Nguyễn Thị Giáng Vân

Gửi sách của ông già đi cho một số bạn bè, chợt khựng lại. Có lẽ có nhiều điều cần nhìn lại, những điều tôi từng băn khoăn nhưng rồi cuộc sống trôi đi, cộng với quan niệm, mọi thứ không có gì quan trọng, nên đã bỏ qua.
Đất trắng của ông xuất bản năm 1979, trước thời điểm Đại hội Đảng viên các nhà văn Việt Nam có bản Đề dẫn Văn học của Nhà văn Nguyên Ngọc. Năm đó tôi năm thứ ba Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội, chưa thật trưởng thành nhưng không còn ngây ngô nữa. Bằng chứng là nhà văn Triệu Bôn, lúc đó là Trưởng ban Văn xuôi của tạp chí Văn nghệ Quân đội rất tín nhiệm nhờ tôi đọc loại bản thảo ngút ngàn của bạn viết gửi cho tạp chí. Ông thậm chí còn nhờ tôi thẩm định cả ở vòng trong. Cha tôi cũng vậy, ông nhờ tôi đọc lại bài lai cảo vì sợ bỏ sót tác giả tốt. Hồi đó ông là Quyền Tổng biên tập tạp chí.
Phòng cha tôi và phòng chú Nguyên Ngọc ở cạnh nhau, một đầu của tòa nhà. Đầu bên kia là phòng chú Nguyễn Khải. Trước đại hội, lúc cha tôi đưa Đất trắng đi in cũng là thời gian cha tôi, chú Khải và chú Ngọc tối nào cũng ngồi với nhau thảo luận về Đại hội, trong căn phòng của cha tôi,mà chú Ngọc là Bí thư Đảng Đoàn, người làm bản Đề dẫn Văn học cho đại hội.
Tôi, các cụ không hề để ý, nhưng thực ra đã dỏng tai nghe và vô cùng phấn khích về những vấn đề các cụ thảo luận.
Đất trắng ra trước Đại hội này.
Đại hội diễn ra rất căng thẳng sau khi chú Ngọc đọc bản Đề dẫn Đổi mới văn học. Cả buổi sáng nhiều ý kiến đánh Đề dẫn, đánh chú Ngọc. Buổi trưa cha tôi trở về kể cho tôi nghe rất bức xúc. “Sao cha không phát biểu bảo vệ chú Ngọc”, tôi chất vấn ông. “Cha có giơ tay xin phát biểu nhưng không được!”. “Cha cứ xông lên mà nói chứ!”.
Có lẽ câu nói của tôi như giọt nước tràn ly. Buổi chiều cha tôi không cần Chủ tịch đoàn cho phép, xông lên phát biểu bảo vệ Đề dẫn, nhưng ông chỉ mới nói được khoảng mười lăm phút thì nhà thơ Chế Lan Viên lên cướp diễn đàn, nói liền ba tiếng đồng hồ, lên án Đề dẫn có tư tưởng xét lại nền văn học.
Đó là câu chuyện cha tôi nói lại cuối ngày với sự buồn rầu, thất vọng. Ông còn thất vọng hơn khi ngay cả Nguyễn Khải, người trước đó rất hào hứng với Đề dẫn cũng quay lưng lại với Nguyên Ngọc, mà từ cha tôi dành cho ông là “Chú ấy trở cờ đánh chú Ngọc”.
Bây giờ mới quay lại với Đất trắng.
Người bao trùm, chỉ đạo cuộc đánh Nguyên Ngọc và Đề dẫn đổi mới Văn học là nhà thơ Tố Hữu, tôi không rõ lúc đó ông ấy ở cương vị nào. Nhưng 15 phút phát biểu bảo vệ Đề dẫn của cha tôi đã khiến Tố Hữu chú ý, ông ta nhanh chóng phát hiện cuốn Đất trắng vừa ấn hành, tác giả của nó không những đã dám đứng lên bảo vệ Đề dẫn của Nguyên Ngọc, mà trước đó không lâu, với tư cách Tổng biên tập Văn nghệ Quân đội, đã từ chối in thơ Xuân của ông ta vì chất lượng không đạt. (Sau đó, bài thơ này được in ở số báo Xuân của báo Quân đội với nhuận bút và ba con gà trống. Và mọi người thì bàn tán: Gan ông Oánh to bằng trời.)
