Thứ Năm, 1 tháng 10, 2026

Nguyễn Khắc Dương – Nguyện lót chân êm khách vỉa hè!

 (Kính tặng cô giáo thương yêu của con, cô Nguyễn Thị Dư Khánh)

Phạm Hiền Mây

I. AI CÓ CHỜ AI ĐẾN BẠC ĐẦU

Nguyễn Khắc Dương là một người, mà tiểu sử của ông không thể kể bằng vài dòng như ngày sinh, nơi sinh, học hàm, hay chức vụ được.

Với một đời người đã đi qua hơn một thế kỷ, cuộc đời Nguyễn Khắc Dương là một con đường dài của đi tìm, qua nhiều địa danh: Hương Sơn, Hà Tĩnh, rồi Huế, rồi miền Nam, rồi Paris và Đại học Sorbonne, rồi Đà Lạt; qua nhiều thế giới tinh thần: những môi trường tu trì, giáo dục và đại học; đến những năm cuối đời trong dáng dấp một “hành giả” lặng lẽ.

Ông là một trí thức xuất thân từ gia đình Nho học nhưng lại bước vào thế giới Kitô giáo; là một người học triết Tây phương nhưng tâm hồn vẫn nặng ký ức Đông phương. Hai bờ ấy không hòa tan vào nhau nhưng cũng không triệt tiêu nhau. Chúng cùng hiện diện trong một con người, như hai bờ của một dòng sông cùng ôm lấy một dòng nước.

Nguyễn Khắc Dương sinh ngày 24.09.1925, tại làng Thịnh Xá, nay thuộc xã Sơn Hòa, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, trong một gia đình khoa bảng Nho học nổi tiếng. Cha ông là Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm. Anh trai là bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, và các anh chị em khác cũng là những người làm việc nổi tiếng trong các lãnh vực như văn hóa, khoa học, giáo dục: Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Khắc Phê, Nguyễn Thị Dư Khánh, Nguyễn Thị Thiếu Anh, Nguyễn Thị Phương Thảo. Sanh ra trong một gia đình mà cha là bậc đại khoa và từng giữ nhiều trọng trách trong triều Nguyễn như vậy, nên Nguyễn Khắc Dương, ngay từ nhỏ đã thấm nhuần tinh thần: coi trọng việc học, đạo đức và lễ nghĩa.

Ông học tại Huế, trường Thiên Hựu – Providence; đi qua những năm tháng biến động sau 1945; bước vào đời sống tu trì Phanxicô; sang Pháp tu học và tốt nghiệp Cử Nhân Triết Học tại Đại học Sorbonne.

Năm 1965, Nguyễn Khắc Dương trở về Việt Nam; từ năm 1966, ông lên Đà Lạt giảng dạy Triết học tại Viện Đại học Đà Lạt, sau đó đảm nhiệm chức vụ Phó Khoa Trưởng và Quyền Khoa Trưởng khoa Văn - Triết của Viện Đại học Đà Lạt. Nhìn từ bên ngoài, đó là một sự nghiệp học thuật đáng nể. Nhưng như ta đã chứng kiến, điều còn lại nơi ông, sau cùng, chẳng phải là chức danh.

Ông có bút hiệu là Thế Tâm. “Thế” là cõi đời, cõi thế. “Tâm” là tấm lòng. Hai chữ đặt cạnh nhau thành một lời tự nhận khiêm cung: tấm lòng ở giữa cõi đời.

Bốn bài thơ của Thầy Nguyễn Khắc Dương, mà tôi muốn giới thiệu đến bạn đọc hôm nay, gồm có bài Chiều Hương Giang, là những hoài niệm về quê hương, bạn bè, người xưa; bài Tương tư là nỗi niềm cô đơn, chia lìa, chờ đợi của lữ thứ; bài Uy Viễn tướng công vẽ chân dung của kẻ sĩ qua hình tượng Nguyễn Công Trứ, và cuối cùng, bài Sở nguyện, đi từ cái tôi của một lữ hành đến lòng thương người và lời nguyện dâng hiến.

