Tino Cao
Xin trân trọng cảm ơn PGS.TS. Hoàng Dũng, người đã đọc kĩ bài viết và góp ý để tôi bổ sung phần khảo sát về sự tiếp nhận của Giáo sư Cung Giũ Nguyên đối với tư tưởng Nhân Vị của Nicolas Berdyaev (1874-1948), qua đó làm rõ ảnh hưởng quan trọng của triết gia Nga này đối với quan niệm về Con Người mà Thầy Cung Giũ Nguyên theo đuổi suốt đời viết.

Thầy Cung Giũ Nguyên (1909-2008)
Tháng Tám năm ngoái, tôi về Nha Trang và ở lại gần hai tháng để giải quyết vài việc riêng. Khách sạn tôi trọ cách ngôi nhà cổ của Thầy Cung Giũ Nguyên ở số 60 Hoàng Văn Thụ (tên cũ là Hoàng tử Cảnh) một quãng ngắn. Mấy mươi năm trước, tôi từng nhiều lần lui tới căn nhà ấy. Trong kí ức riêng của tôi, Cung Giũ Nguyên trước hết vẫn là Thầy, người từng giảng cho một nhóm riêng chúng tôi một khóa chuyên đề về văn học cổ điển Pháp. Thầy giảng hoàn toàn bằng tiếng Pháp, với vốn kiến văn về văn chương và văn hóa Pháp mà đến nay tôi vẫn chưa gặp lại ở một người thầy nào khác. Thầy đi vào nhân vật từ chính lời thoại. Tôi còn nhớ một giờ Thầy giảng L’Avare (Lão hà tiện). Đến đoạn độc thoại của Harpagon ở hồi IV, cảnh 7, Thầy bỗng đổi giọng, đổi nét mặt, nhập hẳn vào cơn cuống quýt của lão già vừa phát giác chiếc tráp đựng tiền bị lấy cắp. Qua cách Thầy đọc, tiếng kêu “Au voleur! au voleur! à l’assassin! au meurtrier!” (tạm dịch: “Bắt trộm! Bắt trộm! Bắt kẻ sát nhân! Bắt kẻ giết người!”) liên tiếp đổi đối tượng, lúc gọi người cứu, lúc truy tìm kẻ trộm, lúc quay sang đối đáp với chính mình. Chất hài bật ra từ nhịp nói đứt quãng, sự đảo hướng liên tục và cơn hoảng loạn được đẩy đến gần bi kịch. Harpagon mất chiếc tráp như mất chính mình. Lão gọi tiền là “mon cher ami” (người bạn thân yêu của ta), còn cú pháp vỡ vụn theo từng đợt cuống quýt. Chúng tôi nghe ra tiền bạc chiếm cả ý thức lẫn hơi thở của nhân vật. Chỉ trong vài phút nhập vai, Thầy cho chúng tôi hiểu Molière xây dựng tính cách ngay trong cách nhân vật cất lời. Sau tiếng cười là một suy tưởng nghiêm khắc về sự tha hóa, khi kẻ sở hữu cuối cùng sống lệ thuộc vào chính vật mình sở hữu. Nhiều năm sau, tôi vẫn nhớ giọng bài giảng sang sảng bằng tiếng Pháp của Thầy trong khoảnh khắc ấy rõ hơn nhiều trang chú giải.

Ngôi nhà của Thầy Cung Giũ Nguyên, tại 60 Hoàng Văn Thụ, Nha Trang, hiện đóng cửa)
Nếu chỉ nhớ đến Cung Giũ Nguyên như một giáo sư ở Nha Trang giảng văn bằng thứ tiếng ông tinh thông, ta sẽ khó hình dung hết tầm vóc của một sự nghiệp từng đưa báo chí Đông Dương gặp nhà xuất bản Fayard ở Paris, đưa làng chài miền Trung đến với độc giả Pháp, Đức và Canada, đồng thời đặt tư tưởng Nhân Vị châu Âu trước những câu hỏi về phẩm giá con người trong một xã hội Việt Nam trải qua thuộc địa, chiến tranh, chia cắt và thống nhất. Từ khối tác phẩm cùng những hồ sơ còn lưu lại, gọi ông là một “cầu nối văn hóa” hẳn không sai. Tuy vậy, cách gọi ấy vẫn chưa với tới hết sự thông hiểu về hoàn cảnh sáng tác và số phận tiếp nhận của ông. Hình ảnh chiếc cầu thường gợi một sự lưu thông thuận lợi giữa hai bờ, trong khi vị trí trung gian của Cung Giũ Nguyên luôn đi kèm một cái giá đáng kể. Tiếng Pháp trao cho ông một chân trời sáng tạo rộng lớn, đồng thời khiến tác phẩm khó đến được với đông đảo độc giả ngay tại quê hương. Sách của ông phải tìm đường qua những nhà xuất bản ở xa và trong nhiều thập niên chỉ hiện diện trước một số rất ít người đọc Việt Nam. Nghịch lí ấy, theo tôi, mới là vấn đề đáng suy nghĩ nhất trong sự nghiệp Cung Giũ Nguyên. Ông làm chủ tiếng Pháp để cất lên một tiếng nói từ Việt Nam, còn con đường đưa tiếng nói ấy trở về với người Việt lại phần lớn nằm ngoài khả năng quyết định của ông.
Cung Giũ Nguyên sinh năm 1909 tại Huế và qua đời ngày 7 tháng Mười Một 2008 tại Nha Trang. Ngay ngày sinh của ông cũng phản ánh tình trạng tư liệu còn tản mạn. Một số công trình gần đây ghi ngày 20 tháng Mười Một, trong khi Từ điển văn học, qua phần trích dẫn của báo chí trong nước, ghi ngày 28 tháng Tư. Chừng nào chứng thư hộ tịch gốc chưa được tìm thấy, mốc năm 1909 vẫn là cách ghi thận trọng hơn cả. Theo khảo cứu của Alain Guillemin, nhà xã hội học và là nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp (CNRS), cùng với công trình nghiên cứu bản thảo của Phạm Văn Quang, nhà nghiên cứu văn học Pháp ngữ và là giảng viên Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, thì cha Cũng Giũ Nguyên là Cung Quang Bào, xuất thân từ một gia đình Minh Hương, và từng giữ chức Đốc học. Mẹ ông, Nguyễn Phúc Thị Bút, thuộc hoàng tộc Nguyễn, là cháu nội An Thành vương, người con trai út của vua Minh Mạng. Hai dòng xuất thân đặt Cung Giũ Nguyên vào một môi trường giao thoa giữa Hán học gia đình, văn hóa cung đình Huế, lịch sử di cư Minh Hương và nền giáo dục Pháp thuộc. Từ trường Paul Bert đến Quốc Học Huế trong những năm từ 1922 đến 1927, ông học tiếng Pháp trong một hệ thống được xây dựng cho mục tiêu thuộc địa, rồi dành gần trọn đời để biến ngôn ngữ ấy thành tài sản trí tuệ và phương tiện sáng tạo của riêng mình. Theo Guillemin, Cung Giũ Nguyên từng muốn theo học mĩ thuật, nhưng trách nhiệm của người con cả khiến ông phải sớm kiếm sống. Con đường học thuật của ông vì thế không đi qua một chương trình đại học liền mạch, mà được gây dựng bằng việc đọc, làm báo, giảng dạy, dịch thuật và sáng tác bền bỉ suốt gần tám thập niên.
