Tino Cao

Chưa đầy ba tuần trước tôi còn gặp Cung Tích Biền. Bây giờ ông đã đi. Quãng nối thời gian giữa một người còn hiện diện trong một buổi chiều cuối mùa hạ ở quận Cam và một người giờ đây chỉ còn có thể gặp lại trong kí ức, chao ôi, sao lại ngắn đến vậy. Tin ông mất khiến tôi bàng hoàng, trí nhớ trở lại với những trang văn của ông tôi từng đọc, mà tôi phải thành thật nói rằng vốn đọc Cung Tích Biền của mình còn rất mỏng. Ngoài Bạch Hóa và Thừa Dư, tôi chưa có dịp đọc thêm ông để đi sâu vào một văn nghiệp kéo hơn sáu mươi năm, bắt đầu từ văn học miền Nam trước 1975 và tiếp tục qua những biến động lớn của đời sống Việt Nam sau chiến tranh. Bởi vậy, với tôi lúc này, việc nhìn lại toàn bộ Cung Tích Biền qua toàn bộ tác phẩm của ông vẫn là điều bất khả.
Nhưng đọc một nhà văn không nhất thiết phải bắt đầu bằng tham vọng bao quát. Có khi chỉ vài tác phẩm cũng đủ neo giữ một ám ảnh về cách nhà văn nhận thức lịch sử và con người. Với tôi, Bạch Hóa và Thừa Dư đã làm được điều đó. Chúng để lại một cảm giác cay đắng khó nguôi ngoai, bởi lịch sử ở đây không còn là chuyện từng xảy ra ở một ngày tháng nào đó. Nó nhập vào con người, khiến họ mang hậu quả ngay trong quan hệ máu mủ, trong kí ức, căn tính và cuối cùng là ngay trên chính thân thể mình.
Trong cuộc trò chuyện với nhà văn Đặng Thơ Thơ trên Da Màu, Cung Tích Biền từng nói đến việc “phiêu du thu nhặt lịch sử, từ tật nguyền ráp lại”. Tôi nghĩ hai chữ “tật nguyền” ông dùng quả là gây nhức nhối. Một biến cố có thể khép lại trên niên biểu, nhưng hậu quả của nó lại bất tuân thời gian. Chiến tranh chấm dứt, con người vẫn có thể tiếp tục sống giữa những đổ vỡ còn sót lại. Đường giới tuyến bị xóa khỏi bản đồ nhưng vẫn hiện diện trong kí ức về cha mẹ, anh em, quê quán, trong cái nhìn của một phía đối với phía kia, thậm chí trong cách mỗi người tự hiểu chính mình. Tật nguyền, theo nghĩa ấy, là một tình trạng phân thân của ý thức sau những va đập quá lớn của lịch sử. Phần bị mất vẫn tham dự vào đời sống bằng chính sự vắng mặt của nó. Một người cụt chân biết đến cái chân không còn qua mỗi bước đi. Một dân tộc cũng có thể sống với quá khứ như vậy. Điều từng bị cắt bỏ, phủ nhận hoặc không được nhận biết vẫn tác động lên hiện tại. Ở Cung Tích Biền, lịch sử luôn có một kích thước nhân sinh. Cuối cùng, giá trị của nó phải được soi chiếu ở chính nơi con người sống qua và ở phần còn lại trong họ.
Bạch Hóa được viết từ kinh nghiệm Việt Nam trong những năm dữ dội cuối thập niên 1960. Khi nhắc lại tác phẩm, Cung Tích Biền từng xem đó là một cuộc nội chiến phi lí và vô luân. Trong văn chương, ông không biến nhận định ấy thành một bài nghị luận chính trị. Ông chọn mối dây có trước mọi ý thức hệ, tình cha con, rồi để xung đột len vào nơi tưởng như không gì có thể chia cắt. Sáu Vu theo cộng sản, Nguyễn Văn Đích là lính cộng hòa. Họ đứng ở hai chiến tuyến đối nghịch nhưng bi kịch cùng quy tụ nơi đấng sinh thành. Sáu Vu nhân danh lí tưởng để giết cha. Nguyễn Văn Đích đi ngang xác ông mà không nhận biết, hoặc trong khoảnh khắc ấy đã mất khả năng nhận biết. Thật là nghiệt ngã. Một kẻ trực tiếp hủy diệt cội nguồn, kẻ kia để chính cội nguồn ấy biến khỏi ý thức. Hai hành vi khác nhau nhưng cùng dẫn tới một hậu quả, mối liên hệ căn bản với nguồn sinh thành bị phá vỡ. Câu hỏi lúc này không còn nằm ở việc người cộng sản hay người cộng hòa đã làm gì. Điều đáng sợ hơn là một ý niệm lịch sử có thể chen vào tình phụ tử đến mức máu mủ cũng không còn đủ sức giữ họ lại với nhau?