Đặc biệt, trong bài thơ Tương tư, có một câu rất tình và rất thơ – ai có chờ ai đến bạc đầu. Chờ này, là chờ một người, hay chờ bạn cũ, hay chờ quê hương, hay chờ một cuộc trở về, hay tác giả chờ một câu trả lời cho ý nghĩa của đời người chăng?

Hay, cả cuộc đời của Nguyễn Khắc Dương là một cuộc chờ đợi khôn nguôi?

******

II. BÀI THƠ CHIỀU HƯƠNG GIANG

Bến đò Thừa Phủ không còn nữa

Nhớ những chiều xưa nhạt nắng vàng

Thương ai đứng đợi, người không tới

Ngang vai tóc chải suối thời gian

Bóng chiều xuống tơ trời vương ngọn cỏ

Đàn chim bay nghiêng cánh nắng chiều rơi

Bốn phương tản mát, hỡi những ai bè bạn

Còn nhớ chăng trời mây nước Hương Giang

Những buổi chiều bến nước của quê hương

Kẻ còn sống cũng như người đã khuất

Hãy về đây chớ ngại gì sớm muộn

Cùng nhau ta soi bóng nước Hương Giang.

Bài thơ mở đầu bằng một lời báo tang, địa danh đã hóa thành ký ức – Bến đò Thừa Phủ không còn nữa. Không chỉ mất một bến đò, mà cả một không gian văn hóa của Huế xưa cũng đã lùi vào quá khứ, với những chuyến đò, những người lái đò, những buổi chiều sông nước và bao kỷ niệm của những thế hệ từng đi qua nơi ấy.

Sang câu thứ hai – […]  những chiều xưa nhạt nắng vàng – nắng không còn rực rỡ nữa mà đã “nhạt”. Thời gian giờ đây được cảm nhận bằng thị giác, ánh sáng phai như ký ức phai. Cảnh vật hiện tại đã trở thành chiếc gương phản chiếu quá khứ để nhà thơ nhìn vào và thấy những buổi chiều xưa cũ.

Từ cảnh, tác giả tả sang người - Thương ai đứng đợi, người không tới. Nỗi nhớ quê chuyển thành nỗi nhớ một bóng người. “Đợi” và “không tới” đã dựng nên một khoảng cách, thứ khoảng cách mà dặm đường cũng không thể đo được. Vậy, người đã không tới ở đây là ai? Bạn, người thân, hay những người đã đi xa, mãi mãi? Ở đây, có nên chăng người đọc, cũng không cần tác giả phải giải thích cụ thể, rõ ràng. Mà theo tôi, chính sự bỏ ngỏ này, mới làm câu thơ có sức ngân, như tiếng chuông vọng lại từ một nơi mênh mang, xa vắng vậy.

Ngang vai tóc chải suối thời gian – là một hình ảnh rất thơ. Suối thời gian vừa là dòng thời gian, vừa gợi đến dòng Hương Giang, khiến con người và dòng sông như hòa nhập vào nhau làm một.

Sang khổ thơ thứ hai, thiên nhiên cũng mang tâm trạng như người – bóng chiều xuống tơ trời vương ngọn cỏ. Buổi chiều giờ đây đã thành một trạng thái tâm hồn. “Tơ trời”, “ngọn cỏ”, “cánh nắng” tạo nên một thế giới mong manh, nhẹ đến mức tượng chỉ cần một hơi thở là tan. Đó là thế giới của người biết rằng, tất cả đều sẽ rồi mất đi, và vì thế, họ sẽ nhìn mọi thứ bằng một sự trìu mến đặc biệt.

Rồi một tiếng gọi bỗng bật ra – Bốn phương tản mát, hỡi những ai bè bạn. Con người bị thời gian và cuộc đời phân tán khắp bốn phương, mỗi người mỗi ngã. Ngay tại câu thơ này đây, ta thật khó mà không nhớ đến hành trình của cuộc đời Nguyễn Khắc Dương: Hà Tĩnh, Huế, Paris rồi Đà Lạt. Và từ đó, tiếng gọi “hỡi những ai bè bạn” càng dễ gợi lên hình ảnh một con người từng đi qua nhiều miền đất và những người thân quen, nay đã tản mát về nhiều phương trời.