Năm 1930, viên trợ giáo trẻ ở Nha Trang bị chính quyền thuộc địa cho thôi việc; văn bản đương thời không ghi lí do. Alain Guillemin đặt sự kiện này trong bầu không khí đàn áp sau khởi nghĩa Yên Bái. Phạm Văn Quang cũng xem động cơ chính trị là một giả thuyết có cơ sở, song cả hai đều dừng lại ở mức giả thuyết. Sự dè dặt ấy phù hợp với tình trạng tư liệu về Cung Giũ Nguyên. Nhiều chi tiết trong đời ông được lưu truyền qua học trò, thân hữu và gia đình, trong khi hồ sơ hành chính cùng một phần bản thảo đã thất lạc. Biến cố năm 1930 mở ra chặng đường báo chí của Cung Giũ Nguyên. Ông cộng tác với La Gazette de Hué, cùng nhà hải dương học Raoul Serène chủ trương Les Cahiers de la Jeunesse vào giữa thập niên 1930, phụ trách Le Soir d’Asie từ năm 1939, làm chủ bút La Presse d’Extrême-Orient năm 1954, rồi viết thường xuyên cho France-Asie, La Tribune và nhiều tạp chí trong lẫn ngoài Việt Nam. Song song với báo chí Pháp văn, ông sáng tác bằng tiếng Việt từ khá sớm qua một loạt tác phẩm: Một người vô dụng (1930), Nhân tình thế thái (1931) và Nợ văn chương (1934). Cung Giũ Nguyên là một nhà văn song ngữ. Về sau, ông dành phần lớn tham vọng nghệ thuật cho tiếng Pháp, đồng thời vẫn tiếp tục viết, dịch và tự chuyển ngữ tác phẩm của mình sang tiếng Việt.
Trong hoạt động báo chí của Cung Giũ Nguyên, Les Cahiers de la Jeunesse (Tập san Tuổi Trẻ), xuất bản từ tháng Chín 1935 đến tháng Mười 1938, là một dấu mốc đáng chú ý. Tạp chí quy tụ Phạm Văn Ký, Phạm Duy Khiêm, Pierre Đỗ Đình, Đào Duy Anh, Đào Đăng Vỹ cùng nhiều cây bút đương thời. Theo khảo sát của Alain Guillemin, các tác giả thường được trích dẫn, bình luận hoặc giới thiệu gồm Charles Péguy, Daniel-Rops, Denis de Rougemont, Emmanuel Mounier, Étienne Gilson, Nicolas Berdyaev, Georges Bernanos, Jacques Maritain và Jean Guitton. Sự hiện diện của Berdyaev bên cạnh Mounier và Maritain cho thấy nhóm chủ trương quan tâm trực tiếp đến triết học Nhân Vị và tư tưởng Kitô giáo châu Âu. Trong hoàn cảnh thuộc địa, Tập san Tuổi Trẻ đề cao phẩm giá con người, đòi hỏi quan hệ bình đẳng giữa người Pháp và người Việt, phê phán thái độ khinh miệt dân bản xứ, đồng thời bác bỏ ý tưởng khôi phục nguyên trạng một quá khứ đã cạn sinh lực. Các số báo hiện còn xác nhận Cung Giũ Nguyên cùng Raoul Serène điều hành một diễn đàn thường xuyên giới thiệu Berdyaev. Riêng tác quyền của từng bài viết vẫn phải được xác định từ văn bản gốc, bởi tạp chí do hai người đồng chủ trương và quy tụ nhiều cộng tác viên.
Những tư liệu hiện tìm được cho thấy Cung Giũ Nguyên thuộc lớp trí thức Việt Nam tiếp nhận Berdyaev từ rất sớm. Dấu vết đầu tiên xuất hiện trong thời gian Tập san Tuổi Trẻ hoạt động, từ năm 1935 đến năm 1938. Tiếp đó là một bản văn dẫn đích danh Berdyaev, được tài liệu thứ cấp ghi niên đại 1948 và sau này đưa vào Volontés d’Existence (Những Ý chí Sinh Tồn - 1954). Về sau, Cung Giũ Nguyên còn biên soạn Đọc Berdiaeff, kèm một bản dịch tiếng Việt, đồng thời tiếp tục viện dẫn triết gia Nga trong các trước tác giáo dục. Chuỗi tư liệu kéo dài qua nhiều thập niên cho thấy Berdyaev là một mối quan tâm bền bỉ trong đời viết của ông, được tiếp nhận có chọn lọc và đưa vào những suy tư về con người, dân tộc và giáo dục. Với thư mục hiện có, có thể xếp Cung Giũ Nguyên vào số những người Việt Nam đầu tiên viết về Berdyaev. Trong phạm vi tư liệu hiện tôi đang biết, chưa thấy một tác giả Việt Nam nào trước Cung Giũ Nguyên dành riêng một công trình cho Berdyaev và kèm theo bản dịch tiếng Việt. Nhận định này vẫn để ngỏ trước những tư liệu chưa được phát hiện hoặc chưa được khảo sát đầy đủ trong báo chí Pháp văn, Việt văn và Công giáo ở Đông Dương trước năm 1945.
