Thứ Bảy, 24 tháng 10, 2026

Những dấu vết bên trong ta (Đọc Con ngựa trên bãi biển của Ý Nhi)

 Bảo Chân

Với kinh nghiệm của một người đọc thường xuyên tìm hiểu về truyện ngắn, tôi không khỏi thốt lên khi đọc tập truyện Con ngựa trên bãi biển của Ý Nhi vừa phát hành: Đây hẳn là tập truyện ngắn xuất sắc và sáng tạo của bà. Mỗi truyện bà viết ra là nơi những mẩu ký ức, những nỗi mất mát được tái hiện, vừa hư ảo vừa hiện thực, thoáng hiện thoáng mất. Còn có điều gì đó được kể ra, nữa như hiện sinh nữa như phi lí trong cuộc đời. Phải chăng lối biểu đạt mới này là hiện thân của khát khao tìm kiếm sự hài hoà thực tại trong một vũ trụ nội tâm đa tầng và kín đáo? Chính vì thế, tập truyện ngắn mới này ẩn chứa những phẩm chất văn chương rất Việt Nam lại vừa mang tính phổ quát của thân phận con người hiện đại.

Giữa không gian và thời gian của ký ức

Quả nhiên, bên này “cái ngấn nhỏ”, giọng văn của Ý Nhi vẫn giữ nhịp điệu và bản sắc riêng. Vẫn là lối viết trầm tĩnh bằng những câu văn dàn trải và chậm rãi như hơi thở của một người thiền. Thế nhưng trên nền văn phong quen ấy là những khoảng lặng dài hơn và sâu hơn, là những hình ảnh lặp đi lặp lại vừa tạo nên điệp khúc vừa hình thành một hệ thống các ảnh-biểu-tượng. Toàn tập hai mươi truyện ngắn tạo thành một dòng chảy xuyên suốt, được kết nối bởi một “bầu khí” cô đơn, ký ức và sự mong manh của mọi sự tồn tại.

Thế nhưng, có một motif mới xuất hiện trong bút pháp lần này, chính là dấu vết – xuất hiện ngay từ truyện mở đầu bằng những hình ảnh day dứt và trở nên xuyên suốt tập sách. Đó là những ngón tay thanh tú của T. và của cô bé hát rong, là bức tranh Thiếu nữ bị phủ vải, là con ngựa tía bất chợt xuất hiện rồi biến mất trên bãi biển, là cội cây Mai đã khô cháy nhưng vẫn được bà Siêng tưới nước hàng ngày, là chiếc cửa thoát hiểm treo bảng đỏ không thực tồn tại, là những con hẻm nhỏ. Những dấu vết ấy, xuất hiện trong từng truyện ngắn, bằng biểu tượng này hay biểu tượng khác, không phải là những motif để vãn hồi mà để nhắc rằng quá khứ vẫn tồn tại đó, trong ký ức, lặng lẽ ám ảnh hiện tại.

Các không gian trong truyện đều có đặc tính chung của một “liminal space” – là ý niệm về một kiểu nơi chốn bị bỏ quên, hoang vắng:

Đó có thể là những nơi chốn hoang vắng vừa huyền ảo vừa hiện thực, biểu tượng cho một không gian chờ đợi vô định: bãi biển vắng tanh có cát trắng, sóng vỗ và chỉ có ông già, con sóc đen và con ngựa tía thoáng hiện, hoặc, hồ Mộc trong Ở Mộc – một hồ nước tự nhiên, nước lạnh thấu tim, nhưng khi “anh” quay lại thì “Mộc không có hồ nước”. Hồ chỉ tồn tại trong khoảnh khắc anh lạc lối, rồi biến mất như chưa từng có. Còn công viên trong Đường xuyên qua công viên cũng vậy – vốn là lối tắt quen thuộc nhưng bỗng trở thành mê cung ký ức, với cửa thoát hiểm treo bảng đỏ mà kỳ thực không dẫn về đâu.