Hương Giang, trở thành nơi quy tụ – Còn nhớ chăng trời mây nước Hương Giang. Dòng sông trở thành ký ức chung, là nơi mà những người xa xôi vẫn có thể tìm về đặng mà gặp lại nhau. Mới hay, quê hương chính là nơi mà những con người vì hoàn cảnh mà phải phân tán, vẫn luôn chung lòng nhớ về.

Kẻ còn sống cũng như người đã khuất bỗng trở nên liền kề. Người đã khuất vẫn hiện diện trong ký ức người đang sống. Quê hương trở thành nơi gặp gỡ của người sống và người chết, một cuộc hội ngộ mà lịch sử không cho phép, nhưng trong cõi lòng nhớ nhung thì hoàn toàn có thể.

Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh Cùng nhau ta soi bóng nước Hương Giang. “Soi bóng” có phải chăng là tự soi mình trong thời gian? Hương Giang soi bóng con người nhưng đồng thời con người cũng soi lại chính cuộc đời mình. Nhìn xuống mặt nước, ta thấy mình, và thấy cả những người đã cùng mình nhìn xuống mặt nước ấy, hôm xưa.

******

III. BÀI THƠ TƯƠNG TƯ

Cảnh cũ còn đây khách vắng đâu

Mình ta vò võ suốt đêm thâu

Xuân Hương sóng gợn vang vang hận

Than Thở thông reo vợi vợi sầu

Khóm trúc gió lay gây nỗi nhớ

Chồi lan sương đẫm gợi niềm đau

Chương Đài lữ thứ chia đôi ngã

Ai có chờ ai đến bạc đầu.

Câu mở đầu của Tương Tư đã dựng nên một kết cấu đối lập quen thuộc trong thơ cổ từ ngàn xưa – Cảnh cũ còn đây khách vắng đâu. Cảnh còn nhưng người thì vắng. Vật còn mà người thì đã đổi. Núi sông vẫn đó mà người xưa không thấy. Cảnh vẫn đẹp, vẫn nguyên vẹn đã làm nổi bật khoảng trống mà người để lại.

Và rồi cái tôi cô độc xuất hiện một cách trực tiếp – Mình ta vò võ suốt đêm thâu. “Mình ta” là một thế giới chỉ còn một người, không có hai. “Đêm thâu” kéo dài cảm giác cô đơn và cảm giác này không có điểm cuối, không có điểm kết thúc. “Vò võ” là trạng thái của người thao thức, không ngủ được, không nói với ai được, chỉ có mình đối diện với mình thôi.

Không gian Đà Lạt hiện ra qua hai địa danh Xuân Hương và Than Thở – Xuân Hương sóng gợn vang vang hận / Than Thở thông reo vợi vợi sầu. Trong khung cảnh thiên nhiên ấy, sóng và thông đều được nhân cách hóa thành tiếng lòng. Thiên nhiên giờ đây là sự cộng hưởng của tâm trạng. Sóng gợn như nhịp thở của người tương tư, thông reo như tiếng thở dài không nói thành lời. Người thơ không nói thẳng nỗi buồn của mình mà đã để cảnh vật nói giúp, nói thay.

Khóm trúc gió lay gây nỗi nhớ / Chồi lan sương đẫm gợi niềm đau – hai hình ảnh tiêu biểu của mỹ học phương Đông. Trúc và lan mang nhiều lớp ý nghĩa: thanh cao, tiết tháo, u nhã, bền bỉ. Trong khung cảnh ấy, sương đẫm trên lan trở thành hình ảnh của nước mắt, của đau thương. Cái đẹp thanh nhã và cái đau âm thầm gặp nhau, làm nên một nỗi buồn lặng lẽ, có phẩm cách.

