Tác giả: Đại sứ Thomas J. Corcoran
Người dịch: Phan Văn Song

PHỤ LỤC A
Con đường đến Việt Nam
Bài học về can dự
William P. Bundy
Trợ lí Ngoại trưởng phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương[1]
Sáng nay, các bạn đã yêu cầu tôi phát biểu về chủ đề "Con đường đến Việt Nam: bài học về can dự". Tôi hoan nghênh cơ hội này để điểm lại toàn bộ lịch sử các hành động của Hoa Kì đối với Việt Nam - nói với tư cách cá nhân về giai đoạn trước năm 1961, trong giai đoạn đó tôi không chịu trách nhiệm về chính sách, và tất nhiên nhất thiết là chính thức hơn cho giai đoạn kể từ tháng 1/1961.
Ngoài tầm quan trọng to lớn hiện tại của Nam Việt và các hành động của chúng ta ở đó, tôi thường suy ngẫm - với tư cách là người từng có ý định trở thành một nhà sử học chuyên nghiệp - rằng câu chuyện về Việt Nam, về Đông Nam Á và về chính sách của Mĩ ở đó tạo thành một trường hợp nghiên cứu vô cùng rộng lớn, bao gồm hầu hết các vấn đề lớn đã ảnh hưởng đến toàn thế giới trong 25 năm qua. Bởi vì các khía cạnh của lịch sử Việt Nam bao gồm những đặc điểm của sự cai trị thực dân của Pháp so với sự cai trị thực dân ở những nơi khác; sự kết thúc của thời kì thuộc địa; mối tương quan và sự cạnh tranh giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa cộng sản; quan hệ của chúng ta với Liên Xô và Trung Hoa cộng sản và quan hệ giữa họ với nhau; quan hệ của chúng ta với cường quốc thực dân châu Âu, Pháp; và ít nhất là từ năm 1954 - quan hệ của Việt Nam với vấn đề rộng lớn hơn về độc lập dân tộc và quyền tự quyết ở Đông Nam Á và trên toàn châu Á.
Câu chuyện về Việt Nam trên hết là sản phẩm của khát vọng và quyết định của người Việt Nam. Trong giai đoạn đầu, các quyết định của Pháp đóng vai trò then chốt. Nhưng tôi chắc rằng các bạn muốn tôi tập trung vào vai trò chính sách của Mĩ, cách thức và lí do chúng ta can dự, và chúng ta đi đến vị thế hiện tại như thế nào. Tất nhiên, đây không nên chỉ là một cuộc thảo luận thuần về lịch sử, và tôi biết rằng các bạn có những quan tâm tự nhiên và chính đáng, đặc biệt tập trung vào các quyết định trong 2 năm qua và các quyết định mà chúng ta đang phải đối mặt hiện nay và trong tương lai. Vì vậy, tôi sẽ đề cập ngắn gọn đến những vấn đề này, với kì vọng rằng các câu hỏi của các bạn sẽ chủ yếu xoay quanh lĩnh vực này.
Để thuận tiện cho nhau trong phân tích, tôi đã cố gắng chọn ra 10 quyết định quan trọng của Mĩ kể từ năm 1945. Tôi không có ý định bênh vực, hay nhất thiết phải biện minh cho các quyết định chính sách được đưa ra trước năm 1961, nhưng việc xem xét chúng là cần thiết nếu muốn hiểu được tình hình hiện tại.
Các quyết định trong thời kì thực dân Pháp
Những quyết định đầu tiên của chúng ta ảnh hưởng đến Việt Nam là vào năm 1945. Tổng thống Roosevelt tin tưởng sâu sắc rằng sự cai trị thực dân của Pháp ở Đông Dương không nên được khôi phục, và thái độ này đã dẫn chúng ta đến việc áp dụng thái độ mà người Pháp luôn coi là cản trở sự trở lại của họ, trong những tháng cuối cùng của cuộc chiến chống lại Nhật Bản quân phiệt. Ngoài ra, chúng ta cũng đã trợ giúp khiêm tốn cho Hồ Chí Minh như một nguồn lực chống Nhật. Câu chuyện này, giống như nhiều điều khác trong toàn bộ hồ sơ, được kể lại hay nhất trong cuốn sách đầy suy tư The lost revolution (Cuộc Cách mạng bị đánh mất) của Robert Shaplen.
Thứ hai, khi Pháp quay trở lại, chúng ta đã đứng ngoài cuộc. Trong năm 1946 đầy biến động, và trong 3 hoặc 4 năm kế tiếp, Pháp đã kí kết thỏa thuận Fontainebleau rồi lại phá vỡ nó, dẫn đến cuộc xung đột lớn. Nhiều người, trong đó có Shaplen, đã lập luận rằng chúng ta lẽ ra có thể gây sức ép lớn hơn, thậm chí là sức ép hiệu quả, lên người Pháp để họ thực hiện thỏa thuận Fontainebleau và đưa Việt Nam tiến tới độc lập sớm hơn. Việc không gây sức ép như vậy có thể được coi là một quyết sách ngược chiều của chúng ta.
Bản thân tôi hoài nghi việc chúng ta có thể tác động đến tiến trình bất hạnh mà người Pháp đã theo đuổi trong giai đoạn này. Nếu cho rằng viện trợ khổng lồ của chúng ta theo Kế hoạch Marshall cho Pháp lẽ ra phải mang lại cho chúng ta đòn bẩy, thì đồng thời cũng phải chỉ ra rằng Kế hoạch Marshall chỉ bắt đầu có hiệu lực vào đầu năm 1948 và đến lúc đó thì mọi chuyện đã gần như an bài. Hơn nữa, tôi rất nghi ngờ liệu dân tộc Pháp kiêu hãnh và bị tổn thương đó có phản ứng lại ngay cả khi chúng ta cố gắng hành động để chấm dứt thời kì thực dân, như chúng ta đã làm ở mức độ lớn với người Hà Lan ở Indonesia hay không.
Trên thực tế, bi kịch của Việt Nam bắt nguồn từ sự sụp đổ của Pháp năm 1940 và tất cả những cảm xúc dễ hiểu mà sự kiện đó gây ra cho các lãnh đạo Pháp, đặc biệt cho chính de Gaulle. Việc khôi phục quyền kiểm soát ở Đông Dương là một biểu tượng, dù sai lầm, cho một nước Pháp muốn trở thành cường quốc thế giới một lần nữa. Mặc dù có thể lập luận rằng ít ra chúng ta cũng nên cố gắng, nhưng tôi nghi ngờ liệu thái độ sâu nặng này của người Pháp có thể bị lung lay bởi bất cứ điều gì chúng ta đã làm hay nói, và nhất là bởi bất cứ điều gì được nói hay làm liên quan đến chính sách khôn ngoan và đúng đắn là giúp Pháp tự đứng với chân mình.