Thịnh nộ bắt đầu trút lên Đất trắng và cha tôi. Bắt đầu có dư luận Đất trắng có tư tưởng xét lại cuộc chiến tranh. Và một lệnh không thành văn từ Tố Hữu: thu hồi Đất trắng.
Và bắt đầu những ngày tháng liên miên đấu tố cha tôi và Đất trắng, từ Văn nghệ Quân đội cho đến Tổng cục Chính trị, người đấu tố ông là các nhà văn bạn bè: XT, HP và HM.
(Về sau, những năm tháng cha tôi ốm đau, bọn họ đến thăm, cha tôi ngồi quay lưng lại không tiếp).
Lại nói tiếp, vì “khuyết điểm” như vậy nên cha tôi không thể là Tổng biên tập được nữa, mà cấp trên để cho yên, đã lập một Ban lãnh đạo tạp chí, gồm cha tôi và những người đấu tố ông.
Cha tôi thấy giống trò hề nên xin rút khỏi ban lãnh đạo để đi sáng tác.
Sau đó vài năm, lấy lại tinh thần cha tôi viết tiếp Đất trắng phần 2, và một số cuốn khác trước khi mất.
Tuy nhiên nếu không có tai nạn với Đất trắng, có lẽ những tác phẩm không tự biên tập của cha tôi sẽ còn ác liệt hơn nhiều. Ông ấp ủ một cuốn như Chiến bại của Fadeev (Liên Xô), nhưng bệnh tật khiến ông không thể thực hiện.
Năm 1976 cha tôi trở về Văn nghệ Quân đội sau 10 năm đi B, khi chiến tranh đã kết thúc một năm, và sau khi đã bàn giao hết công việc cho người ở lại, tờ báo Văn nghệ Quân giải phóng do ông phụ trách trong rừng đã chuyển đổi thành báo Sài Gòn Giải Phóng và Nhà xuất bản Văn nghệ. Cha tôi trở về với thân hình gầy gò, nước da xám chì, mái tóc bạc màu khó tả xơ xác và những trận sốt rét liên miên, di chứng của mười năm ở rừng, trèo đèo lội suối, ngủ hầm… Đồng đội và là lính của ông, các nhà văn Lê Văn Vọng, Nguyễn Ngọc Mộc, thương xót ông vô cùng, khuân đến chăn màn và một tấm đệm dày cộp nặng trịch giúp ông chống rét.
Kinh khủng hơn cả những trận sốt rét là ông phải làm quen với cuộc sống đời thường, hậu chiến mà ông đã xa cách mười năm. Lo cho việc chuyển mẹ và các em tôi ra Hà Nội đoàn tụ gia đình. Riêng câu chuyện này là cả một trường đoạn đau thương của gia đình tôi, một việc quá sức với một nhà văn thật thà như cha tôi giữa một xã hội kim tiền mà ông không sao quen được.
Trong cái mớ hỗn độn kinh khủng đó, cha tôi ngồi viết Đất trắng.
Về sau tôi mới hiểu được một ít rằng, viết với ông là một món nợ lớn phải trả. Ông viết giữa những cơn sốt rét và những lo toan vô vọng. Ông viết về sự thật cuộc chiến tranh như ông nhìn thấy, về trung đoàn bám trụ vùng ven Sài Gòn cho cả đại quân rút lui năm Mậu Thân 1968, cho đến khi kết thúc, một trung đoàn chỉ còn mười sáu người, trong đó có cha tôi, một nhà văn.
Lại phải kể thêm rằng, cha tôi lên đường đi B năm 1966 với hàm đại úy. Mười năm sau ông trở về cơ quan cũ Văn nghệ Quân đội vẫn với hàm đại úy, trong khi các vị khác ngồi nhà đã lên trung tá. Nghĩa là nơi vẫn chịu trách quản lí cha tôi, Văn nghệ Quân đội, dường như đã quên hẳn ông. Trong khi quyết định đi B của cha tôi là 2 năm, ông đã đi 5 lần cái 2 năm đó, chỉ vì Văn nghệ Quân đội không cử được ai thay ông. Thậm chí trong thư từ tư liệu của cha tôi, còn có nhà văn XT trong một bức thư gửi cho ông, ông ta còn viết: “Mày ngu thì mày chịu, chứ chúng tao đâu có điên mà vào đó thay mày, thôi thì cũng mong mày thông cảm…”.