Điển cố Chương Đài được tác giả cho xuất hiện trong câu Chương Đài lữ thứ chia đôi ngã. Chương Đài vốn gắn với câu chuyện Hàn Hoành và Liễu Thị đời Đường, về sau trở thành một điển cố gợi cảnh chia lìa, nhớ thương giữa người đi và kẻ ở. “Lữ thứ” ở đây nhấn mạnh thân phận người đi xa, người sống ngoài nơi mình thuộc về. Bởi vậy, câu thơ không nhất thiết chỉ nói về tình yêu đôi lứa mà nỗi chia lìa ấy còn có thể mở rộng thành tình người, tình quê, tình bạn, và tình của người xa quê đối với nơi mình từng thuộc về. Tương tư, trong nghĩa rộng, là nỗi nhớ của mọi kẻ bị chia lìa khỏi điều mình thương.

Ai có chờ ai đến bạc đầu – câu hỏi không có lời đáp. “Bạc đầu” biến nỗi tương tư thành một cuộc chờ đợi kéo dài suốt đời. Người ta có thể tương tư một đêm, một mùa, nhưng chờ đến bạc đầu thì đã là chờ cả một đời người. Một đời người, cuối cùng, được nhìn như một cuộc chờ đợi, không rõ chờ ai, chờ điều gì, chỉ biết rằng họ vẫn đang chờ mà thôi.

Mang Chiều Hương Giang đặt kề bên Tương tư, không dưng, bỗng trở thành hai nửa của một nỗi nhớ: nửa ngoài, hướng về quê hương và bè bạn; nửa trong, hướng về nỗi cô độc của riêng mình.

******

IV. BÀI THƠ UY VIỄN TƯỚNG CÔNG

Phong vị hàn nho một chữ nghèo

Bước đường khoa hoạn mấy cheo leo

Kinh luân đầy túi mà dung dị

Trăng gió nghiêng bầu vẫn lược thao

Phú quý công danh xem tợ rác

Thị phi thăng giáng cợt như bèo

Tang bồng hồ thỉ vòng vay trả

Cao vút ngàn thông gió lộng reo.

Bài thơ Uy Viễn tướng công, bài thơ viết về ngài Nguyễn Công Trứ, là gương soi để tác giả Nguyễn Khắc Dương nhìn vào đó mà nhận ra rõ rệt hơn, trí thức là như thế nào.

Phong vị hàn nho một chữ nghèo - “hàn nho” là nhà Nho thanh bần, nghèo vật chất nhưng không vì thế mà nghèo khí tiết. “Nghèo” trong Uy Viễn Tướng Công này, không hề kèm theo nghĩa mặc cảm. “Nghèo” chính là một “phong vị”, một hương vị, gần như một vinh dự vậy. Nghèo vật chất nhưng lại giàu khí phách, đó là dáng dấp đầu tiên của kẻ sĩ.

Bước đường khoa hoạn mấy cheo leo – con đường công danh của kẻ sĩ vốn đầy thăng trầm, lúc lên lúc xuống, lúc nổi lúc chìm, cheo leo. “Cheo leo” là tính từ chỉ vị trí nằm ở nơi cao, dốc đứng, không có chỗ bấu víu hay điểm tựa vững chắc, tạo cảm giác nguy hiểm và dễ bị rơi, ngã.

Kinh luân đầy túi mà dung dị – kẻ sĩ là người có tài trị thế, học rộng, mưu lược, nhưng không phô trương. Tài năng và sự giản dị cùng tồn tại trong một con người. Đây là một phẩm chất khó hơn ta tưởng, vì thường người có tài thì hay muốn người ta thấy tài của mình.

Trăng gió nghiêng bầu vẫn lược thao – kẻ sĩ, phải cùng lúc làm chủ được cả hai phương diện, một bên là văn chương, phong nhã, là trăng gió và chén rượu; một bên là chí khí, hành động, là lược thao, tức tài cầm quân. Kẻ sĩ không chỉ là người biết đọc sách, biết thưởng trăng, uống rượu, mà họ còn là người biết lo việc nước, không quên bổn phận của mình.

Phú quý công danh xem tợ rác – quan niệm xem nhẹ danh lợi này, không hề phủ nhận công danh, vì chính Nguyễn Công Trứ đã theo đuổi khoa cử, để có thể làm quan và lập công. Nếu có phủ nhận, ấy là phủ nhận việc để công danh làm chủ đời mình. Người ta vẫn có thể có công danh mà vẫn không bị công danh sở hữu.