Hoạt động của Cung Giũ Nguyên còn đi vào chính trường ở một thời điểm quyết định. Theo khảo cứu của nhà nghiên cứu Thụy Khuê, dựa trên tư liệu của Nguyễn Khắc Ngữ và Philippe Devillers, hội nghị Hương Cảng, khai mạc ngày 9 tháng Chín năm 1947 theo chủ ý triệu tập của cựu hoàng Bảo Đại, họp suốt một tuần với khoảng 30 đại biểu thuộc hơn 15 tổ chức. Nguyễn Hải Thần giữ chức chủ tọa, Cung Giũ Nguyên là thư kí hội nghị, Lưu Đức Trung làm phát ngôn viên của Bảo Đại. Hội nghị bác bỏ đề nghị của Cao ủy Émile Bollaert, vốn mới hứa quyền tự trị, rồi yêu cầu thương thuyết trên căn bản độc lập, thống nhất, bình đẳng và công lí. Vai trò thư kí hội nghị đưa Cung Giũ Nguyên vào giữa cuộc tranh luận về một giải pháp quốc gia trong thế giằng co giữa chính sách thuộc địa của Pháp, các lực lượng quốc gia và cuộc chiến do Việt Minh lãnh đạo. Tư liệu còn lại chưa đủ để quy ông vào toàn bộ cương lĩnh của một phe. Theo tôi, điều đáng ghi nhận nằm ở kinh nghiệm trực tiếp ấy: tư tưởng Nhân Vị ở ông được suy tưởng song hành với vấn đề chủ quyền; phẩm giá cá nhân luôn đi cùng quyền tự quyết của dân tộc.
Hoạt động xã hội của Cung Giũ Nguyên trải từ phong trào Hướng đạo và giáo dục thanh niên đến việc tham gia phái đoàn Quốc gia Việt Nam tại Hội nghị Genève năm 1954. Hướng đạo Việt Nam khởi sự năm 1930; trong lịch sử phong trào, danh xưng chính xác nhất dành cho ông chính là một huynh trưởng thuộc lớp khai phá, đặc biệt gắn bó với Ngành Tráng và công tác huấn luyện. Giai đoạn 1937-1938, Tráng đoàn Ngô Quyền do ông phụ trách tại Nha Trang được ghi nhận trong số các Tráng đoàn đầu tiên của Việt Nam. Năm 1938, ông dự những khóa huấn luyện mở đầu tại Bạch Mã. Sau Hội nghị Genève, ông trở lại Nha Trang, làm hiệu trưởng Trường trung học Lê Quý Đôn từ giữa thập niên 1950 đến năm 1975, tiếp tục giảng dạy, viết và huấn luyện Hướng đạo. Năm 1957, ông sang Anh dự “Họp bạn Hướng đạo thế giới tại Sutton”, tiếp đó thụ huấn Bằng Rừng tại Gilwell Park và được phong nhậm Deputy Camp Chief, viết tắt DCC, tức Trại trưởng huấn luyện. Năm 1958, ông điều khiển Trại trường Tùng Nguyên tại Đà Lạt; đến năm 2007, ở tuổi 98, ông vẫn hướng dẫn các toán Alpha và Beta tại Nha Trang. Chuỗi hoạt động kéo dài gần bảy thập niên cho thấy sự gắn bó bền bỉ của Cung Giũ Nguyên với Hướng đạo. Ở đó, Nhân Vị luận đi vào một phương pháp giáo dục cụ thể, theo đó người trẻ tự rèn luyện, tự chịu trách nhiệm rồi “Lên Đường” để phụng sự xã hội. Dấn thân xã hội ở Cung Giũ Nguyên trước hết mang hình thức giáo dục con người cụ thể và kiến tạo tính cách; quan niệm ấy tách khỏi lối huy động thanh thiếu niên theo phe phái và ý muốn chiếm lĩnh diễn đàn.
Đặt Cung Giũ Nguyên vào lịch sử văn chương Việt Nam bằng tiếng Pháp đòi hỏi một cái nhìn bao quát cả không gian văn học song ngữ đầu thế kỉ 20. Nguyễn Văn Vĩnh dùng tiếng Pháp trong báo chí, dịch thuật và nghị luận, góp phần vào cuộc chuyển biến văn hóa đương thời. Nguyễn Mạnh Tường, ngoài hai luận án bảo vệ tại Montpellier, còn viết văn xuôi tự sự và du kí qua Sourires et Larmes d’une Jeunesse và Pierres de France. Nguyễn Tiến Lãng có Indochine la Douce, Les Chemins de la Révolte và La Colline des Abricotiers. Phạm Duy Khiêm tái tạo truyền thuyết trong Légendes des Terres Sereines và La Jeune Femme de Nam Xuong, rồi đi vào tự truyện liên văn hóa với Nam et Sylvie. Phạm Văn Ký xây dựng một sự nghiệp gồm thơ, kịch, truyện ngắn và tiểu thuyết, từ Frères de Sang đến Perdre la Demeure, cuốn tiểu thuyết được Viện Hàn lâm Pháp trao Giải lớn năm 1961. Trong quần thể ấy, Cung Giũ Nguyên có một vị trí riêng, chẳng cần hạ thấp những người cùng thời để xác lập tầm vóc. Sau năm 1945, phần lớn các tác giả Pháp ngữ quan trọng của Việt Nam sống và xuất bản lâu dài tại Pháp; Cung Giũ Nguyên cùng Hoàng Xuân Nhị thuộc số ít người ở lại trong nước đến cuối đời. Khoảng cách địa lí ấy chi phối đề tài, công chúng, đường đi của bản thảo và cả số phận tiếp nhận.
Trong đời Cung Giũ Nguyên, tiếng Pháp mang ba lớp lịch sử gắn chặt với nhau. Đó trước hết là ngôn ngữ của nhà trường thuộc địa, được truyền dạy trong một hệ thống bất bình đẳng. Đó cũng là ngôn ngữ của kho triết học và văn chương ông đọc, giảng dạy, chú giải, rồi dùng làm điểm tựa để dịch Berdyaev, Thoreau, Brecht, Simone Weil và Kafka sang tiếng Việt; một phần công việc này còn nằm trong bản thảo hoặc chỉ được biết qua danh mục tác phẩm. Sau cùng, tiếng Pháp là ngôn ngữ sáng tác do ông lựa chọn, đem lại tự do thẩm mĩ nhưng khiến sách khó đến với đông đảo người đọc Việt Nam. Cách nói “chiếm hữu ngôn ngữ của kẻ thống trị” chỉ diễn tả được một phần. Sau nhiều thập niên lao động, tiếng Pháp đối với ông đồng thời là kí ức giáo dục, phương tiện nghề nghiệp, thư viện tinh thần và căn phòng viết. Ông sống và viết tại Nha Trang, trong khi đường xuất bản thường hướng về Sài Gòn, Paris, Sherbrooke hoặc Dallas. Sự cách biệt giữa địa điểm sáng tác và địa điểm lưu hành quy định phần nào vị thế văn học của ông.