Giai đoạn thứ ba về quyết định của Mĩ bắt đầu vào năm 1950, ngay trước khi chúng ta tham gia bảo vệ Triều Tiên chống lại sự xâm lược do Liên Xô xúi giục. Phe Cộng sản vừa nắm quyền kiểm soát Trung Hoa và liên minh với Liên Xô năm 1950. Khi đó, đối với các nhà hoạch định chính sách của chúng ta chủ nghĩa cộng sản có vẻ là một khối thống nhất, và chúng ta bắt đầu coi việc Pháp đứng ở Đông Dương như một phần của nỗ lực toàn cầu nhằm đẩy lùi các cuộc phiêu lưu quân sự của Cộng sản. Về cơ bản, chúng ta đã hành động theo hai đường lối chính sách từ năm 1950 đến năm 1954: một mặt, viện trợ kinh tế và quân sự ngày càng tăng cho Pháp; mặt khác, liên tục thúc giục Pháp nhanh chóng trao độc lập thật sự cho Đông Dương, vừa vì lợi ích của chính họ vừa là cách tốt nhất để ngăn chặn sự kiểm soát của Cộng sản.
Ở đây đã có người lập luận rằng chúng ta đã giúp quá nhiều hoặc ít nhất là thúc giục quá ít. Tôi thấy mình đồng cảm với quan điểm này, vì quả thật vào lúc đó có những người khôn ngoan như Edmund Gullion vốn từng phục vụ tại Việt Nam và sau này trở thành đại sứ ưu tú của chúng ta tại Congo từ năm 1961 đến năm 1963, đã phát biểu như vậy.
Tuy nhiên, tôi vẫn không chắc liệu một chính sách khác hơn của Hoa Kì trong giai đoạn này có thể mang lại kết quả mong muốn là Pháp trước tiên thành công trong việc tiến hành một cuộc chiến tranh tốn kém và đẫm máu để bảo vệ Việt Nam, rồi sau đó trao độc lập cho nước này hay không. Một lần nữa, thái độ và hành động của Pháp có gốc rễ sâu xa từ tình hình vẫn còn bấp bênh của Pháp và từ sự kết hợp giữa mối lo ngại chính đáng về mối đe dọa Cộng sản và mong muốn duy trì sự hiện diện và ảnh hưởng lớn của Pháp ở Đông Dương. Ngay cả khi người Pháp hành động khôn ngoan mọi mặt trong giai đoạn này, họ có thể cũng chỉ đạt được việc chia cắt đất nước này thành các khu vực Cộng sản và không Cộng sản. Sự khác biệt quan trọng có thể là chủ nghĩa dân tộc không Cộng sản chính đáng ở Việt Nam đã có cơ hội tự đứng vững và hình thành các nhà lãnh đạo được kính trọng trước năm 1954; và nếu như điều này xảy ra, toàn bộ câu chuyện sau đó có thể đã diễn ra theo một cách rất khác.
Thực tế là, mùa xuân năm 1954 đã đem đến thất bại cho Pháp, về tinh thần nếu không phải về quân sự, và khiến chủ nghĩa dân tộc không cộng sản ở Việt Nam gần như phá sản.
Thời kì Hội nghị Geneva
Thời kì Hội nghị Geneva là giai đoạn thứ tư về quyết định của Mĩ. Đó là một câu chuyện phức tạp, được Anthony Eden, nay là Lord Avon, kể lại một cách khá khách quan trong hồi kí của ông.
Chúng ta đã đóng một vai trò quan trọng phía sau hậu trường tại Geneva. Chúng ta đã duy trì khả năng can thiệp quân sự, điều mà nhiều nhà quan sát thời đó tin rằng đã đóng một vai trò then chốt trong việc khiến cả Liên Xô và Trung Quốc Cộng sản thúc giục Hà Nội chấp nhận việc chia cắt tạm thời Việt Nam tại vĩ tuyến 17 và một Cambodia và Lào độc lập. Và chúng ta bắt đầu đặt nền móng cho SEATO [Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á], như một phần nỗ lực phô diễn sức mạnh và thuyết phục Trung Hoa Cộng sản rằng họ sẽ không thể tự do hành động ở Đông Nam Á.
Tuy nhiên, chúng ta không muốn tham gia đầy đủ vào việc soạn thảo Hiệp định Geneva,[2] có vẻ là vì các nhà hoạch định chính sách của chúng ta không muốn tự mình gắn kết theo bất kì cách nào với việc mất lãnh thổ vào tay Cộng sản. Vì vậy, Hiệp định Geneva chủ yếu được soạn thảo giữa một bên là Hà Nội, Trung Hoa Cộng sản và Liên Xô, và bên kia là Pháp vốn đang chịu áp lực thời gian cấp bách của chính trị trong nước. Cuối cùng, chúng ta tự giới hạn ở việc nói ra hai điều:[3]
- Chúng ta coi bất kì hành động gây hấn nào vi phạm các thỏa thuận với quan ngại sâu sắc và như là mối đe dọa nghiêm trọng đến hoà bình và an ninh quốc tế.
- Chúng ta giữ nguyên lập trường về thống nhất Việt Nam như đã từng giữ đối với các “quốc gia bị chia cắt ngoài ý muốn” khác - tức là, cả trước đây và hiện nay, Đức và Triều Tiên - và chúng ta sẽ tiếp tục tìm kiếm sự thống nhất thông qua bầu cử tự do dưới sự giám sát của Liên Hợp Quốc. Trên thực tế, chúng ta đã diễn giải điều khoản bầu cử như là tạo điều kiện cho người dân Việt Nam tự do quyết định xem họ có muốn thống nhất hay không, và theo nghĩa đó, chấp nhận điều này, nhất quán với lập trường tương tự mà chúng ta đã giữ ở Đức và Triều Tiên.
Có thể nói rất nhiều điều về những quyết định của chúng ta trong giai đoạn đó. Một số người cho rằng chúng ta nên tiến hành hành động quân sự và cố gắng xác định ít ra cách phân chia Việt Nam rõ ràng về quân sự, hoặc thậm chí là đánh bại Hồ Chí Minh; cá nhân tôi nghĩ rằng đến mùa xuân năm 1954, hướng đi đó là không thể thực hiện được.
Cũng có thể lập luận rằng – và tôi không biết các yếu tố đương thời – rằng, vì chúng ta đã bị ràng buộc bởi các quyết định trước đó, chúng ta lẽ ra nên tham gia thẳng thắn vào việc xây dựng các hiệp định và ủng hộ chúng ngay từ đầu, tuyên bố ngay lúc đó rằng chúng ta sẽ sát cánh – với Pháp nếu có thể, nhưng một mình nếu cần – trong việc ủng hộ chủ nghĩa dân tộc không cộng sản ở Nam Việt. Khi đó, chúng ta sẽ hành động như chúng ta đã làm đối với chủ nghĩa dân tộc không cộng sản ở Triều Tiên, mặc dù không cần thiết hoặc không mong muốn chúng ta phải tiếp tục duy trì lực lượng trên thực địa như chúng ta đã phải làm khi đối mặt với đe dọa quân sự thông thường đối với Triều Tiên. Dù sao đi nữa, vào tháng 7/1954, một thực thể quốc gia mới đã ra đời ở Nam Việt với những gì vào thời điểm đó có vẻ là cơ hội tồn tại vô cùng nhỏ. Vào phút cuối cùng, người Pháp, với một mức độ áp lực nhất định của Mĩ, đã đưa Diệm, một người theo chủ nghĩa dân tộc kiên định, lên làm Thủ tướng, hầu như không nghĩ rằng ông ta sẽ tại vị lâu và chỉ trông chờ một giai đoạn ngắn để người Pháp có thể rút lui với chút thể diện rồi để mọi việc diễn ra theo tự nhiên.