Đọc Bạch Hóa, có lẽ điều đáng sợ nhất nằm ở cách chiến tranh xâm nhập và len lỏi vào tận những quan hệ huyết thống vốn có trước mọi ý thức hệ. Kẻ bên kia chiến tuyến có thể là người cùng làng, cùng họ, từng ăn chung một mâm cơm, cùng cúi đầu trước một bàn thờ tổ tiên, thậm chí chính là đấng sinh thành. Giới tuyến lúc ấy chạy xuyên qua mái nhà rồi đi vào tận bên trong mỗi cá nhân. Kẻ giết cha cũng đang chặt vào phần đời đã làm nên mình. Có lẽ nhan đề Bạch Hóa bắt đầu mở hết ý nghĩa từ chỗ đó. Bạch hóa là làm trắng đi, xóa dấu vết, khiến một vùng đất mất những gì từng xác nhận đời sống đã hiện hữu ở đó. Trong tác phẩm, sự tiêu hủy đi từ cảnh quan vào tâm thức. Ruộng đất vắng người cày, vật nuôi không còn, công cụ mất hơi bàn tay, gia đình li tán. Những gì từng nối một người với quê quán lần lượt bị tháo rời. Cung Tích Biền viết về chú Sáu trong thành phố như một “loại cây không lá”. Cây mất lá vẫn còn thân, còn dáng cây, nhưng quan hệ với ánh sáng, khí trời và mùa màng đã bị tổn thương. Con người trong Bạch Hóa cũng sống như thế. Họ vẫn đi lại, vẫn bị cuốn vào biến cố, nhưng những dấu hiệu giúp họ hiểu mình từ đâu đến cứ mất đi. Đến khi đất đai hóa xa lạ, người thân có thể thành kẻ thù, một niềm tin đủ sức khiến người con ra tay với cha ruột hoặc đi ngang xác ông mà không còn nhận biết, sự bạch hóa đã đi vào tận phần sâu kín nhất của đời sống. Bạch Hóa để lại trong tôi một nỗi khắc khoải về điều gì còn có thể giữ con người lại với nhau khi ngay cả nguồn gốc của mình cũng có thể bị xóa khỏi ý thức.
Nếu phải tìm dấu hiệu đầu tiên của “tật nguyền lịch sử” trong Bạch Hóa, tôi sẽ tìm ở sự mất mát khó nhìn thấy ấy. Dư và Thừa về sau mang khuyết tật trên thân thể, còn những con người ở đây bị đứt khỏi một phần quá khứ đã làm nên họ. Người sống vẫn tiếp tục cuộc đời nhưng cách hiểu về chính mình không còn nguyên vẹn. Cung Tích Biền kể tất cả bằng một giọng lạnh và tiết chế, hầu như không than khóc hay dẫn dắt cảm xúc. Sự việc hiện ra trơ trọi, buộc người đọc đối diện với một nghịch cảnh nghiệt ngã của nội chiến, người ta có thể ra tay với chính người ruột thịt mà vẫn tin mình đang phụng sự một lí tưởng. Ông cũng không trao cho bên nào quyền đứng ngoài để phán xét. Từ đây, mạch nối sang Thừa Dư xuất hiện khá tự nhiên. Trong Bạch Hóa, cái tật nguyền còn nằm trong ý thức và quan hệ với quá khứ. Sang Thừa Dư, Cung Tích Biền cho nó một hình hài cụ thể trên thân thể con người.