Volontés d’Existence (Những ý chi sinh tồn - 1954), được Thư viện Quốc gia Pháp xác nhận qua bản in của France-Asie, thường được giới thiệu như một tiểu luận triết học. Thực chất, sách gồm nhiều khảo luận, từ suy tư về ý chí hiện hữu đến phác thảo văn học Việt Nam và khảo sát “ý thức bất hạnh” ở Nguyễn Du. Danh từ volontés được dùng ở số nhiều, gợi đến nhiều chủ thể cùng đòi quyền tự quyết đời mình, từ cá nhân thoát khỏi sự che chở gia trưởng đến một dân tộc thoát khỏi chế độ thuộc địa. Theo quan niệm của Ching Selao, nhà nghiên cứu văn học Pháp ngữ, nữ giáo sư văn học Pháp ngữ và văn học Québec tại Đại học Vermont, Cung Giũ Nguyên nối kết sự phản kháng của cá nhân với khát vọng độc lập dân tộc qua việc khước từ các hình thức phụ quyền trong gia đình, xã hội và thuộc địa. Quan hệ giữa ông với Berdyaev cũng được ghi nhận trực tiếp trong tập sách. Một tư liệu tưởng niệm, dẫn lại nghiên cứu của Marc Laurent, trích câu viết rằng “Cùng với Nicolas Berdiaeff, chúng tôi cho rằng mỗi thế hệ là một cứu cánh tự thân, mang trong chính mình lí do tồn tại và ý nghĩa của đời sống riêng, qua những giá trị do mình tạo ra và những thôi thúc tinh thần đưa mình đến gần Thiên Chúa” (nguyên văn: “Avec Nicolas Berdiaeff, nous pensons que chaque génération est une fin en soi, porte en elle la justification et le sens de sa propre vie par les valeurs qu’elle crée et les élans spirituels qui la font se rapprocher de Dieu”). Từ đó, Cung Giũ Nguyên lập luận rằng mỗi thế hệ mang lí do tồn tại và ý nghĩa đời mình trong những giá trị do chính mình tạo lập; thế hệ đang sống không thể bị dùng làm phương tiện cho tương lai, cũng không thể mãi lệ thuộc người đã khuất hoặc những huyền thoại bao quanh họ.
Những gì Cung Giũ Nguyên tiếp nhận từ Berdyaev có thể được soi sáng qua Cinq Méditations sur l’Existence, Solitude, Société et Communauté (Năm suy niệm về hiện hữu, cô đơn, xã hội và cộng đồng), bản Pháp văn do Irène Vildé-Lot dịch, Aubier xuất bản năm 1936. Một bài điểm sách năm 1938 giới thiệu công trình này như một triết học hiện sinh về nhân vị, đặt hiện hữu nơi con người cụ thể và phê phán sự “khách thể hóa”, tức khuynh hướng cố định con người trong những phạm trù có sẵn của tri thức và đời sống xã hội. Tác phẩm lần lượt bàn về chủ thể và khách thể hóa, cái tôi trong cô đơn và xã hội, thời gian và định mệnh, nhân vị trước xã hội, rồi khả năng hiệp thông. Với Berdyaev, cá nhân sinh học thuộc thế giới tất định, còn nhân vị thuộc bình diện tự do tinh thần và chỉ được thực hiện qua lao động nội tâm. Xã hội cần cho đời sống chung, song luôn có nguy cơ hạ con người xuống địa vị một bộ phận hoặc một phương tiện. Cộng đồng đích thực khởi đi từ sự hiệp thông giữa những nhân vị tự do. Mạch tư tưởng ấy cũng mở ra một cách đọc Cung Giũ Nguyên: phẩm giá con người không do gia đình, xã hội, quốc gia hay lịch sử ban phát, mà được xác lập trong trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với đời sống tinh thần của chính mình.
Cung Giũ Nguyên tiếp nhận tư tưởng nhân vị của Berdyaev từ rất sớm, rồi đưa những câu hỏi ấy vào hoàn cảnh Việt Nam. Khi bàn về các thế hệ đã khuất và huyền thoại tổ tiên, ông hướng sự suy tưởng về sức nặng của gia tộc, đạo hiếu, chế độ thuộc địa cùng những học thuyết nhân danh tương lai để sử dụng con người đang sống như một phương tiện. Với ông, phẩm giá gắn với khả năng mỗi người tự lựa chọn, tự chịu trách nhiệm và được cộng đồng thừa nhận như một con người có giá trị riêng. Bởi vậy, ông cùng lúc dè chừng chủ nghĩa cá nhân khép kín, sự bảo hộ thực dân và mọi hệ tư tưởng xem con người như vật liệu của lịch sử. Tư tưởng nhân vị trong trước tác của ông xuất hiện trước khi khái niệm này được phổ biến trong đời sống chính trị miền Nam sau năm 1954. Dù lấy mốc văn bản được truyền lại là năm 1948 hay mốc xuất bản chắc chắn của Volontés d’Existence, Cung Giũ Nguyên vẫn thuộc lớp trí thức Việt Nam tiếp nhận Berdyaev từ buổi đầu. Ở ông, nhân vị khởi đi từ báo chí, giáo dục thanh niên và nỗi bận tâm về tự do của từng người, khác với cách một học thuyết về sau được đưa vào ngôn ngữ chính trị của nhà nước. Danh mục tác phẩm còn ghi Đọc Berdiaeff và bản dịch Năm suy gẫm về cuộc sống, nhiều khả năng liên quan đến Cinq Méditations sur l’Existence của Berdyaev. Do chưa xác định được năm hoàn tất, nhà xuất bản, bản lưu chiểu và tình trạng thủ bản, hai nhan đề này mới cho phép nhận ra một dự án nghiên cứu và dịch thuật, chưa đủ để khẳng định từng được lưu hành công khai. Mối quan tâm ấy vẫn còn trong Câu chuyện ngành Tráng (2002), khi Cung Giũ Nguyên đặt tự do bên cạnh trách nhiệm, đời sống nội tâm bên cạnh giao tiếp và cá nhân bên cạnh lợi ích chung. Berdyaev vì vậy hiện diện trong đời viết của ông như một nguồn suy tưởng lâu dài, từ Les Cahiers de la Jeunesse trong thập niên 1930 đến các trước tác giáo dục cuối đời.