Thị phi thăng giáng cợt như bèo – đây là thái độ của kẻ sĩ trước dư luận và thăng trầm. Bèo lên xuống theo dòng nước, thế nên khen chê, thăng giáng cũng chỉ là chuyện bèo trôi mà thôi. Con người cần giữ lấy tâm, đừng để bị cuốn theo dòng đời, dù dòng đời ấy đẩy mình lên hay kéo mình xuống.

Tang bồng hồ thỉ vòng vay trả – ở đây, ta lại gặp một thành ngữ quen thuộc gắn với chí làm trai và hoài bão lập công danh. “Tang bồng hồ thỉ” vốn gợi đến cung tên, trong đó, cung làm bằng gỗ dâu, tên làm bằng cỏ bồng, về sau trở thành biểu tượng cho chí hướng và trách nhiệm của nam nhi. Trong thơ Nguyễn Công Trứ, chí ấy thường được nhìn như một món nợ phải mang và phải trả, một bổn phận đối với cuộc đời. “Vay trả” vì thế, không chỉ là chuyện công danh, mà còn là ý thức về trách nhiệm của một con người trước thời đại và cuộc sống.

Và bài thơ kết bằng một hình ảnh mang tính biểu tượng – Cao vút ngàn thông gió lộng reo. Cây thông cao, bền, đứng thẳng trước gió, là biểu tượng khí tiết của kẻ sĩ: gió vẫn lộng, thông vẫn reo, thông không hề ngã.

Vì sao tác giả Nguyễn Khắc Dương lại chọn viết về Uy Viễn tướng công? Phải chăng ông tìm thấy nơi Nguyễn Công Trứ một con người khiến ông phải kính trọng – có học, có tài, từng trải, không nô lệ cho danh lợi, giữ khí tiết, sống giữa đời nhưng không để đời làm mất mình? Một người viết chân dung người khác thường viết luôn một phần chân dung của chính mình. Ở đây, nét bút dành cho vị tướng công ấy cũng có thể là nét bút mà tác giả Nguyễn Khắc Dương dành cho lý tưởng của bản thân.

Thế nên, Uy Viễn tướng công có thể xem là một bài thơ về mẫu hình kẻ sĩ, là tấm gương tinh thần mà tác giả muốn noi theo. Nhưng đây mới là một nửa của câu chuyện. Nửa còn lại nằm ở bài thơ kế tiếp dưới đây, nơi kẻ sĩ đương đứng trên cao kia, quyết định bước xuống vỉa hè.

******

V. BÀI THƠ SỞ NGUYỆN

Hành giả dừng chân tạm vỉa hè

Tấm thân đất chở với trời che

Cảm người bươn chải vòng cơm áo

Thương kẻ bôn ba nhịp ngựa xe

Trần sắc mười phương đau đớn thấy

Thế âm bốn cõi xót xa nghe

Bao giờ cát bụi hoàn nguyên thể

Nguyện lót chân êm khách vỉa hè.

Hành giả dừng chân tạm vỉa hè – “hành giả” ở đây có thể hiểu là người đang trên một cuộc hành trình, nhưng không chỉ là cuộc lữ hành trong không gian mà còn là một hành trình tinh thần của con người. “Dừng chân tạm” hàm ý, cuộc đời không phải nơi cư trú vĩnh viễn mà chỉ là chốn nghỉ chân giữa đường. Và chốn dừng chân ấy chính là “vỉa hè”, vị trí thấp nhứt, bình dân nhứt, khiêm nhường nhứt, là nơi mà mọi người dù sang dù hèn, đều có thể lại qua. Đặt “hành giả” cạnh bên “vỉa hè”, nghĩa là nhà thơ đã tự sắp mình vào hàng của những người bình thường đang đi lại trên đường.

Tấm thân đất chở với trời che – câu thơ mang ý nghĩa, con người thực là nhỏ bé giữa trời đất, thiên địa, đồng thời có thể được đọc như một cảm thức Kitô giáo về thân phận thụ tạo và ý thức về sự hữu hạn của con người. Nhưng dù đọc theo hướng nào, thì cái nhìn của tác giả về con người ở đây vẫn là cái nhìn khiêm nhường: ta còn đứng được đến ngày hôm nay đây, là do được đất chở, được trời che.