Đó có thể là không gian đổ nát hoang tàn như vườn hoang trong Hoa tứ quý và Cội mai – một kiểu không gian biểu tượng cho sự tan vỡ. Cánh cửa sắt gãy bản lề, nhà tròn lợp lá dừa để trống, cỏ dại mọc tràn, hai ngôi mộ vô danh… Tất cả tô vẽ nên vết tích của một thời đã qua. Đặc biệt hơn trong Cội mai, gốc mai đã chết từ lâu (bị bom cắt ngang) nhưng bà Siêng vẫn tưới nước, vặt lá, vít cành tưởng tượng tạo nên khu vườn ở đó cây không chết hẳn, mà trong trạng thái “nửa sống nửa chết” – giống như chính ký ức và sự chấn thương của con người.

Đó còn có thể là không gian bên trong, chật chội, cô lập như căn phòng trống sau mưa, khách sạn Mộc Hương chỉ có một mình anh, phòng trên lầu hai của quán PM, mê cung hẻm phố Y – hẻm nhỏ mở ra hẻm nhỏ hơn… Chúng đều là những nơi khép kín, ở trong đó nhân vật đối diện trực tiếp với chính mình. Cũng có thể so sánh chúng giống như “buồng ký ức”: nhỏ bé, tối tăm, nhưng chứa đựng cả một vũ trụ.

Những kiểu không gian này hình thành nên những nơi chốn trung gian siêu thực như những “cõi chờ” của ký ức, ở nơi nhân vật như đứng ở vạch hay khe hở giữa hai bờ thực tại và hồi ức. Chúng đồng thời góp phần tạo ra một thi pháp mới trong truyện ngắn của Ý Nhi – bút pháp dòng ý thức nhuốm màu hiện sinh phi lí. Bởi lẽ mọi thứ của con người đều dễ xoá nhoà – tồn tại đó mà biến mất đó (cô gái trẻ biến mất, hồ nước biến mất, con ngựa biến mất, cửa thoát hiểm không có thật); mọi thứ con người có không gì bền vững – có đó rồi bị phá huỷ đó (nhà cửa, làng xóm, cây cối). Vậy nên cái con người sống chỉ còn là những dấu vết.

Và rồi, các không gian đó lại được hoà quyện vào một chuỗi thời gian xoắn ốc như những vòng lặp, rồi neo lại đó, để cho không gian và thời gian cùng mở ra một vũ trụ huyền ảo:

Đó là nơi có ký ức quá khứ xen cài trong hiện tại. Trong truyện Dấu vết, người hoạ sĩ ở trong căn phòng trú mưa vừa sống lại khoảng thời gian sống bên T., vừa chạy đuổi theo bóng T. trên phố hiện tại. Ta thấy ở đây, thời gian chiến tranh và thời gian ở thành thị hiện tại đan xen vào nhau chứ không theo tuyến tính. Trong truyện Con ngựa trên bãi biển, ông già vừa ngồi dịch ghế theo bóng nắng (thực tại, chậm rãi) vừa nhớ lại Goethe năm 75 tuổi, nhớ con sóc năm xưa, nhớ cuốn sách vừa xuất bản – tất cả sự kiện đều hiện diện trong buổi chiều.

Đó là vòng xoáy thời gian vô vọng. Đây là kiểu thời gian nổi bật và mạnh mẽ nhất trong tập truyện. Ông già chờ con ngựa mỗi buổi chiều, dịch ghế từ phải sang trái rồi từ trái sang phải. Bà Siêng chờ cây mai nở dù cây đã chết từ nhiều chục năm. Nhân vật đi xuyên qua công viên, trở đi trở lại cái hành trình ấy nhiều lần vẫn gặp cửa thoát hiểm. Thời gian không tịnh tiến mà như một vòng lặp vô tận của sự chờ đợi.