Hai năm sau Volontés d’Existence, tiểu thuyết Le Fils de la Baleine (Kẻ thừa tự của Ông Nam Hải - 1956), do Fayard xuất bản tại Paris, đưa Cung Giũ Nguyên đến với đông đảo độc giả Pháp. Nhân vật chính là một người đàn ông sống sót sau vụ đắm tàu, mất trí nhớ và trôi dạt vào một làng biển. Dân làng gọi anh là Mỗ, một cái tên gần như xóa sạch căn cước. Khi phát hiện xác cá voi dạt vào bờ, Mỗ theo tục lệ được nhận làm người con chịu tang Ông Nam Hải. Danh phận linh thiêng ấy tưởng như đưa anh vào cộng đồng, nhưng anh vẫn bị chế giễu, giam giữ và ngăn cản quyền công dân, kể cả quyền bỏ phiếu. Làng biển cần anh trong một nghi thức tín ngưỡng, còn tư cách con người của anh vẫn không được thừa nhận đầy đủ. Cung Giũ Nguyên dùng tục thờ cá voi để dựng nên một nghịch lí về sự thuộc về. Mỗ được trao một quan hệ huyết thống với thần linh đúng lúc huyết thống và quá khứ riêng bị trí nhớ xóa bỏ; anh có một vai trong đời sống thiêng liêng nhưng không có chỗ đứng tương xứng trong đời sống dân sự. Phong tục trong tiểu thuyết vì thế tham gia trực tiếp vào câu chuyện về phẩm giá, thay vì chỉ tạo màu sắc miền biển. Biển, xác cá voi, tang phục, dư luận làng và cuộc bỏ phiếu cùng dẫn tới một câu hỏi xuyên suốt: cộng đồng nhìn nhận con người qua giá trị riêng hay qua công dụng mà cộng đồng gán cho họ? Hành trình của Mỗ kết thúc khi kí ức trở lại và anh cùng Liên rời làng. Việc tìm lại tên tuổi cũng là lúc anh thoát khỏi căn cước mà người khác áp đặt để giành lại quyền lựa chọn đời mình.
Chỉ trong khoảng từ tháng Năm đến tháng Chín năm 1956, Le Fils de la Baleine nhận ít nhất mười sáu bài điểm trên báo chí Pháp. Các nhà phê bình thường đặt Cung Giũ Nguyên bên cạnh những tên tuổi quen thuộc của văn chương Pháp để giới thiệu một tác giả viết từ Nha Trang. Sự tiếp nhận ấy đem lại cho ông một vị trí quan trọng, đồng thời cho thấy con đường đi vào công chúng Pháp vẫn phải qua hệ quy chiếu của chính quốc. Tài năng của Cung Giũ Nguyên hình thành ngoài Paris, nhưng Fayard, báo chí Pháp và các mạng lưới xuất bản quốc tế quyết định phần lớn khả năng lưu hành của tác phẩm. Bản dịch tiếng Đức ra đời năm 1957; bản Pháp được Naaman tái bản tại Québec năm 1978; bản tiếng Việt xuất bản năm 1995; một ấn bản Pháp khác xuất hiện năm 2015. Lịch sử ấy cho thấy tác phẩm của Cung Giũ Nguyên thường phải đi một vòng rất xa trước khi trở lại với độc giả Việt Nam. Chính khoảng cách giữa chỗ ông viết và chỗ sách được in, được đọc đã làm nên một phần số phận văn chương của ông.
Sau Le Fils de la Baleine, Cung Giũ Nguyên tiếp tục khảo sát quan hệ giữa con người và cộng đồng trong Le Domaine Maudit (Miền đất dữ - 1961), do Fayard xuất bản tại Paris. Lần này, lịch sử đi thẳng vào gia phả một gia đình và làm biến dạng từng mối thân thuộc. Loan, một phụ nữ Công giáo thông minh, cương nghị, liên tiếp chứng kiến những người gần gũi nhất bị cuốn vào bạo lực của thời đại. Chồng nàng, Trương, chết vì bệnh lao sau khi đặt bổn phận với đất nước lên trên hạnh phúc riêng. Cha nàng bị công nhân đồn điền sát hại. Minh, người em theo cách mạng, để con lại cho Loan chăm sóc. Trong một cơn giận dữ và hoảng loạn, Loan đầu độc cô cháu gái vì muốn ngăn đứa trẻ đi theo cha. Nàng sống tiếp, cứu giúp phụ nữ trong làng và mang theo một tội lỗi không thể thanh tẩy bằng vài lời phán xét đạo đức. Bi kịch gia đình ở đây chứa đựng sự phân hóa của đất nước, nhưng cuốn tiểu thuyết không dừng ở một phép ẩn dụ chính trị. Lịch sử thấm vào đức tin, tình yêu, dục vọng, bổn phận và cả tội ác; mỗi nhân vật đáp lại biến động bằng một hệ giá trị riêng. Gia đình vốn được xem là chốn che chở cuối cùng lại chính là nơi xung đột chính trị bộc lộ dữ dội nhất.
Cung Giũ Nguyên để cho các tiếng nói dân tộc chủ nghĩa, cộng sản, Công giáo và thân phương Tây cùng hiện diện, sửa chữa, bác bỏ và phơi lộ giới hạn của nhau. Tác phẩm không trao cho độc giả một bản án có sẵn về chế độ thuộc địa hay cách mạng. Sự tan vỡ của huyết hệ ở cuối truyện cũng khước từ niềm an ủi dễ dãi vào nguồn cội. Loan vì thế cần được nhìn như một chủ thể bi kịch có ý chí, trách nhiệm và phần bóng tối riêng, thay vì một hình ảnh tượng trưng thụ động cho đất nước bị chia xé. Đức tin Công giáo, tình yêu dành cho Trương, sự che chở các cháu và hành vi đầu độc cùng tồn tại trong một con người. Qua Loan, Cung Giũ Nguyên đặt phẩm giá bên cạnh khả năng phạm tội, lòng vị tha bên cạnh ý muốn chiếm đoạt sinh mệnh của kẻ khác. Chính nghịch lí ấy cứu tư tưởng nhân vị của ông khỏi sự khô cứng của một hệ giáo điều. Con người cần được bảo vệ như một giá trị tự thân, nhưng cũng chính con người có thể nhân danh tình thương để gây ra điều tàn nhẫn nhất.
Miền đất dữ vẫn mang theo một số giới hạn của thời đại. Vài nhân vật phương Tây còn được khắc họa theo những nét quy ước, đôi lúc lặp lại các đối lập Đông và Tây quen thuộc trong văn chương thuộc địa và hậu thuộc địa. Chi tiết ấy cho thấy vị trí trung gian giữa hai nền văn hóa không mặc nhiên đem lại cho nhà văn một cái nhìn vượt thoát mọi thành kiến. Cung Giũ Nguyên cũng phải thương lượng với những khuôn mẫu ông thừa hưởng: có lúc ông phá vỡ chúng, có lúc câu chữ vẫn giữ lại dấu vết của chúng. Bởi vậy, gọi ông là một “cầu nối văn hóa” chỉ thật sự có ý nghĩa khi ta nhìn thấy cả sự nhọc nhằn, do dự và bất toàn trong công việc ấy. Giá trị của Cung Giũ Nguyên nằm trong cuộc vật lộn lâu dài với ngôn ngữ, lịch sử và những giới hạn của chính mình chứ không nằm trong một chân dung đã được hậu thế gọt sẵn.
