

Ơ đêm nay qua dòng sông

Sóng Rạch Gầm vang nhắc chiến công

Ta đi về Cao nguyên lòng nhớ mãi rừng Việt Bắc

Ta nhớ ơ người không còn để nhìn

Mùa xuân vinh quang bốn mùa hoa nở huy hoàng

Ta nhớ ơn đời vì đời yêu ta

Cho ta sống làm người Việt Nam…

     (Nguyễn Quang Nhàn, Ta đi trên đường quê hương)

Dậy đi em hòa bình đến rồi

Trên phố phường trên đại lộ ngập tiếng reo vui

Này bác nông phu kéo sâu thêm luống cày

Cho đất màu lên ngọn lúa xanh

Nuôi sống dân gầy sau mùa lửa máu.

Dậy đi em hòa bình đến rồi

Trên mắt mẹ ngấn lệ mừng gò má nhăn nheo

Thằng bé lên ba líu lo khoe gói quà

Ngơ ngác nhìn thiên hạ hát ca…

     (Xuân An, Dậy đi thôi hòa bình đến rồi)

Mặt trời sẽ đến xua đêm dài

Hòa bình sẽ nở trên môi người

Trời rợp bóng chim câu lượn bay

Mặt trời sẽ đến,mặt trời sẽ đến

Rồi một ngày mặt trời

Hòa bình sẽ đến trên quê hương

Và trong trái tim ta.

     (Nguyễn Duy Khoái, Trong mưa bom mặt trời sẽ đến)

Có tiếng gió khi chiều về

Con đê vui xô rì rào

Vi vu sáo diều reo vi vu.

Có tiếng võng đêm mẹ già

Ru con ngoan ơi ới à

Trai quê gái làng vui câu ca.

Hò ơi ơi ơi, ơi hò

Lúa đã chín ngô khoai nhiều

Nuôi dân ta thơm nồng đất ta.

     (Nguyễn Tuấn Kiệt, Ước vọng ca)

Người đã đi đi trên non cao
Nay đã về trên đồng ruộng sâu
Nay đã về trên thành phố mới.
Cả tuổi xanh dâng cho quê hương
Đem máu mình nuôi lại tình thương
Đem máu mình nuôi ngày hòa bình…
Người đã đi người đã tới
Trời Việt Nam hôm nay đổi mới.
Mặt trời ơi loài người ơi
Hát vang lên cho thỏa niềm vui…
Nụ cười trên môi em thân yêu
Trên nẻo đường quê mẹ tàn hoang
Trên đất khô đã thành ruộng vàng.
Ruộng đồng ơi thị thành ơi
Trời Việt Nam hôm nay rực sáng
Nhà của ta ruộng của ta
Cánh tay ta xây lại đời ta…

     (Phạm Thế Mỹ, Người về thành phố)

 

                                   oOo

 

Với cả trăm ca khúc tranh đấu của học sinh sinh viên thành thị miền Nam được sáng tác từ 1965-1975, các tác giả sinh viên đã sáng tạo ra các tác phẩm âm nhạc đầy rung cảm và thuyết phục. Tuy chỉ là những ca khúc quần chúng ngắn gọn nhưng có sức biểu hiện lớn; chúng kế thừa một cách sáng tạo tính chất âm nhạc dân gian, màu sắc âm điệu dân tộc, đã mở được cánh cửa lòng và tác động sâu sắc vào tâm hồn sinh viên học sinh. Các bài ca tranh đấu đã đạt được sự kết hợp chặt chẽ giữa nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật, tạo được sự rung cảm sâu xa và chinh phục được trái tim quần chúng.

Nhạc sinh viên tranh đấu là làn gió mới trong trái tim thanh niên, là lời réo gọi của Tổ quốc giục giã tuổi trẻ đấu tranh cho một đất nước hòa bình. Trước giảng đường Đại học Văn khoa Sài Gòn năm 1971, GS Nguyễn Trọng Văn đã phát biểu:“Song song với nền văn nghệ thoát ly, ru ngủ, đó là sự lớn mạnh của nền văn nghệ đấu tranh. Những sáng tác của thanh niên học sinh sinh viên tranh đấu đã thật sự ra đời trong khung cảnh sôi động, cụ thể gắn liền vào hoàn cảnh dân tộc. Một bên là văn nghệ xế chiều, một bên là văn nghệ rạng đông”. Và thứ văn nghệ rạng đông ấy là thứ văn nghệ yêu nước bởi các nhạc sĩ chủ xướng không coi sáng tác là để tiêu khiển, mua vui mà là để thể hiện thái độ sống, một phương tiện đấu tranh, thể hiện được ước mơ, khát vọng của quần chúng về một tương lai tươi đẹp.

Phong trào Nhạc sinh viên tranh đấu - tiếng hát lương tâm của một thời đại - đã đề lại dấu ấn sâu đậm trong lòng thanh niên về một nền văn nghệ dấn thân, yêu nước miền Nam, khêu gợi được tinh thần dân tộc, đã góp phần cống hiến xứng đáng cho nền âm nhạc đương đại của lớp trẻ Việt Nam trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt của đất nước.