Đó còn là thời gian trở nên một khoảnh khắc vĩnh hằng. Trong Búp bê biết khóc, khi người đàn ông lạc vào sông gặp ông già câu cá thả cá trở thành một khoảnh khắc thời gian ngoài thời gian – như một giấc mơ giữa ban ngày; hay là một thời điểm tối hậu – vào lúc cận Tết (23 tháng Chạp, 8 giờ sáng → 12 giờ trưa) trong Hoa thanh liễu khi mọi việc diễn ra chậm rãi, vòng vo, lạc lõng; và còn là khoảnh khắc cuối – khi anh nhận bó hoa – là khoảnh khắc thời gian ngưng đọng, đẹp và buồn.

Ký ức và những vết thương

Nếu có một sợi chỉ đỏ xuyên suốt các truyện ngắn thì đó chính là ký ức của vết thương không lành. Sợi chỉ xuyên suốt này được chi tiết hoá bằng những chủ đề khác nhau trong từng truyện ngắn:

Trong Dấu vết – truyện mở đầu và cũng là truyện dài nhất đã thả neo cho chủ đề biểu tượng của toàn tập truyện – người họa sĩ suốt đời mang ký ức về T., cô gái khoảng mười lăm mười sáu tuổi đã cứu mạng anh trong chiến tranh. Đó không chỉ là một mối tình thoáng qua mà giống như “món nợ”: “không có họ thì anh đã chết”. Sau này, T. hiện lên qua bức tranh Thiếu nữ – tác phẩm tốt nghiệp mà anh chưa từng triển lãm, qua những ngón tay thanh tú của cô bé hát rong lang thang, qua bóng dáng thoáng qua trên bãi biển hay trong con hẻm. Anh đuổi theo, hỏi han, thậm chí theo dõi ngôi nhà nghi ngờ là của T., nhưng mọi nỗ lực đều tan vỡ. Con bé hát rong lớn lên giống T. đến mức anh quyến luyến, rồi cũng lạc mất. Rốt cuộc thì anh nhận ra T. đã “chìm lấp trong biển người kia như ngôi nhà nhỏ, như làng xóm của cô chìm lấp dưới mặt hồ dợn sóng nọ”. Ở truyện ngắn này, Ý Nhi không cho nhân vật một cuộc đoàn tụ nào. Bà để anh mãi mãi đuổi theo những dấu vết – ngón tay, nụ cười, dáng đi nhẹ nhàng – những thứ vừa cụ thể vừa mơ hồ, vừa gần gũi vừa xa vời. Đó là nỗi đau điển hình của thế hệ hậu chiến: không chỉ mất mát vật chất mà còn mất mát ký ức, mất mát những con người đã cứu sống mình.

Cùng chủ đề truy tìm từ ký ức, cặp truyện ngắn Bức ảnh mờ nhoè và Tấm bưu ảnh thứ 5 tạo một liên văn bản thú vị về cuộc truy tìm những con người và những vết tích quá khứ từ những bức ảnh mơ hồ

Con ngựa trên bãi biển là truyện ngắn trung tâm của tập – ở đó chủ đề chờ đợi vô vọng được đẩy lên đỉnh điểm. Ông già chọn khu nghỉ dưỡng ven biển chỉ vì một bài báo quảng cáo. Ông ngồi dịch ghế theo bóng nắng, chờ con ngựa tía xuất hiện mỗi chiều. Con ngựa “từ đâu tới, tới vào lúc nào, ông không biết, đứng cúi đầu xuống cát như đang tìm kiếm thứ gì đó”. Ông chờ đến mức quên cả lý do mình ra đi, quên cả việc sắp về thành phố. Khi chàng trai trẻ bảo “ngựa không ăn cát, không uống nước biển, nó đến đây làm gì”, ông chỉ ậm ừ. Con ngựa là biểu tượng hoàn hảo cho ký ức: thoáng hiện, chợt biến mất, không thể nắm bắt. Cơn mưa trái mùa, tiếng cháy kho giả (thùng các-ton chứa yên cương ngựa), cô bé tiếp tân và chàng trai trẻ – tất cả chỉ làm nổi bật sự trơ trọi của ông. Cuối cùng ông già về thành phố, nhưng con ngựa vẫn ám ảnh ông. Đến đây thì, độc giả của Beckett hẳn sẽ nhận ra cái triết lí trừu tượng và phi lý. Chúng ta có thể nói, bằng truyện ngắn này, Ý Nhi đã tạo ra một biểu tượng phi lí của sự chờ đợi kiểu Beckett – nếu độc giả phương Tây có một Godot là hiện thân của thực tại bất toàn và hư ảo thì độc giả Việt giờ đây có “con ngựa trên bãi cát” như biểu tượng về dấu vết của cái đẹp, của tuổi trẻ, của sự bình yên đã mất, về một hạnh phúc đi tìm không bao giờ gặp. Ở đây, sự chờ đợi của Ý Nhi vừa cụ thể (một con ngựa trên bãi biển) vừa siêu hình (một phần linh hồn đã lạc mất).