Các cam kết hiệp ước ở Đông Nam Á
Loạt thứ năm về quyết định của Mĩ được đưa ra trong bối cảnh này và thật sự chồng lấn với thời kì Hội nghị Geneva. Khía cạnh đầu tiên của những quyết định này là vai trò lãnh đạo của chúng ta trong việc hình thành Hiệp ước SEATO,[4] được kí kết tại Manila vào tháng 9/1954 và được Thượng viện Mĩ phê chuẩn vào tháng 2/1955 với tỷ lệ 82 - 1. Trong Hiệp ước SEATO, Nam Việt và lãnh thổ của nước này được đưa vào cụ thể với tư cách là một "quốc gia nghị định thư" và các bên kí kết đã chấp nhận cụ thể nghĩa vụ, nếu được Chính phủ Nam Việt yêu cầu, phải hành động đáp trả các cuộc tấn công vũ trang chống lại Nam Việt và tham vấn về các biện pháp thích hợp nếu Nam Việt bị các hành động lật đổ đe dọa. Tất nhiên, Hiệp định Geneva đã cấm rõ ràng các hành vi gây hấn từ bất kì nửa nào của Việt Nam chống lại nửa còn lại, nhưng không có quy định nghĩa vụ hành động nào đối với các quốc gia tham gia Geneva. SEATO đã tạo ra một nghĩa vụ mới và nghiêm túc mở rộng đến Nam Việt và hướng tới rộng hơn an ninh của các quốc gia kí kết ở Đông Nam Á và các quốc gia kế thừa của Đông Dương.
Khía cạnh thứ hai trong các quyết định của chúng ta ở giai đoạn này là khía cạnh phát triển. Cuối năm 1954, tổng thống Eisenhower cam kết chúng ta sẽ cung cấp trợ giúp kinh tế cho chế độ mới,[5] trong đó Diệm đã tỏ ra cứng rắn và có năng lực hơn bất kì ai từng nghĩ. Và đầu năm 1955, không có tuyên bố chính thức nào, chúng ta bắt đầu đảm nhận nhiệm vụ viện trợ quân sự cho Nam Việt , hoạt động trong khuôn khổ các giới hạn về số lượng và trang thiết bị được nêu trong Hiệp định Geneva về viện trợ quân sự nước ngoài.
Tóm lại, trong giai đoạn 1954-1955, chúng ta đã chuyển sang vai trò trợ giúp chính và thực hiện một cam kết hiệp ước lớn liên quan đến Nam Việt.
Tôi xin nhắc lại, đây không phải là những quyết định của tôi để biện hộ. Trong bối cảnh thời kì đó, vẫn còn chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi quan điểm không phải là không có cơ sở rằng chủ nghĩa cộng sản là một khối thống nhất, những quyết định này đã được chấp nhận với sự ủng hộ rất rộng rãi ở Hoa Kì, như cuộc bỏ phiếu và tranh luận tại Thượng viện đã cho thấy rõ ràng. Và các tài liệu của Thượng viện cũng cho thấy một cách dứt khoát rằng mọi người đều hiểu rõ những hậu quả nghiêm trọng của các nghĩa vụ SEATO, đặc biệt là liên quan đến hành động gây hấn bằng vũ lực.
Điểm quan trọng về những quyết định này - và cũng là điểm được tranh luận sôi nổi trong chính quyền thời bấy giờ, theo nhiều người tham gia - là chúng phản ánh một chính sách không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với toàn bộ Đông Nam Á. Trên cốt lõi, vấn đề cơ bản nằm bên dưới được cho là, và tôi nghĩ là đúng đắn, liệu Hoa Kì có nên can dự trực tiếp hơn nữa vào an ninh của Đông Nam Á và vào việc gìn giữ các quốc gia phần lớn mới hình thành ở đó từ Thế chiến II hay không.
Không thể có một chính sách rõ ràng cho Đông Nam Á thuộc loại như đã tiến triển tới lúc đó ở Đông Bắc Á, nơi chúng ta đã kí kết các hiệp ước an ninh chung riêng lẻ với Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Hoa Dân Quốc. Một số nước Đông Nam Á không muốn liên kết với bất kì cường quốc bên ngoài nào; những nước khác - Malaya, Singapore và các khu vực phía bắc Borneo, lúc đó chưa độc lập - tiếp tục dựa vào Anh và Khối Thịnh vượng chung. Vì vậy, khu vực bị ảnh hưởng trực tiếp mà chính sách có thể tác động chỉ bao gồm Thái Lan, Philippines và các quốc gia kế thừa không Cộng sản của Đông Dương - Nam Việt , Lào và Cambodia.
Tuy nhiên, vào thời điểm đó, người ta cảm thấy rằng trừ khi Hoa Kì tham gia một cách tích cực vào việc bảo vệ độc lập và an ninh của các quốc gia này, nếu không họ sẽ phải chịu áp lực ngày càng tăng từ những nỗ lực song song của Bắc Việt và Trung Hoa Cộng sản.
Nhận định rằng mối đe dọa xâm lược này là có thật và có cơ sở là cơ sở đầu tiên của chính sách được áp dụng. Hai nhận định khác nằm sau chính sách này là:
- Việc Bắc Việt Nam hoặc Trung Quốc Cộng sản chiếm lấy thành công bất kì quốc gia nào trong số các quốc gia bị ảnh hưởng trực tiếp không chỉ là vấn đề nghiêm trọng mà còn làm suy yếu nghiêm trọng và trong thời gian ngắn sẽ phá hủy khả năng duy trì độc lập của các quốc gia khác ở Đông Nam Á, bất kể lập trường quốc tế của họ như thế nào.
- Mặc dù bản thân chúng ta không mong muốn một vị thế đặc biệt ở Đông Nam Á, nhưng việc khu vực này, hoặc phần lớn khu vực này bị chuyển sang dưới sự kiểm soát của Cộng sản qua lật đổ và xâm lấn sẽ làm tăng đáng kể vị thế quyền lực của các chế độ Cộng sản Trung Hoa và Bắc Việt thù địch và hiếu chiến. Tình huống như vậy được tin là không chỉ đẩy người dân trong khu vực vào tình trạng bị thống trị và nô dịch trong một thời gian không xác định mà còn tạo ra chính kiểu thống trị hung hãn đối với phần lớn châu Á mà chúng ta đã từng chiến đấu chống lại các lãnh đạo quân phiệt của Nhật Bản để ngăn chặn. Tình huống như vậy được tin một cách rộng rãi và sâu sắc là hoàn toàn trái ngược với lợi ích quốc gia của chúng ta.