Biến cố năm 1975 mở ra quãng đời khắc nghiệt nhất của Cung Giũ Nguyên. Sau khi Viện Đại học Cộng đồng Duyên Hải được tiếp quản và tổ chức lại thành Đại học Duyên Hải, ông được lưu dụng tại trường. Do chương trình mới không còn lớp Pháp văn, ông thôi đứng lớp và được giao bảo quản thư viện. Thư từ với thế giới Pháp ngữ gần như đứt đoạn, đời sống vật chất ngày một thiếu thốn. Theo lời người cháu trong cuộc phỏng vấn do Phạm Văn Quang thực hiện, Cung Giũ Nguyên từng đào một hố cạnh nhà rồi đốt nhiều giấy tờ và bản thảo để tránh liên lụy đến gia đình. Khi một nhà văn phải tự tay hủy bỏ hồ sơ của đời mình, kiểm duyệt đã đi quá phạm vi cấm in và thu hồi sách. Sự kiểm soát ấy xâm nhập vào quan hệ giữa người viết với quá khứ riêng tư, biến kí ức thành mối nguy hiểm cho những người còn sống. Bản thảo Journal du Kauthara, dài 415 trang đánh máy, ghi lại trực tiếp kinh nghiệm ấy. Những trang đầu trải từ ngày 12 tháng Ba đến ngày 9 tháng Tư 1975; phần sau tiếp tục ghi chép đời sống của ông từ sau ngày 30 tháng Tư. Cung Giũ Nguyên viết về cảm giác bị một “bức màn sắt” (rideau de fer) ngăn cách với thế giới. Trong bối cảnh châu Á thời Chiến tranh Lạnh, “bức màn tre” (rideau de bambou) là biến thể của ẩn dụ ấy, một cách gọi xuất hiện từ năm 1949, trước hết chỉ sự cô lập của Trung Quốc cộng sản với thế giới bên ngoài. Với Cung Giũ Nguyên, sự cách biệt được cảm nhận qua những điều rất cụ thể: thư từ quá đắt đỏ, bạn đọc xa vắng và tiếng Pháp, từng nuôi dưỡng đời sống tinh thần của ông, giờ thiếu hẳn một cộng đồng đối thoại. Ông vẫn chọn ở lại với đất nước và mái nhà của mình, bởi miếng bánh xứ người, theo cách ông hình dung, có thể quá đắng. Quyết định ấy mang theo tình cảm, trách nhiệm và lòng tự trọng, đồng thời đặt ông vào một kinh nghiệm lưu đày ngay tại quê hương. Ông tiếp tục sống giữa căn nhà và bàn viết quen thuộc ở Nha Trang, trong khi thế giới văn chương từng nuôi dưỡng đời viết cứ lùi xa. “Lưu vong tại chỗ” - viết đến đây tôi lại nhớ đến bạn Trần Ngọc Hiếu của tôi – người thấu hiểu cảm thức “lưu vong tại chỗ” từ chính trải nghiệm của mình. Cụm từ ấy không mang nghĩa của một stigma; nó diễn tả đúng nghịch lí của một con người còn nguyên bàn viết, căn nhà và quê hương, song bị cắt khỏi công chúng, đồng nghiệp cùng mạch lưu thông văn chương của ngôn ngữ mình sử dụng.
Le Boujoum ra đời trong chính hoàn cảnh ấy. Cung Giũ Nguyên viết bản thảo từ khoảng năm 1976 đến năm 1980; một đoạn mang tên Le Chant d’Amdo được công bố năm 1980, còn toàn bộ bản Pháp văn chỉ xuất hiện tại Dallas năm 2002 nhờ một trung tâm do cựu học sinh của ông thành lập. Trong hơn hai thập niên, tác phẩm dài trên sáu trăm trang tồn tại chủ yếu dưới dạng bản đánh máy. Không tìm được nhà xuất bản Pháp, cũng không có dịch giả Việt ngữ, ông tự chuyển ngữ tác phẩm của ông. Phần đầu bản Việt, mang tên Thái Huyền, được Đại Nam in tại California năm 1994; phần còn lại không kịp ra mắt theo dự định. Vì vậy, năm 1980 nên được xem là mốc hoàn tất bản thảo và công bố một trích đoạn, còn năm 2002 mới là lần bản Pháp đầy đủ đến tay độc giả. Nghịch lí nằm ở chỗ tác phẩm tham vọng nhất của ông cũng là tác phẩm phải chờ lâu nhất để được in trọn vẹn. Nhan đề Le Boujoum gợi đến “Boojum” trong The Hunting of the Snark của Lewis Carroll, sinh vật khiến người chạm mặt phải biến mất. Cung Giũ Nguyên mượn một từ gần như vô nghĩa nhưng mang theo kí ức văn chương để đặt tên cho cuộc truy tìm ý nghĩa giữa một thế giới mất chỗ dựa. Tiểu thuyết mở ra bằng hình ảnh một vật thể như treo trên vực sâu bởi những sợi hi vọng trừu tượng, rồi khép lại theo cấu trúc vòng tròn; cú pháp, từ mới và các lớp ám chỉ liên tục phá vỡ thói quen đọc tuyến tính. Nếu Le Fils de la Baleine còn kể thế giới làng biển qua nhân vật, phong tục và sự kiện có thể nhận diện, còn Le Domaine Maudit đưa xung đột lịch sử vào huyết hệ và làm lung lay từng hệ giá trị, thì đến Le Boujoum, khủng hoảng đã thấm vào chính câu chữ. Câu hỏi không phải chỉ là con người sống thế nào giữa cộng đồng và lịch sử mà là liệu ngôn ngữ có đủ sức giữ lại một thế giới đang tan rã hay không. Hình thức tiểu thuyết ở đây không làm nhiệm vụ chuyên chở tư tưởng; chính nó phải mang lấy trạng thái bất an, đứt đoạn và kiệt quệ của ý thức.