Cội mai và mối liên kết chặt chẽ với Hoa tứ quý đưa người đọc sang một tầng ý niệm khác: thiên nhiên hiện diện như liều thuốc chữa lành cho ký ức. Nhưng nghịch lí cũng chính là thiên nhiên là chứng nhân của sự mất mát. Bà Siêng – đứa trẻ bị bỏ rơi được ông bà nội bác Bảy nuôi nấng – ngày ngày chăm sóc cây Mai mà ông nội trồng từ khi bà còn nhỏ. Cây đã chết từ lâu sau một mảnh bom, chỉ còn gốc khô, nhưng bà vẫn tưới nước, vặt lá vàng, vít cành trong trí tưởng tượng, thì thầm với nó như với người sống. Bà từ chối đi thành phố chơi Tết vì không “ai chăm cây Mai”. Nếu như trong Hoa tứ quý, ông già lạc vào khu vườn hoang sau cơn mưa, ngồi bên bậc thềm nhà tròn, nhớ lại mẹ ngồi nhặt rau, nhớ vợ cũ rời đi, nhớ con trai đào giun cho vịt; trong khu vườn ấy hoa tứ quý – loài hoa dại với bốn phẩm chất cao quý (không sợ mưa gió, không sợ đất cằn, hoa nhiều màu, làm thuốc chữa bách bệnh) – trở thành biểu tượng của sức sống kiên cường và cũng của ký ức tuổi thơ; thì trong Cội mai Bà Siêng không điên, bà chăm sóc gốc mai đã chết như một cách sống với “tình thế” – cụm từ xuất hiện bốn lần trong truyện Ở Mộc, một lần trong truyện Chiều là chìa khoá đọc thân phận các nhân của toàn tập truyện này: con người thường chọn một giải pháp tạm thời để sống chung với khoảng trống nội tâm. Cội mai chết nhưng vẫn sống bên trong bà Siêng; hoa tứ quý dại nhưng vẫn nở rực rỡ. Thiên nhiên ở đây không phải cảnh quan lãng mạn mà là những cây cỏ đời thường như người bạn đồng hành thầm lặng của nỗi cô đơn con người.

Tất cả những ký ức và chấn thương ấy, cái sợi chỉ đỏ ấy đan nối qua từng truyện và kiến tạo mối liên kết về biểu tượng và liên văn bản: dấu vết và ký ức (trong các truyện: Dấu vết, Tấm bưu ảnh thứ 5, Bức ảnh mờ nhoè); Cô đơn và chờ đợi (trong các truyện: Con ngựa trên bãi biển, Cội mai, Hoa tứ quý), người phụ nữ như biểu tượng của “sự vắng mặt có mặt” (qua các nhân vật: T., bà Siêng, cô bé hát rong…); Âm thanh và thời gian (ở các truyện: Gió, Mất sóng, Hai giờ sáng) và “giải pháp tình thế” như cách con người đương đại đối diện với tổn thương (trong các truyện: Ở Mộc, Hoa thanh liễu).