Nhưng vẫn còn một nhận định hỗ trợ thứ ba, cũng như những nhận định khác, vốn đã chi phối các tính toán trong giai đoạn đó. Đó là các quốc gia phần lớn là mới ở Đông Nam Á thực chất là những thực thể quốc gia hợp lệ và mặc dù sự tiến bộ của họ có thể còn chậm chạp và chưa hoàn hảo cả về chính trị và kinh tế, nhưng sự tiến bộ này vẫn đáng được ủng hộ. Nói cách khác, có một tầm nhìn mang tính xây dựng về kiểu Đông Nam Á có thể tiến triển thành và một ý thức rằng mục đích có tính xây dựng này đáng được theo đuổi như một vấn đề lí tưởng của chúng ta, như một vấn đề lợi ích quốc gia của chúng ta, và như một hi vọng thực tế về khả năng tiến bộ nếu sự xâm lược và lật đổ từ bên ngoài có thể được ngăn chặn trước.
Tôi tin rằng đây là những lí do cốt lõi cho lập trường mà chúng ta đã giữ về Việt Nam và Đông Nam Á vào lúc đó. Chúng bị chi phối bởi cái có vẻ như là những yếu tố cảm xúc trong thái độ của chúng ta đối với chủ nghĩa cộng sản ở Trung Quốc và châu Á. Nhưng mức độ ủng hộ mà chính sách chính này nhận được vào lúc đó vượt xa những người có những cảm xúc đó. Và chính vì vậy mà cá nhân tôi tin rằng những lí do cốt lõi mà tôi đã nêu ra là những lí do đúng đắn và có tính quyết định.
Vì vậy, Hoa Kì đã can dự sâu vào an ninh của Đông Nam Á và, ở những nơi được hoan nghênh, cũng can dự vào nỗ lực đạt được tiến bộ kinh tế. Và cam kết trợ giúp Nam Việt về kinh tế và quân sự thông qua nghị định thư kèm theo hiệp ước SEATO phải được xem như một phần của quan điểm rộng hơn rằng sự lựa chọn là giữa việc can thiệp khá sâu vào Đông Nam Á hoặc việc đứng ngoài dù đối mặt với ước định rằng làm như vậy sẽ khiến sức mạnh và sự thống trị của Trung Hoa Cộng sản và Bắc Việt lan rộng khắp khu vực.
Vấn đề bầu cử tự do
Diễn biến của chính sách này từ năm 1954 đến năm 1961 là một câu chuyện vướng mắc và khó khăn. Chắc chắn đã có những sai lầm, thậm chí là những sai lầm nghiêm trọng, mắc phải lúc đó và sau này. Nhiều người tin rằng một số trong các sai lầm đó nằm ở chính sách trợ giúp kinh tế và đặc biệt là chính sách trợ giúp quân sự của chúng ta tại Việt Nam; và có lập luận rất thuyết phục đối với tôi rằng lẽ ra chúng ta ít nhất phải nỗ lực hơn nữa để chống lại xu hướng độc đoán ngày càng tăng của chế độ Diệm trong lĩnh vực chính trị.
Điều không phải là sai lầm, mà là hệ quả logic của chính sách cơ bản, chính là cách xử lí điều khoản đòi hỏi tổ chức bầu cử tự do vào năm 1956 trong Hiệp định Geneva. Có lập luận cho rằng điều khoản này, chắc chắn là được soạn thảo tệ hại, đòi hỏi một cuộc bầu cử toàn quốc duy nhất, với giả định về thống nhất. Cách diễn giải của chúng tôi - cho rằng điều được đề cập thực chất là một cuộc trưng cầu ý dân về việc có mong muốn thống nhất hay không - được hậu thuẫn mạnh mẽ bởi lí lẽ và hồi ức của những người tham gia Hiệp định Geneva. Điều không thể tranh cãi là quyết tâm phải được tự do; từ này xuất hiện 3 lần trong điều khoản của hiệp định.
Đã có nhiều điều vô nghĩa khi nhìn lại được viết về những gì đã xảy ra vào năm 1956 về vấn đề này, và nếu bất kì ai trong số các bạn đang dự định cho đề tài luận văn, tôi khuyên các bạn nên nghiên cứu các nguồn tài liệu và thảo luận đương thời. Tôi nghĩ rằng các bạn sẽ tìm thấy xác nhận rõ ràng là đến năm 1956, có hai luận điểm đã được chấp nhận: thứ nhất, Nam Việt, trái ngược với hầu hết dự đoán vào năm 1951, đã tự đứng vững và chứng tỏ rằng ở đó tồn tại những yếu tố cấu thành nên một tinh thần dân tộc không cộng sản hợp lệ; và thứ hai, Bắc Việt - từng trải qua thời kì đàn áp khắc nghiệt vào năm 1955 và 1956, trong đó Bernard Fall ước tính gần 50 000 đối thủ chính trị đã bị giết tức thì - không thể nào cho phép bất kì sự giám sát hay quyết định nào có thể được gọi là tự do.
Đối mặt với những sự thật đó, Diệm đã từ chối tiến hành bầu cử, và chúng ta ủng hộ ông trong quyết định đó. Nhân tiện, tôi được cho biết rằng chúng ta đã thúc giục ông trút rắc rối lên lưng Hà Nội và buộc họ phải từ chối giám sát hoặc các điều kiện tự do - như chắc chắn họ sẽ làm vậy. Diệm đã kiên quyết bác bỏ lời khuyên này vốn không thay đổi được những gì sẽ xảy ra nhưng lại để lại những yếu tố của một luận điểm tuyên truyền vẫn đang lan mạnh. Tôi xin nhắc lại, đó là điều vô nghĩa khi nhìn lại, và tôi chỉ xin trích dẫn hai phát biểu đương thời - một của nghị sĩ trẻ tuổi lúc bấy giờ đến từ Massachusetts, John F. Kennedy, và một của giáo sư Hans Morgenthau.
Kennedy kiên quyết bác bỏ “một cuộc bầu cử rõ ràng đã bị thao túng và phá hoại từ trước, được thúc giục bởi những kẻ đã phá vỡ những cam kết của chính họ theo thỏa thuận mà giờ đây chính họ lại đang tìm cách thực thi.”
Và Morgenthau nói đến sự thay đổi to lớn từ năm 1954 đến năm 1956 và “phép màu” của những gì đã đạt được ở Nam Việt. Ông tiếp tục nói rằng các điều kiện cho bầu cử tự do không tồn tại ở cả Bắc và Nam Việt Nam và kết luận:
Thật ra, điều khoản về bầu cử tự do, vốn được cho là sẽ giải quyết dứt điểm vấn đề Việt Nam, chỉ là một thủ đoạn để che giấu sự bất đồng về lập trường của phe Cộng sản và phương Tây, mà không bên nào có thể chấp nhận bên kia thống trị toàn bộ Việt Nam. Đó là một thủ đoạn để che đậy sự thật rằng đường ranh giới quân sự chắc chắn cũng sẽ là đường phân ranh chính trị.