Từ cái nhìn về mình, tác giả chuyển sang nhìn người – Cảm người bươn chải vòng cơm áo. Đây là cái nhìn của một trí thức không quay lưng với tầng lớp bình dân. “Cơm áo” này, đã kéo triết học từ giảng đường xuống đường phố. Người từng học ở Sorbonne, từng dạy triết ở đại học, nay lại chú ý đến chuyện bươn chải kiếm sống của những con người bình thường. Đó là một sự chuyển hướng không nhỏ: từ những vấn đề của tư tưởng sang những vấn đề của bữa cơm manh áo.

Thương kẻ bôn ba nhịp ngựa xe – từ “cảm”, tác giả đi đến “thương”. Cảm là biết, là nhận ra. Thương là đi thêm một bước, là đồng cảm, là để nỗi đau của họ chạm vào mình. Nhà thơ không chỉ quan sát cuộc đời như một người đứng ngoài, mà ông bước vào để cùng đứng chung với nó.

Trần sắc mười phương đau đớn thấy / Thế âm bốn cõi xót xa nghe – từ những con người cụ thể trước mắt, tác giả đã mở rộng cái nhìn ra toàn bộ cõi đời. Thị giác và thính giác, giờ đây, cùng làm việc: “đau đớn thấy”, “xót xa nghe”. Nhà thơ không chỉ thấy bằng mắt mà còn nghe bằng tâm. Mắt và tai ở đây đều thành phương tiện của lòng thương xót. Bạn đọc thơ, hẳn sẽ thấy thấp thoáng trong hai câu này hình ảnh của một người biết lắng nghe tiếng than của thế gian, để rồi xót xa và thương cảm.

Sau khi mở rộng ra tận “mười phương”, Sở nguyện quay về với sự hữu hạn – bao giờ cát bụi hoàn nguyên thể. “Cát bụi” gợi lên thân phận hữu hạn và cái chết của con người, nhưng “hoàn nguyên thể” dường như không chỉ đơn giản là trở về với cát bụi, mà còn gợi một sự trở về với nguyên thể, với phần sâu xa và chân thật nhất của kiếp người. Điều này khiến người đọc có thể nhớ đến thân phận thụ tạo và niềm tin Kitô giáo về con người trong tương quan với Thiên Chúa. Nhưng tôi thì lại thích đọc chỗ này như một giao thoa Đông Tây. Nghĩa là, “cát bụi” của tác giả Nguyễn Khắc Dương vừa mang âm hưởng của lời nhắc trong truyền thống Kitô giáo, vừa mang sắc thái của cái nhìn Đông phương về sự hữu hạn, tan hợp và trở về của thân xác.

Câu kết – nguyện lót chân êm khách vỉa hè – chính là linh hồn của toàn bộ bài thơ. Tác giả không ước mình được giàu sang hay danh vọng, hay được lưu vào sử sách như một tượng đài. Ông chỉ xin được hoàn thành một điều nhỏ nhoi, đó là giúp bộ hành, bước chân đi của họ được trên đường đời được bớt đớn đau. Một đời người học triết, dạy triết, đi qua những nền văn hóa lớn, cuối cùng chỉ mong mình trở thành một chút bụi lót cho êm chân người khác. Đó không phải sao, là sự hạ mình của trí tuệ trước tình thương bao la, bất tận, dành cho kiếp người lầm than, đau khổ?

“Hành giả” trong Sở nguyện, vì thế, với tôi, không chỉ là một tuyệt tác của thơ ca, mà tôi còn đọc ra, “hành giả” chính là một tự họa của Thầy Nguyễn Khắc Dương, một chân dung của người đi, người học, người tìm kiếm, người giảng dạy, người sống giữa những nền văn hóa, và cuối cùng là người có ước muốn – được trở thành một người phục vụ.