Đặt Cung Giũ Nguyên bên cạnh những nhà văn Việt Nam cùng viết bằng tiếng Pháp, như Phạm Duy Khiêm, Phạm Văn Ký, Nguyễn Tiến Lãng, có lẽ sẽ giúp hậu bối nhận ra rõ hơn địa thế riêng của ông. Họ cùng đi ra từ nền giáo dục thuộc địa, cùng đưa kinh nghiệm Việt Nam vào văn xuôi Pháp ngữ, song đời viết không diễn ra trong một hoàn cảnh giống nhau. Phần lớn những tác giả quan trọng của thế hệ ấy sống lâu dài tại Pháp, viết giữa kí ức quê nhà và đời sống lưu xứ. Cung Giũ Nguyên ở lại Việt Nam, tiếp xúc hằng ngày với làng biển, trường học, đô thị miền Trung và các biến động mà tác phẩm của ông đề cập. Vị trí ấy chẳng trao cho ông một căn tính Việt nguyên vẹn hay một thẩm quyền cao hơn những người xa xứ; nó đặt ông dưới một sức ép khác. Người di cư phải thương lượng với kí ức và cảm giác xa lạ, còn người ở lại phải chịu những cuộc đổi đời diễn ra ngay dưới chân mình, cùng kiểm duyệt, cô lập và sự suy kiệt của môi trường ngôn ngữ. Trường hợp Cung Giũ Nguyên vì vậy cũng làm thay đổi cách hiểu về lưu vong. Sự chia lìa với một ngôn ngữ, một công chúng và một đời sống trí thức vẫn có thể xảy ra ngay tại quê hương, khi người viết còn nguyên căn nhà và bàn viết nhưng các đường liên lạc đã bị cắt đứt. Nhìn từ đó, Nha Trang cũng khó bị gọi giản đơn là ngoại vi. Thành phố ấy đứng ngoài Paris nếu lấy hệ thống xuất bản Pháp làm chuẩn, song lại là trung tâm kinh nghiệm của Cung Giũ Nguyên, nơi ông sống, dạy học, quan sát và viết. Tính ngoại vi chỉ xuất hiện trong quan hệ với một mạng lưới phát hành và phê bình nhất định. Hai tiểu thuyết được Fayard ấn hành cho thấy ông từng bước vào mạng lưới văn chương Paris; hành trình gian nan của Le Boujoum cho thấy sự hiện diện ấy rất dễ đứt đoạn khi hoàn cảnh chính trị, thị hiếu và quan hệ xuất bản thay đổi. Thành tựu quốc tế của ông có chứng cứ rõ ràng, còn hình ảnh một nhà văn đạt thành công rộng khắp thì tư liệu hiện còn chưa cho phép dựng lên. Chính sự chênh lệch giữa phẩm chất tác phẩm và khả năng lưu truyền mới làm nên số phận đặc biệt của Cung Giũ Nguyên.
Trong quãng thời gian từ 1975 đến 1989, Cung Giũ Nguyên không còn một vị trí giảng dạy chính quy. Năm 1979, theo lời ông kể, bệnh viện tỉnh Phú Khánh (cũ) mời ông dạy tiếng Pháp cho các y bác sĩ và phụ trách thư viện. Từ năm 1989 đến năm 1999, khi tuổi đã cao, ông trở lại giảng dạy văn chương và ngôn ngữ Pháp tại Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang. Mười năm cuối ấy nối lại phần nào đời sống giáo dục của ông từng bị gián đoạn, song chẳng thể hoàn trả những bản thảo thất lạc, những thư từ bị ngưng trệ và nhiều thập niên thiếu đối thoại. Danh mục hiện biết gồm hàng trăm bài viết, sách đã in cùng hàng chục tác phẩm chưa xuất bản, cho thấy một sức lao động hiếm có và đồng thời phơi bày tình trạng phân tán của di sản. Journal du Kauthara, Une Ville entre Deux Noms, La Robe de Papier, Le Serpent et la Couronne, Et l’Amandier est en Fleur, La Tâche de Vermillon cùng nhiều bản thảo khác vẫn chưa bước vào đời sống đọc thông thường. Một phần được học trò ở hải ngoại giữ lại, một phần còn trong gia đình tại Nha Trang, phần khác chưa rõ tung tích. Nghiên cứu Cung Giũ Nguyên bởi vậy luôn đứng giữa phê bình văn học và khảo cứu văn bản. Người đọc phải lần theo các ấn bản, bản đánh máy, thư từ, danh mục và lời chứng để dựng lại một sự nghiệp từng nhiều lần bị đứt mạch. Độ khó ấy chẳng phải vẻ bí hiểm tự thân của tác giả. Nó là hậu quả của lịch sử xuất bản, chiến tranh, kiểm duyệt, thất tán và sự thờ ơ kéo dài của giới nghiên cứu.
Từ Cung Giũ Nguyên, lịch sử văn học Việt Nam cũng cần được nhìn ra ngoài giới hạn của chữ quốc ngữ. Văn chương Việt từng hiện diện qua Hán văn, chữ Nôm, tiếng Pháp và ngày nay qua nhiều ngôn ngữ của các cộng đồng di dân. Quốc tịch tác giả hoặc ngôn ngữ được dùng chưa đủ để quyết định một tác phẩm thuộc về đâu. Cần xét cả địa điểm viết, chất liệu lịch sử, truyền thống nghệ thuật, công chúng hướng tới và hành trình lưu hành của văn bản. Le Fils de la Baleine được viết bằng tiếng Pháp, in tại Paris, kể về một làng biển miền Trung và dựa trên tục thờ cá voi, rồi gần bốn mươi năm sau mới đến với độc giả qua bản tiếng Việt. Tác phẩm ấy cùng lúc thuộc văn chương Pháp ngữ, lịch sử tiểu thuyết Việt Nam và văn học hậu thuộc địa. Các phạm vi ấy bổ sung cho nhau, chẳng cần tranh giành quyền sở hữu. Cách nhìn đa ngữ còn giúp hiểu đúng vấn đề hội nhập. Viết bằng một ngoại ngữ chẳng tự động đem lại vị thế bình đẳng trong trao đổi văn hóa. Cung Giũ Nguyên làm chủ tiếng Pháp ở trình độ cao, trong khi đường đi của tác phẩm vẫn lệ thuộc các nhà xuất bản, báo chí và thị trường đặt ngoài Việt Nam. Kinh nghiệm địa phương khi bước vào tiếng Pháp cũng trải qua một quá trình tái tạo. Phong tục biển trong Kẻ thừa tự của Ông Nam Hải tham gia vào cấu trúc của câu chuyện; gia đình trong Le Domaine Maudit (Miền đất dữ) bị lịch sử xâm nhập và phân rã; đến Le Boujoum, chính ngôn ngữ phải gánh lấy khủng hoảng của ý thức. Hội nhập ở đây là khả năng tham gia đối thoại trong khi vẫn ý thức rõ sự chênh lệch giữa các thiết chế, đồng thời đưa kinh nghiệm Việt Nam vào tiếng Pháp mà không để nó bị giản lược thành một thứ phong vị lạ. Phần việc còn lại thuộc về người đọc Việt qua dịch thuật, tái bản, bảo tồn bản thảo và đưa tác phẩm Pháp văn vào lịch sử văn chương dân tộc. Một lời ca ngợi về danh tiếng quốc tế chẳng thể thay thế công việc đọc.