Thật không may, lời hứa của Nam Việt năm 1956 đã không được hiện thực hóa trong 5 năm tiếp theo. Trước chính sách của Diệm, sự bất mãn đã tăng lên - cũng nhiều như ở Hàn Quốc dưới thời Lí Thừa Vãn trong cùng thời kì. Cũng như ở Hàn Quốc, sự bất mãn đó hoàn toàn có thể dẫn đến một cuộc cách mạng nội bộ ít nhiều theo kiểu truyền thống châu Á. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Bất chấp những gì những người lãng mạn như [Jean] Lacouture có thể nói, điều đã xảy ra là Hà Nội đã xông vào, ít nhất là từ năm 1959 trở đi (Bernard Fall nói là từ năm 1957), và cung cấp đường hướng sắc bén, người được huấn luyện từ miền Bắc, và quân nhu đã biến sự bất mãn nội bộ thành một nỗ lực lật đổ quy mô lớn được chỉ đạo và hậu thuẫn từ bên ngoài theo những cách cốt yếu.
Quan điểm thực tế, lúc đó và sau này, đã được Roger Hilsman tóm tắt rất hay trong cuốn sách gần đây của ông (mà nhân tiện với nó tôi có những bất đồng nghiêm trọng về sự kiện trong giai đoạn sau năm 1963). Hilsman trình bày như sau (trang 471 trong cuốn sách của ông):[6]
Thật ra, Việt Nam đang ở giữa hai cuộc đấu tranh chứ không phải một. Chiến tranh du kích không phải là một cuộc cách mạng tự phát, như phe Cộng sản vẫn thường tuyên truyền, mà là một chiến dịch được dàn dựng, có chủ đích, được chỉ đạo và điều khiển từ Hà Nội. Nhưng Việt Nam cũng đang gian nan trải qua một cuộc cách mạng thật sự, một cuộc cách mạng xã hội và dân tộc chủ nghĩa rất giống với “chủ nghĩa dân tộc mới” đã lan rộng trong cả cuộc khủng hoảng Congo lẫn cuộc đối đầu giữa Indonesia và Malaysia. Ngay cả khi cuộc đấu tranh chống lại Việt Cộng vẫn tiếp diễn, quyền lực đang dần chuyển từ tầng lớp quan lại được Pháp giáo dục sang các đại diện của chủ nghĩa dân tộc mới, những người theo đạo Phật, sinh viên và “những kẻ cấp tiến” trong quân đội.
Can dự tiếp diễn tại Đông Nam Á
Đây chính là tình hình mà chính quyền Kennedy phải đối mặt vào tháng 1/1961. Tất cả điều này đã là lịch sử. Những người có lí trí có thể và quả thật là họ có những quan điểm khác nhau về những gì đã được thực hiện. Nhưng những người tin rằng đã có những sai lầm nghiêm trọng, hoặc thậm chí chính sách cơ bản là sai, không thể phủ nhận thực tế rằng vào năm 1961, trên thực tế, chúng ta đã can dự sâu vào Đông Nam Á và đặc biệt là trong việc bảo vệ độc lập của Nam Việt.
Tổng thống Kennedy nhậm chức trong bối cảnh có một nỗ lực lật đổ chống lại Nam Việt đang diễn ra mạnh mẽ và tình hình ở Lào đang xấu đi nhanh chóng. Và trong một thời gian, các quyết định về Lào đã che khuất vấn đề Việt Nam, mặc dù tất nhiên hai vấn đề này luôn quan hệ mật thiết với nhau.
Tại Lào, vào mùa xuân năm 1961, tổng thống Kennedy đã bác bỏ ý tưởng về hành động quân sự mạnh mẽ mà nghiêng về việc tìm kiếm một giải pháp nhằm thiết lập một chính phủ trung lập dưới sự lãnh đạo của Souvanna Phouma, một giải pháp đặc biệt phù hợp với Lào. Dưới sự điều hành khéo léo của Thống đốc W. Averell Harriman, các cuộc đàm phán cuối cùng đã dẫn đến Hiệp định Geneva năm 1962 cho Lào;[7] - và quá trình này - một điểm không được chú ý đầy đủ - đã dẫn Hoa Kì đến sự chấp nhận rõ ràng và tích cực hơn nhiều đối với Hiệp định Geneva năm 1954, một lập trường mà chúng ta luôn duy trì kể từ đó như là nền tảng tốt nhất cho hoà bình ở Việt Nam.
Tại Việt Nam, tình hình ban đầu có vẻ ít nghiêm trọng hơn, và các hành động ban đầu của chính quyền Kennedy chỉ giới hạn ở việc tăng viện trợ quân sự và tăng thêm vài trăm người trong đội ngũ huấn luyện quân sự, một sự vi phạm - có thể tranh luận - đến mức độ này các giới hạn của Hiệp định Geneva nhưng hoàn toàn chính đáng để đáp trả mức độ vi phạm của Bắc Việt đối với các điều khoản cơ bản về không can thiệp.
Mặc dù các chi tiết có phần nào làm lu mờ bức tranh tổng thể, tôi nghĩ bất kì nhà sử học công bằng nào trong tương lai cũng phải kết luận rằng ngay từ mùa xuân năm 1961, tổng thống Kennedy trên thực tế đã đưa ra quyết định chính sách thứ bảy của Hoa Kì: rằng chúng ta sẽ tiếp tục can dự sâu vào Đông Nam Á, vào Nam Việt, và theo những quy tắc mới, cả ở Lào nữa.
Điều này không phải - bất chấp ngụy biện người rơm do giáo sư [John Kenneth] Galbraith dựng lên gần đây khi nhìn lại - vì tổng thống Kennedy thật sự tin tưởng chủ nghĩa cộng sản là một khối thống nhất. Giáo sư Galbraith đã quên mất nhiều điều, đặc biệt là cuộc gặp tại Vienna tháng 6/1961, trong đó tổng thống Kennedy đã chủ động tìm cách hợp tác với Liên Xô để giải quyết vấn đề Lào - ngay cả khi cùng lúc đó ông cử phó tổng thống Johnson đến thăm Việt Nam và Thái Lan và trên thực tế là để tái khẳng định các hành động của chúng ta ở đó. Toàn bộ chính sách của Hoa Kì đối với các nước cộng sản dưới thời cả tổng thống Johnson và tổng thống Kennedy đều bác bỏ luận điểm của Galbraith.