Vượt qua “cái ngấn nhỏ”

Đọc đến Ở Mộc, truyện ngắn cuối cùng trong tập truyện Con ngựa trên bãi biển, tôi đã nhìn rõ hơn “cái ngấn nhỏ”, cái khe hẹp tôi vừa lách qua – tôi đã hiểu tại sao Ý Nhi khiến tôi ngạc nhiên trong tập truyện mới này. Không chỉ bởi vì tác giả đã viết truyện ngắn theo cách rất riêng: ngôn ngữ đậm chất thơ, các chi tiết không tả thực mà gợi hình, mang sức nặng ký ức mà còn bởi vì cuốn sách mang đến ít nhất ba khám phá mới mẻ. Thứ nhất, các dấu vết không còn là chi tiết mà trở thành thi pháp truyện ngắn: bà không tái hiện quá khứ mà khắc họa lại vết tích của nó trong thực tại. Thứ hai, sự kiến tạo liminal space – không gian hoang vắng – thành những hiện thân của không gian ký ức và tâm hồn người Việt hậu chiến. Thứ ba, ý niệm về “tình thế” – một cách nhìn nhân văn và sâu sắc về cách con người đương đại đối diện với tổn thương: không thể giải quyết triệt để, người ta tìm cách hoà giải, bù đắp, sống chung với nó.

Trong sự sáng tạo mới đó, tập truyện này của Ý Nhi tiếp nối bút pháp tự sự nữ tính và chiêm nghiệm sâu của bà nhưng đã cách tân bằng một thi pháp hiện sinh phi lí rất hiện đại – và như thế Ý Nhi đã biến những câu chuyện vốn như dòng sông chậm rãi, lặng lẽ, trữ tình thành những truyện siêu thực để kể về những phi lí hiện sinh của đời người.

Đặc biệt, Ý Nhi đã tạo ra một thứ “hiện thực huyền ảo nội tâm”, không phải kiểu của Marquez với những yếu tố siêu thực rực rỡ, mà là kiểu Hirokazu Koreeda mà bà trích dẫn trực tiếp phim After Life trong truyện Bức ảnh mờ nhoè: khi bà Vân cố “tìm lại” hình ảnh T. trong bức ảnh mờ nhoè cũng giống như việc chọn một ký ức đẹp đẽ nhất để mang theo vĩnh viễn. Hay mê cung các con hẻm đô thị trong Hoa thanh liễu: hẻm nhỏ mở ra hẻm nhỏ hơn, phường 15 trở thành phường 9, số chẵn thì thuộc phường khác. Lựa chọn này khiến các truyện trở nên đa tầng, cấu trúc tự-sự-xoay-vòng – ẩn dụ của nỗi nhớ đeo bám trong thực tại, tạo nên chiều kích triết lý phổ quát về ký ức và sự mất mát. Một lựa chọn cách tân hình thức và lối viết truyện ngắn khi truyện ngắn đương đại Việt Nam vốn vẫn luôn thiên về cốt truyện.

Tập truyện đã khiến tôi suy nghiệm rất lâu. Có cái dư vị man mác dai dẳng của những câu chữ, của những hình ảnh, trở đi trở lại trong tâm trí. Đó không phải là nỗi buồn, mà là dấu vết. Tôi tự hỏi có phải mình cũng mang những dấu vết tương tự? – đã từng lạc trong một “khách sạn Mộc”, cũng từng chờ một con ngựa trên bãi biển, từng đứng trước một “cửa thoát hiểm” không tồn tại, từng chăm sóc một “cội mai” đã chết từ lâu trong vườn. Tôi nhận ra Ý Nhi không chỉ đơn giản là kể chuyện. Bà độc thoại. Và tiếng độc thoại thì thầm ấy để lại một dư âm thật lâu dài như một lời nhắc nhở dịu dàng và đau đớn rằng: chúng ta đều đang sống với những dấu vết bên trong ta.

Sài Gòn 15-10-2026