Khi trở lại kí ức lớp học, tôi hiểu người thầy giảng văn chương cổ điển Pháp trước mặt chúng tôi từng mang theo một lịch sử mà bài giảng khi ấy chưa nói hết. Ông từng được báo chí Paris đón nhận, rồi chứng kiến một bản thảo hàng trăm trang nằm yên qua nhiều thập niên. Ông từng tham dự những sinh hoạt chính trị và văn hóa quan trọng, cuối cùng vẫn chọn đời sống trường học. Ông từng cổ vũ đối thoại Pháp-Việt trên báo chí, rồi trải qua những năm thư từ khó nhọc và bạn đọc tản mác. Ông đặt niềm tin vào phẩm giá cá nhân, trong khi tiểu thuyết của ông luôn cho thấy con người có thể phản bội chính phẩm giá ấy bằng tình thương chiếm hữu, lòng trung thành mù quáng hoặc niềm tin tuyệt đối vào một cứu cánh chung. Sự nghiệp Cung Giũ Nguyên vì vậy khó gói ghém trong một danh xưng. Nhà giáo, học giả, nhà văn Pháp ngữ hay người chuyển tải văn hóa đều đúng, nhưng mỗi tên gọi chỉ giữ được một phần. Ông thuộc thế hệ trí thức do nhà trường thuộc địa đào tạo, đồng thời sớm chống lại thái độ gia trưởng của chế độ ấy. Ông tiếp nhận tư tưởng nhân vị Công giáo, chủ nghĩa dân tộc và tinh thần bất bạo lực, trong khi tiểu thuyết vẫn dành chỗ cho những tiếng nói xung đột cùng tồn tại. Ông sống trọn đời tại Việt Nam, song từng nếm trải một hình thức lưu đày ngay trong căn nhà của mình. Ông được đọc ở nước ngoài từ thập niên 1950, còn tác phẩm tham vọng nhất phải đợi hơn hai mươi năm sau mới có bản in đầy đủ. Những nghịch lí ấy trả Cung Giũ Nguyên về đúng kích thước lịch sử của ông, một trí thức sống giữa nhiều truyền thống, chịu nhiều đứt gãy và bền bỉ viết mà không cần phải giải thích.
Đóng góp lâu dài của Cung Giũ Nguyên có thể nhận ra trên ba phương diện liên kết chặt chẽ. Trước hết là một hành trình tiểu thuyết có sự phát triển rõ rệt, từ thân phận người lạ trong cộng đồng ở Kẻ thừa tự của Ông Nam Hải, qua bi kịch gia đình giữa xung đột tư tưởng trong Miền đất dữ, đến cuộc khủng hoảng của lời kể và ý nghĩa trong Le Boujoum. Kế đó là một quan niệm về con người chống lại mọi hình thức phụ quyền, từ gia đình, xã hội đến thuộc địa, luôn đòi mỗi cá nhân được nhìn nhận như một chủ thể có tự do và trách nhiệm. Sau cùng là sự hiện diện bền bỉ của một nhà văn Việt Nam trong tiếng Pháp ngay trên đất Việt, buộc lịch sử văn học dân tộc thừa nhận bản chất đa ngữ của chính mình. Ba phương diện ấy đủ để xác lập tầm vóc của ông, chẳng cần thêm huyền thoại về một thiên tài được thế giới đồng thanh tôn vinh. Cung Giũ Nguyên qua đời tại Nha Trang sau gần một thế kỉ chứng kiến triều Nguyễn cuối thời, chế độ thuộc địa, chiến tranh, chia cắt, thống nhất và buổi đầu mở cửa. Ông để lại một sự nghiệp khó đọc, khó phân loại và khó thu thập. Chính tình trạng ấy đặt ra thách thức một chương trình nghiên cứu cụ thể: đọc lại Những ý chí sinh tồn trong lịch sử tư tưởng nhân vị Việt Nam; tìm kiếm và chỉnh lí Đọc Berdiaeff cùng bản dịch Năm suy gẫm về cuộc sống; đặt Kẻ thừa tự của Ông Nam Hải bên cạnh lịch sử văn hóa biển; đọc Miền đất dữ như một tiểu thuyết đa thanh về gia đình và thời cuộc; tiếp cận Le Boujoum như một thử nghiệm ngôn ngữ sinh ra từ cô lập. Khi những công việc ấy được tiến hành đến nơi đến chốn, có lẽ Cung Giũ Nguyên sẽ thôi hiện diện như một ngoại lệ được nhắc đến chỉ bằng vài lời kính trọng. Ông sẽ trở lại đúng chỗ của mình trong lịch sử văn chương Việt Nam thế kỉ hai mươi.
Ghi chú:
Những dữ kiện tiểu sử, báo chí, tiếp nhận và danh mục tác phẩm trong bài được đối chiếu chủ yếu từ Alain Guillemin, Cung Giũ Nguyên ou l’homme des deux rives; Phạm Văn Quang, Étude du manuscrit du Journal du Kauthara de Cung Giũ Nguyên và cuộc trao đổi về danh mục trước tác; Ching Selao, Le roman vietnamien francophone; Nguyễn Giáng Hương, La Littérature vietnamienne francophone (1913-1986); cùng các biểu ghi tác phẩm của Thư viện Quốc gia Pháp. Phần Berdyaev còn dựa vào bản Pháp văn Cinq méditations sur l’existence, bài điểm sách của Pierre Guérin, thư mục ghi bài của Marc Laurent trên Présence francophone, số 5, mùa thu 1972, trang 53–59, khảo cứu lịch sử của Phi Vân Nguyễn, cùng bản điện tử Câu chuyện ngành Tráng. Bài dùng dạng tên Berdyaev theo lối chuyển tự phổ biến hiện nay; dạng Berdiaeff được giữ trong nhan đề và lời dẫn của Cung Giũ Nguyên. Chưa thấy hồ sơ gốc đủ sức giải quyết bất nhất về ngày sinh, nên bài chỉ dùng năm 1909. Các mốc về Le Boujoum được tách rõ giữa thời gian hoàn tất bản thảo và trích đăng năm 1980, bản dịch Việt in một phần năm 1994, bản Pháp văn đầy đủ in năm 2002. Kết luận về vị trí tiên phong trong tiếp nhận Berdyaev mang tính tạm thời, chờ một thư mục đầy đủ hơn của báo chí Đông Dương trước 1945 và việc tiếp cận các thủ bản còn lại.