Vị này cũng được giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật mặc dù không có tác phẩm nào nên hồn.
Điều oái oăm ở đây là: Ở trên đưa cha tôi vào vị trí Quyền Tổng biên tập Văn nghệ Quân đội, thay nhà thơ Vũ Cao, đại tá, đến tuổi nghỉ hưu. Cha tôi chỉ là đại úy, còn các bác kia bét cũng trung tá. Sao trên lại để một ông đại úy lãnh đạo các ông trung tá? Câu chuyện đấu tố cha tôi đã bắt đầu xì xầm từ đây. Và chỉ bùng lên như bão táp khi Đất trắng bị Tố Hữu quy kết là tác phẩm xét lại cuộc chiến tranh và có lệnh mật thu hồi.
Câu chuyện còn đáng kinh ngạc hơn là về 40 tập ghi chép của nhà văn Nguyễn Thi (Nguyễn Ngọc Tấn).
Cha tôi bắt đầu đi B vào tháng 10 năm 1966 sau thời gian tập luyện mang ba lô gạch đi hành quân. Đi bộ dọc Trường Sơn năm sau mới vào đến căn cứ nơi báo Văn nghệ Quân giải phóng và nhà văn Nguyễn Thi đang dừng chân. Nguyễn Thi thấy cha tôi vào thì mừng lắm. Ông đang gặp rắc rối to với ông K, thủ trưởng trực tiếp của ông. Cha tôi giúp Nguyễn Thi tháo gỡ mâu thuẫn kịch liệt với ông K. Xong xuôi Nguyễn Thi vội vã bàn giao tờ báo, công việc cho cha tôi. Trọng trách đặt lên vai cha tôi còn có 40 tập ghi chép của Nguyễn Thi gửi lại nhờ cha tôi giữ gìn, bảo vệ. Rồi Nguyễn Thi đi sâu vào mặt trận, rồi ông hy sinh. Cha tôi hiểu là 40 tập ghi chép của Nguyễn Thi quan trọng như chính sinh mạng của ông ấy. Mỗi lần giặc càn, chuyển cứ, bên cạnh đồ đạc quân trang, ông phải cõng trên lưng ghi chép bản thảo của bạn ông. (Nguyễn Thi là bạn rất thân của cha tôi).
Đến thời kỳ Mỹ thả bom na pan dày đặc, sợ bản thảo Nguyễn Thi có thể bị cháy, cha tôi kiếm một hòm đạn bỏ vào rồi gửi đường quân bưu ra Bắc, kèm theo thư gửi cho nhà thơ Vũ Cao lúc đó là Tổng biên tập Văn Nghệ Quân Đội, dặn Vũ Cao theo dõi, nhận và giữ gìn bản thảo cho Nguyễn Thi.
Mười năm sau, khi vừa từ trong rừng trở về đến Văn nghệ Quân đội, việc đầu tiên của cha tôi là đến gặp nhà thơ Vũ Cao để hỏi bản thảo của Nguyễn Thi để ở đâu. Ông ấy đã quên lời dặn dò của cha tôi và không biết bản thảo của Nguyễn Thi đang ở đâu.
Cha tôi choáng váng.
Ông lập tức chạy vào kho lưu trữ của Tổng cục Chính trị để tìm. Bới tung tất cả kho không thấy. Ra bới đống đồ chuẩn bị đem đi thanh lý, thì may quá, nhìn thấy thùng đạn dựng bản thảo Nguyễn Thi, đúng như ngày cha tôi đóng gói gửi đi.
Đó chính là bản thảo những tác phẩm quan trọng của Nguyễn Thi.
Cha tôi mang về lấy ra, xếp ngay ngắn trên ngăn tủ lớn trong phòng làm việc của ông. Đó là những tập vở kẻ ô ly kiểu của học trò, với kiểu chữ viết rất chân phương thoáng đãng của Nguyễn Thi.
Mấy năm sau, tôi không nhớ chính xác năm nào, tác phẩm Nguyễn Thi đã được công bố hết, cha tôi bàn giao 40 tập ghi chép, bản thảo của Nguyễn Thi lại cho Văn nghệ Quân đội. Họ làm một việc rất vui là thành lập một “Ban bảo vệ di cảo của nhà văn Nguyễn Thi”. Danh sách khoảng hơn một chục vị, không có cha tôi.
Đúng là một chuyện vừa bi vừa hài.