Không, cả tổng thống Kennedy lẫn bất kì nhà hoạch định chính sách cấp cao nào, lúc đó hay sau này, đều không tin rằng Liên Xô vẫn còn đoàn kết với Trung Hoa Cộng sản và Bắc Việt trong một mối đe dọa Cộng sản bao quát duy nhất đối với thế giới. Nhưng tổng thống Kennedy tin vào hai điều khác có, và vẫn có ảnh hưởng quan trọng đến chính sách của chúng ta. Thứ nhất, ông tin rằng sự suy yếu trong quyết tâm cơ bản của chúng ta trong việc giúp đỡ Đông Nam Á sẽ có xu hướng khuyến khích các áp lực riêng lẻ của Liên Xô ở các khu vực khác.
James Reston đã khẳng định, dựa trên các cuộc trò chuyện đương thời với tổng thống, rằng mối lo ngại này đặc biệt liên quan đến các kế hoạch hung hăng của Khrushchev đối với Berlin, vốn được thúc đẩy mạnh mẽ suốt năm 1961 và chỉ được chấm dứt sau cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962. Dù sao đi nữa, tổng thống Kennedy rõ ràng tin rằng việc không duy trì được mức độ cam kết cao mà chúng ta đã dành cho Việt Nam và Đông Nam Á sẽ ảnh hưởng đến tính hiệu lực của các cam kết của chúng ta ở những nơi khác. Như Theodore Sorensen đã tóm tắt (trang 651 của Kennedy): “... cam kết quốc gia này (ở Nam Việt) vào tháng 1/1961 ... không phải là điều mà tổng thống Kennedy cảm thấy ông có thể từ bỏ mà không gây ra những hậu quả không mong muốn trên khắp châu Á và thế giới.”
Thứ hai, tổng thống Kennedy tin rằng Trung Hoa Cộng sản là mối đe dọa lớn chi phối Đông Nam Á và cụ thể là việc Hoa Kì “rút quân khỏi Việt Nam và Thái Lan có thể dẫn đến sự sụp đổ của toàn bộ khu vực.”[8] Quả vậy, trong một tuyên bố, tổng thống Kennedy đã công khai ủng hộ “thuyết domino.”[9]
Quan điểm cá nhân của tôi, dựa trên sự tham gia và thảo luận sau đó với những người khác, là quan điểm cơ bản về quan hệ giữa Việt Nam và mối đe dọa đối với Đông Nam Á rất rõ ràng và được tin tưởng mạnh mẽ trong toàn bộ các cấp cao nhất của chính quyền Kennedy. Chúng ta đã biết, như chúng ta vẫn luôn biết, rằng hành động chống lại Nam Việt phản ánh tham vọng sâu xa của Hà Nội nhằm thống nhất Việt Nam dưới sự kiểm soát của Cộng sản và rằng Hà Nội chỉ cần và muốn viện trợ của Trung Quốc để đạt được mục tiêu này và muốn tự làm chủ. Và chúng ta cũng biết, như chúng ta vẫn luôn biết, rằng Bắc Việt sẽ chống lại bất kì sự xâm phạm nào của Trung Hoa Cộng sản vào các khu vực mà họ kiểm soát. Nhưng hai luận điểm này khi đó, cũng như bây giờ, không mâu thuẫn với niềm tin rằng tham vọng hung hăng của Trung Hoa Cộng sản và Bắc Việt - chủ yếu là Bắc Việt ở Đông Dương cũ, chồng chéo ở Thái Lan, còn Trung Quốc ở phần còn lại của Đông Nam Á - chắc chắn sẽ nuôi dưỡng lẫn nhau. Trong mắt phần còn lại của Đông Nam Á, chắc chắn, chúng là một phần của mối đe dọa chung và song song.
Như vậy, trên thực tế, chính sách giai đoạn 1954-61 đã được chính quyền Kennedy tái khẳng định trong những tháng đầu năm 1961. Tôi xin nói rõ ở đây rằng tôi không có ý định biến điều này thành một phân tích cá nhân về tổng thống Kennedy, cũng không ám chỉ bất kì quan điểm nào về việc ông ấy có thể đã làm gì hoặc không làm gì nếu ông ấy sống tới sau tháng 11/1963. Nhưng một số điều không đúng sự thật đã được nói về giai đoạn năm 1961, và tôi tin rằng hồ sơ hoàn toàn ủng hộ cách trình bày về chính sách, và lí do cho chính sách đó, mà tôi đã đưa ra.
Ngăn chặn mối đe dọa từ Bắc Việt
Tiếp theo là giai đoạn thứ tám về quyết định - mùa thu năm 1961. Vào thời điểm đó, “cuộc tấn công du kích” (cụm từ của Hilsman) đã đạt đến mức độ nghiêm trọng thật sự, và tinh thần ở Nam Việt đã bị lung lay. Dường như rất khó có thể ngăn chặn được mối đe dọa từ Bắc Việt nếu không có những hành động lớn thêm vào từ phía Hoa Kì.
Tổng thống Kennedy đã quyết định nâng cao mức độ quy mô thông qua một hệ thống cố vấn, phi công và nhân viên quân sự hỗ trợ, con số này tăng dần lên đến 25 000 người trong 3 năm tiếp theo.
Tôi cho rằng không cần thiết phải đi sâu vào chi tiết các cuộc thảo luận dẫn đến quyết định này. Nhiều cuốn sách về giai đoạn này đã đưa ra những tường thuật khá đầy đủ, nhưng vẫn chưa hoàn chỉnh. Điều có thể thấy, mà không cần đi vào chi tiết như vậy, là phương án hành động được lựa chọn đã xem xét và bác bỏ, ít nhất là vào lúc đó, việc trực tiếp đưa bộ binh chiến đấu vào hay ném bom Bắc Việt, mặc dù ngay cả lúc đó cũng không có nghi ngờ gì - như Hilsman đã làm rõ - rằng việc ném bom Bắc Việt có thể được duy trì theo bất kì quan điểm pháp lí hợp lí nào trước những gì Bắc Việt Nam đang làm. Thay vào đó, phương án hành động được thông qua đã nhấn mạnh một cách đúng đắn rằng vai trò của Nam Việt phải vẫn là then chốt và chủ đạo.
Trên thực tế, người ta đã quyết định rằng Hoa Kì sẽ thực hiện những hành động bổ sung này vốn rõ ràng là cần thiết để đối phó với tình hình, dù không chắc chắn liệu những hành động này có thật sự đủ hiệu quả hay không, cố gắng - dù có tác động hiển nhiên và luôn được thừa nhận của động năng và quán tính - không vượt qua ranh giới của những hành động tiếp theo, và hi vọng mạnh mẽ rằng những gì đang được thực hiện sẽ cho thấy là đủ.