******

VI. NGUYỆN LÓT CHÂN ÊM KHÁCH VỈA HÈ

Chiều Hương Giang nhớ quê hương, nhớ người. Tương tư nhớ một bóng hình, đối diện cô độc. Uy Viễn tướng công suy tư về người kẻ sĩ, khí tiết và bổn phận. Sở nguyện từ cái tôi bước ra nhân thế, từ suy tư bước vào lòng thương. Từ nhớ đến thương; từ thương đến nguyện. Đó là trục tư tưởng chạy suốt bốn bài thơ, và cũng là trục chạy suốt một đời người.

Nguyễn Khắc Dương là con người của nhiều miền văn hóa. Nho giáo đến với Thầy từ gia phong. Phật giáo hiện ra như một hấp lực tinh thần trên hành trình tìm kiếm. Lão Trang mang đến cảm thức về tự do, thanh đạm, siêu thoát. Kitô giáo là đức tin, tình yêu, lòng thương xót. Triết học Tây phương là lý tính, là thói quen tự vấn, là nỗi truy tìm chân lý. Nhiều tư liệu viết về cuộc đời Thầy đều nhấn mạnh tính chất đa văn hóa và hành trình tìm kiếm giữa những xung đột của các truyền thống tư tưởng ấy. Đỗ Lai Thúy từng gọi Nguyễn Khắc Dương là một người “tìm mình qua những xung đột văn hóa”, và nhận định rằng trong Thầy, các nền văn hóa khác nhau không ngừng gặp gỡ, va chạm và được hóa giải.

Nhưng đứng giữa ở đây, không có nghĩa là trộn lẫn, là xóa hết dị biệt giữa Công giáo và các truyền thống khác. Với tôi, khi tìm hiểu về cuộc đời Nguyễn Khắc Dương, thì Thầy là một người đã cố gắng đối thoại, hòa nhập và diễn giải đức tin Kitô giáo trong không gian văn hóa Việt Nam, đến mức những truyền thống Nho, Phật, Lão và triết học Tây phương, đều cùng hiện diện trong cách Thầy suy tư về con người. Sự khác biệt vẫn còn đó và điều Thầy làm được là để chúng cùng lên tiếng trong một tâm hồn.

Nói một cách khác đi, Thầy Nguyễn Khắc Dương là người thầy nhiều hơn là người xây dựng một hệ thống. Qua những bài giảng còn lưu lại và trong ký ức của người từng là học trò của Thầy, từng biết Thầy, có thể thấy Thầy không chỉ truyền đạt triết học, mà còn khơi dậy nơi người học thói quen tự vấn và khả năng nhìn một vấn đề từ nhiều phía. Thầy không vội biến triết học thành một hệ thống khép kín. Với Thầy, triết học dường như là một cuộc hành trình tự vấn. Thế cho nên, hình ảnh “hành giả” trong Sở nguyện, với tôi, chính là hình ảnh của một người Thầy, mà đến tuổi 102 rồi, vẫn mang dáng dấp của một người đi, người hỏi và người học.

Trong Uy Viễn tướng công, kẻ sĩ là người đứng ở trên cao, giữ khí tiết, coi nhẹ phú quý công danh. Nhưng đến tới Sở Nguyện, thì hành giả đã tự hạ mình mà bước xuống tận vỉa hè. Từ kẻ sĩ đến người phục vụ, hai hình ảnh tưởng đối lập nhưng thật ra lại gặp nhau ở một điểm: không sống cho danh lợi của chính mình. Một bên là khí tiết, một bên là lòng thương; một bên là giữ mình, một bên là dâng hiến. Và cả hai đều dẫn tới một quan niệm về phẩm giá con người: phẩm giá không nằm ở chỗ ta đứng cao bao nhiêu, mà ở chỗ ta không để điều thấp hèn sai khiến, và ta sẵn sàng cúi xuống vì người khác.

“Một chữ nghèo” trong Uy Viễn tướng công; “vỉa hè”, “cát bụi” trong Sở nguyện, ba hình ảnh này có thể kết thành một tư tưởng: con người càng không bị danh lợi trói buộc sẽ càng có tự do để sống cho điều mình tin là đúng. Từ tư tưởng này, mở ra một loạt khái niệm mà cả đời Thầy Nguyễn Khắc Dương dường như đã tự vấn và luôn thực hành: lương tâm, tự do, phẩm giá, trách nhiệm, bổn phận. Cái nghèo mà Thầy nói đến, không phải là cái nghèo bị áp đặt, mà là sự thanh bần được chọn, để mình được nhẹ nhàng và thẳng thớm hơn.