Trong Thừa Dư, ý niệm ấy hiện ra cụ thể trên Dư và Thừa. Một người khuynh hữu, một người cực tả. Người hữu mất chân trái, người tả mất chân phải. Mỗi người thiếu đúng phần thuộc về phía đối nghịch với căn cước chính trị của mình, và khi đứng cạnh nhau, họ phải tựa vào nhau mới có thể đứng vững. Cung Tích Biền nói “Tật nguyền lịch sử phải được tự nguyện mỗi bên ráp lại”. Tôi nghĩ chữ “tự nguyện” ở đây đặc biệt quan trọng. Ráp lại chỉ có ý nghĩa khi mỗi bên nhận ra mình cũng không nguyên vẹn, không ai có thể giữ riêng cho mình quyền đứng ngoài để phán xét. Cái tên Dư và Thừa càng làm nghịch ý ấy sắc hơn. Cả hai chữ đều gợi cái vượt quá mức cần thiết, trong khi hai nhân vật lại sống với một phần cơ thể bị mất. Tên gọi nói thừa, hình hài nói thiếu. Ở đó có một nhận xét cay đắng về lịch sử Việt Nam hiện đại. Mỗi bên từng có lúc tự xem mình là phần thiết yếu của dân tộc và coi bên kia như cái có thể gạt bỏ. Nhưng một khi thân thể chung đã bị cắt lìa, ý nghĩ rằng riêng một nửa vẫn có thể tự nhận mình là đầy đủ chỉ còn là ảo tưởng
Ở Dư và Thừa, hòa giải chỉ có ý nghĩa khi mỗi bên nhận ra mình không phải là một chỉnh thể đầy đủ. Một người chỉ có một chân mà vẫn tin mình nguyên vẹn sẽ không hiểu vì sao mình không thể đứng vững. Với một cộng đồng cũng vậy. Chừng nào mỗi phía còn tự xem mình là toàn thể, phía kia vẫn bị coi như phần thừa có thể gạt bỏ. Nhận ra phần thiếu của mình, bởi thế, là điều kiện đầu tiên để nhìn người khác ngoài logic loại trừ. Nhận ra sự thiếu hụt của mình cũng là lúc cách nhìn về người khác thay đổi. Có lẽ từ nhận thức đó mà Cung Tích Biền đặc biệt cảnh giác với vai trò của văn chương. Ông từng nói rằng khi văn chương biểu hiện một lịch sử tật nguyền, bản thân nó cũng có thể tật nguyền nếu bị biến thành công cụ. Với một người từng sống giữa cuộc chiến, lời ấy trước hết là sự tự kiểm soát của người cầm bút. Kí ức riêng rất dễ dẫn tới biện hộ, thanh minh hoặc kết án. Cung Tích Biền không lấy kinh nghiệm của mình làm chuẩn để phân xử phần đúng sai của cả một thời đại.
Đặt Bạch Hóa và Thừa Dư trong cùng một mạch suy nghiệm, có thể thấy chiến tranh không chấm dứt cùng tiếng súng. Nó tiếp tục tồn tại trong cách mỗi người hiểu về nguồn gốc của mình, trong cách các cộng đồng kể lại quá khứ và nhìn những người từng đứng ở chiến tuyến đối nghịch. Hậu chiến, theo nghĩa ấy, không thể chỉ tính bằng một mốc thời gian. Nó bắt đầu khi người ta nhận ra cuộc chiến còn để lại những gì trong chính mình. Cung Tích Biền từng nói một dân tộc nếu để mỗi thế hệ mang mối thù tử sinh với tiền nhân sẽ đánh mất khả năng thừa kế. Tôi nghĩ câu nói ấy chạm rất sâu vào Bạch Hóa và Thừa Dư. Thừa kế quá khứ không có nghĩa tiếp nhận nguyên vẹn mọi phán quyết của người đi trước. Nó đòi hỏi khả năng nhận cả đau đớn, sai lầm và đổ vỡ như một phần di sản cần phải hiểu. Một dân tộc không thể giải quyết quá khứ bằng cách cắt bỏ những phần khiến mình khó chịu. Điều bị gạt ra ngoài vẫn có thể tồn tại dưới dạng thành kiến, oán hận và những câu chuyện chưa bao giờ được kể cho hết.
“Ráp lại” trong Cung Tích Biền không có nghĩa làm cho vết thương biến mất. Một xã hội từng trải qua nội chiến không thể trở về nguyên vẹn bằng vài lời tuyên bố hòa hợp. Văn chương có thể đưa những phần từng bị bỏ quên trở lại, buộc người đọc nhìn vào điều mình từng tránh né và lắng nghe tiếng nói mình từng khước từ. Bạch Hóa đi tới sự đoạn tuyệt của những mối liên hệ căn bản, còn Thừa Dư đặt ra câu hỏi phải sống thế nào sau đoạn tuyệt ấy. Qua cả hai tác phẩm, Cung Tích Biền nhìn lịch sử từ số phận những người phải mang hậu quả của nó, nhưng không dùng đau đớn ấy để trao quyền phán xét cho bất cứ bên nào. Câu hỏi ông để lại khó hơn chuyện đúng sai. Người ta đã hi sinh những gì cho những niềm tin từng được xem là tuyệt đối, và khi chúng qua đi, phần đời không thể lấy lại sẽ được mang theo ra sao?
Có lẽ điều còn lại sau Bạch Hóa và Thừa Dư là một nhận thức khá nghiệt ngã. Lịch sử không chỉ đi qua một đất nước bằng những mốc thời gian, những chiến tuyến hay những lời tuyên bố thắng bại. Nó còn lưu lại trong cách một người nhớ về nguồn gốc của mình, nhìn người từng ở phía đối nghịch và sống với phần đời đã bị cắt mất. Cung Tích Biền gọi đó là “tật nguyền”, một chữ vừa cụ thể vừa đau đớn. Cái đã mất không thể lấy lại nguyên vẹn, cái đã xảy ra cũng không thể viết lại. Nhưng có lẽ con người vẫn còn một việc phải làm, nhìn cho rõ phần thiếu của chính mình trước khi tiếp tục kể câu chuyện về quá khứ và về nhau.