Biến động chính trị ở Nam Việt Nam
Đây là chính sách được theo đuổi từ đầu năm 1962 cho đến tháng 2/1965. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, sự suy thoái chính trị ở Nam Việt đã buộc Hoa Kì phải đưa ra những quyết định vào mùa thu năm 1963, mà theo tôi, phải được coi là bước ngoặt quan trọng thứ chín trong việc hoạch định chính sách của Hoa Kì. Vào lúc đó, chính phủ Hoa Kì đã quyết định rằng trong khi Hoa Kì sẽ làm mọi điều cần thiết để hỗ trợ cuộc chiến, thì sẽ không còn bám chặt vào lập trường ủng hộ toàn diện chế độ Diệm trừ khi chế độ này thực hiện những thay đổi sâu rộng trong phương thức hoạt động của mình. Lịch sử của giai đoạn này đã được Robert Shaplen và nay là Hilsman mô tả. Chắc chắn lập trường mới này của chúng ta đã góp phần vào việc Diệm bị lật đổ vào tháng 11/1963.
Bản thân tôi không nghĩ rằng cuối cùng chúng ta có thể làm khác đi, nhưng điểm quan trọng về mặt lịch sử là hành động của chúng ta đã làm sâu sắc thêm sự can dự của chúng ta vào Nam Việt và cam kết của chúng ta đối với sự phát triển của chủ nghĩa dân tộc không cộng sản, điều mà chúng ta luôn dự đoán là sẽ khó khăn, sau khi lật đổ chế độ Diệm.
Không may là sự sụp đổ của Diệm, dù nhận được sự ủng hộ rộng rãi của người dân Nam Việt, đã không tạo ra được một chính phủ mới hiệu quả. Trong một năm rưỡi, Nam Việt chìm trong hỗn loạn chính trị; và cuối cùng, với sự đồng thuận của các lãnh đạo chính trị dân sự, quyền lực đã được chuyển giao cho chính phủ quân sự do Thiệu-Kỳ lãnh đạo vào tháng 6/1965.
Tình trạng hỗn loạn chính trị này thật đáng thất vọng, nhưng không có gì đáng ngạc nhiên. Bởi vì Nam Việt chưa bao giờ được Pháp huấn luyện để tự quản lí, và trên hết, họ phải đối mặt với sự gia tăng không ngừng của các hoạt động khủng bố và quân sự của Bắc Việt và Việt Cộng. Sự leo thang của các hoạt động này bắt đầu gần như ngay lập tức sau vụ lật đổ Diệm và chứng minh - nếu cần phải chứng minh - rằng cuộc đấu tranh không phải là đối với Diệm, bất chấp tuyên bố của phe Cộng sản và những lo ngại chân thành của phe tự do, mà là một nỗ lực nhằm tiêu diệt chủ nghĩa dân tộc không cộng sản dưới bất kì hình thức nào ở Nam Việt.
Đầu năm 1964, Tổng thống Johnson đã công khai tái khẳng định tất cả các yếu tố thiết yếu trong chính sách của chính quyền Kennedy thông qua mọi hành động và các chỉ thị nội bộ kiên quyết. Hoàn toàn không đúng khi nói rằng đã có bất kì sự thay đổi nào trong chính sách giai đoạn này theo hướng nhấn mạnh hơn vào quân sự, chứ đừng nói đến các hành động quân sự lớn mới. Các hành động hơn nữa không bị loại trừ như đã từng vào năm 1954 hay 1961 – nhưng mục tiêu kiên định của tổng thống Johnson cho đến tận tháng 2/1965 là làm cho chính sách được thông qua vào cuối năm 1961 phát huy hiệu quả nếu có thể, bao gồm cả việc nhấn mạnh tối đa vào bình định và toàn bộ khía cạnh chính trị và dân sự.
Mùa hè năm 1964 đã mang đến một giai đoạn mới, dù không phải là sự thay đổi về chính sách. Tình hình tiếp tục xấu đi, và Bắc Việt có thể đã trở nên táo bạo hơn trước xu hướng này. Chắc chắn, hoạt động xâm nhập đang gia tăng đều đặn và, như giờ chúng ta đã thấy khi đã hiểu rõ hơn, họ bắt đầu bao gồm một số lượng đáng kể người phía Bắc. Nhưng, kịch tính hơn, các tàu hải quân Mĩ đang tuần tra ở vịnh Bắc Bộ đã bị tấn công, và đã có hai cuộc tấn công đáp trả của Hoa Kì vào các căn cứ hải quân của Bắc Việt.
Điều này đã khiến Tổng thống Johnson tìm cách thuyết phục, và Quốc hội đã nhất trí thông qua vào ngày 7/8/1964, một nghị quyết[10] - được soạn thảo với sự hợp tác của các lãnh đạo quốc hội - không chỉ phê chuẩn các cuộc tấn công trả đũa như vậy mà còn bổ sung rằng:
Hoa Kì coi việc duy trì hoà bình và an ninh quốc tế ở Đông Nam Á là tối quan trọng đối với lợi ích quốc gia và hoà bình thế giới. Phù hợp với Hiến pháp Hoa Kì và Hiến chương Liên hợp quốc, và theo các nghĩa vụ của mình trong Hiệp ước Phòng thủ Tập thể Đông Nam Á, Hoa Kì sẵn sàng, theo quyết định của Tổng thống, thực hiện mọi bước đi cần thiết, bao gồm cả việc sử dụng vũ lực, để giúp bất kì quốc gia thành viên hoặc quốc gia thành viên nào của Hiệp ước Phòng thủ Tập thể Đông Nam Á yêu cầu trợ giúp trong việc bảo vệ tự do của mình.
Các quyết định của Hoa Kì dựa trên cái nhìn tổng thể.
Tình hình vẫn giữ nguyên như vậy cho đến hết thời kì bầu cử. Nhưng khi năm 1964 sắp kết thúc, tình hình ngày càng xấu đi về mọi mặt, cả về quân sự lẫn chính trị. Một cuộc rà soát lại chính sách đã được tiến hành, phân tích 3 lựa chọn cơ bản: tiếp tục chính sách hiện hành với mọi cải tiến có thể thực hiện được trong giới hạn của nó; thực hiện các biện pháp quân sự mới và lớn, đồng thời vẫn giữ vững các mục tiêu cơ bản đã được theo đuổi từ trước đến nay; hoặc tiến tới rút quân.
Từ cuối tháng 11 trở đi, những lựa chọn này được xem xét kĩ lưỡng, ngay cả khi mối đe dọa quân sự tăng lên, tình hình chính trị hỗn loạn ở Sài Gòn trầm trọng thêm, và tất cả các chỉ số ghi nhận được đều cho thấy tinh thần và niềm tin ngày càng lung lay không chỉ ở Nam Việt mà còn trên khắp các nước Đông Nam Á đang hết sức lo ngại. Đến cuối tháng 1, tất cả những người quan tâm đến chính sách và quen thuộc với tình hình đều nhận định rõ rằng lựa chọn đầu tiên nhanh chóng trở thành không còn là lựa chọn chút nào - và theo cách nói của một nhà bình luận, không phải là một “giải pháp thay thế có tính xây dựng.” Muốn “xoay xở vượt qua nó!” (cách nói của nhà bình luận đó) gần như chắc chắn là xoay xở thoát ra và chấp nhận việc Nam Việt sẽ bị giao cho Cộng sản kiểm soát thông qua lật đổ và xâm lược do bên ngoài hậu thuẫn.