Người ta thường biết đến Thầy trong vai trò một người Thầy triết học, một trí thức Công giáo và một người sống sâu với đức tin. Nhưng ở nơi Thầy, những suy tư về Thiên Chúa và con người, không chỉ nằm trong những khái niệm. Đức tin ấy đã đi vào thơ bằng lòng thương xót, bằng niềm đau trước nỗi khổ của nhân thế, bằng sự khiêm nhường, bằng ý thức thân phận, bằng sự phó thác, bằng hy sinh và phụng hiến. Hãy nghe lại hai câu thơ:

Trần sắc mười phương đau đớn thấy

Thế âm bốn cõi xót xa nghe

Và:

Nguyện lót chân êm khách vỉa hè.

Để thấy, thần học ở đây, với cách đọc của tôi, không nói về Thiên Chúa bằng những mệnh đề cao siêu mà đi vào hình ảnh một con người biết cúi xuống trước nỗi đau của đồng loại. Từ đó, bạn đọc thơ có thể tự trả lời cho câu hỏi, phải chăng, sự kỳ diệu của bộ môn thần học, không chỉ nằm ở những điều người ta nói về Thiên Chúa, mà còn nằm ở cách một con người đối xử với nỗi đau của đồng loại như thế nào.

“Hành giả”, chính là hình tượng bao trùm toàn bộ chân dung Thầy Nguyễn Khắc Dương. Thầy là người đi giữa quê hương và tha hương; giữa Nho giáo và Kitô giáo; giữa Đông và Tây; giữa triết học và đức tin; giữa giảng đường và đời sống; giữa cô độc và tình người; giữa thời gian và vĩnh cửu. Và cuối cùng, hành giả Nguyễn Khắc Dương, đã dành cả cuộc đời đi tìm, để rồi trở về với một lời nguyện nhỏ.

Nhiều người từng là học trò, từng gặp gỡ và quen biết, thường nhấn mạnh những điều đặc biệt gây ấn tượng ở nơi Thầy: không chỉ kiến thức uyên bác mà còn là sự giản dị, thanh bần, gần gũi, lòng nhân ái, sự tự vấn và trách nhiệm của người Thầy Nguyễn Khắc Dương. Những tư liệu về Thầy cũng nhiều lần ghi lại những nét giản dị ấy. Một tâm hồn lớn nhưng chọn một đời sống nhỏ: đó dường như là cách Thầy sống, trước khi là cách Thầy viết.

Đến hôm nay, khi đã bước vào tuổi 102, vẫn còn nguyên nơi Thầy, hình ảnh của người đi, người hỏi và người học. Và chính những thế hệ học trò đã từng gặp Thầy, học Thầy, họ vẫn đương tiếp nối, cũng như mang theo một phần hành trình ấy trong cuộc đời của họ.

Vào ngày này, lời chúc thông thường dường như không đủ, tôi xin biến nó thành lời tri ân. Tri ân một người Thầy. Tri ân một người đã dành bằng hết cuộc đời mình cho việc học tập và giáo dục. Tri ân một “hành giả” đã đi qua nhiều nền văn hóa. Tri ân một con người vẫn giữ được lòng thương xót người sau một hành trình dài với rất nhiều khổ đau. Tôi xin được gọi tên hành trình đó là một thế kỷ đi tìm chân lý và một lời nguyện ở lại với con người.

Và sau tất cả những điều mà bài cảm nhận hôm nay của tôi đã viết, về Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo, Kitô giáo, triết Tây phương, kẻ sĩ, trí thức, người thầy, hành giả, lương tâm, tự do, phẩm giá, trách nhiệm, lòng thương xót…, cuối cùng, chỉ xin được thu về, gói trọn trong lời khấn nguyện nhỏ nhoi của hành giả Stêphanô Nguyễn Khắc Dương:

NGUYỆN LÓT CHÂN ÊM KHÁCH VỈA HÈ!

Sài Gòn 26.09.2026