Đây là một nhận định thực tế thẳng thắn. Nó đi ngược lại mọi mong muốn của Tổng thống và các cố vấn của ông. Nhưng bản thân tôi chắc chắn đó là một nhận định đúng đắn - được hầu hết các nhà quan sát tinh tường chấp nhận vào lúc đó và, sau khi xem xét kĩ lưỡng, giờ đây, tôi tin rằng hầu như tất cả những người hiểu rõ tình hình trực tiếp đều chấp nhận điều đó.
Nói tóm lại, chỉ có hai lựa chọn: tiến tới rút quân hoặc tiến hành nhiều hành động hơn nữa, cả cho tác động quân sự lẫn để ngăn chặn sự sụp đổ tinh thần và ý chí tiếp tục chiến đấu của quân đội Nam Việt ngay từ đầu.
Và khi các cuộc thảo luận tiếp tục diễn ra trong chính quyền, vấn đề đã lên đến đỉnh điểm bởi một loạt các cuộc tấn công dữ dội vào các cơ sở của Mĩ nói riêng. Những cuộc tấn công này tự bản thân đã rất nghiêm trọng, nhưng trên hết, chúng đã xác nhận phân tích tổng thể rằng Bắc Việt vô cùng tự tin và đang quyết tâm giành chiến thắng. Và khi họ quyết tâm như vậy, dường như rõ ràng là họ sẽ thật sự thành công và có lẽ chỉ trong vòng vài tháng.
Tôi xin tạm dừng ở đây để làm rõ một thông tin không chính xác khác về lịch sử hiện nay. Cơ sở cho các quyết định liên tiếp - tháng 2 bắt đầu ném bom; tháng 3 đưa vào một số lượng nhỏ lực lượng chiến đấu; và tháng 7 chuyển sang triển khai lực lượng chiến đấu lớn của Hoa Kì - như tôi đã nêu. Dựa trên cái nhìn tổng thể về tình hình và trên cái nhìn tổng thể rằng những gì đã diễn ra trong nhiều năm về cơ bản là gây hấn (aggression)- và quả thật từ ngữ này xuất hiện từ cuối năm 1961 hoặc đầu năm 1962 trong các tuyên bố của các phát ngôn viên cấp cao của chính quyền.
Nhưng có một điểm khác cần xem xét là liệu, như đôi khi người ta khẳng định, có phải chỉ một mình Hoa Kì đã đơn phương thay đổi bản chất của cuộc chiến theo hướng xung đột thông thường (conventional) hay không. Hà Nội được cho rằng đã tuân thủ một thỏa thuận ngầm rằng, chừng nào chúng ta không ném bom Bắc Việt thì Hà Nội sẽ không đưa quân chính quy của mình vào, ít nhất là theo từng đơn vị.
Theo tôi, nhiều bằng chứng thuyết phục được cho truy cập từ mùa xuân năm 1965 trở đi dường như bác bỏ những luận điểm này. Như đã được công bố nhiều lần trong 2 năm qua, chúng ta biết rằng một trung đoàn Bắc Việt đã tiến vào Nam Việt vào tháng 12/1964, và chúng ta biết rằng một số trung đoàn khác đã tiến vào vào mùa xuân năm 1965 theo lịch trình xâm nhập mà chỉ có thể phản ánh các quyết định chỉ huy được đưa ra ở Hà Nội trước khi bắt đầu cuộc ném bom.
Từ góc độ về cơ sở cho các quyết định của Mĩ, bằng chứng này chỉ đơn giản củng cố bức tranh hồi tháng 2 rằng Hà Nội đang quyết tâm tiến hành chiến tranh. Người Bắc, dù đơn độc hay trong các đơn vị chính quy, tự bản thân họ không hung hăng nhiều hơn hay ít hơn so với những người Nam tập kết ra Bắc và trở thành công dân Bắc Việt. Vấn đề là Hà Nội, như chúng ta đã nghi ngờ lúc đó và được chứng minh sau này, đã thực hiện những bước đi lớn để nâng cao mức độ chiến tranh trước khi cuộc ném bom bắt đầu.
Về bất kì thỏa thuận ngầm nào, chỉ riêng những sự thật này dường như đã bác bỏ giả thuyết đó. Hơn nữa, những người nghiên cứu hành vi của Bắc Việt, đặc biệt là các tài liệu quan trọng bị thu giữ gần đây của Bắc Việt, sẽ thấy cáo buộc như vậy khó có thể tin vào trong bất cứ trường hợp nào. Chẳng phải kết luận hợp lí hơn nhiều là Hà Nội muốn giấu tay nhưng luôn sẵn sàng thò tay ra làm bất cứ điều gì cần thiết để giành chiến thắng quân sự - và các đơn vị chính quy chỉ đơn giản là một phần của chính sách đó, được đưa vào sau khi họ cạn hết người Nam và muốn duy trì và gia tăng áp lực?
Nhưng điểm lịch sử này ít quan trọng hơn so với các yếu tố cơ bản của tình hình vào thời điểm đó. Một mặt, tất cả những gì tôi đã mô tả trước đó như những yếu tố nền tảng vẫn còn giữ nguyên: mối đe dọa mạnh mẽ từ Cộng sản Trung Quốc và Bắc Việt đối với Đông Nam Á, mối liên hệ quan trọng giữa việc bảo vệ Nam Việt và việc hiện thực hóa mối đe dọa đó, và tính hợp lệ của chủ nghĩa dân tộc không cộng sản, bất kể những khiếm khuyết của nó, ở Nam Việt và các quốc gia khác ở Đông Nam Á.
Hơn nữa, những hệ quả rộng lớn hơn đối với các cam kết của chúng ta ở những nơi khác có vẻ vẫn giữ nguyên giá trị như trước đây. Việt Nam vẫn là một trường hợp thử nghiệm quan trọng, thậm chí có thể là quyết định, để xem liệu chiến lược “chiến tranh giải phóng dân tộc” hay “chiến tranh nhân dân” của Cộng sản có thể được đáp ứng và chống lại ngay cả trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn ở Nam Việt hay không. Khi đó cũng như bây giờ, tôi cho rằng người ta đã nhận định đúng đắn rằng thành công của Hà Nội ở Nam Việt chỉ có thể khuyến khích việc Hà Nội sử dụng kĩ thuật này, và theo thời gian là Cộng sản Trung Quốc, và rất có thể sẽ kéo cả Liên Xô vào cuộc cạnh tranh với Bắc Kinh và Hà Nội, và xa rời những xu hướng đầy hứa hẹn khác đã phát triển trong chính sách của Liên Xô trong 10 năm qua.
Cuối cùng, hành động mạnh mẽ hơn của chúng ta ở Việt Nam đã được đánh giá ngay từ đầu là sẽ không làm cho Liên Xô và Trung Quốc Cộng sản xích lại gần nhau hơn và khả năng can thiệp lớn của Trung Quốc Cộng sản có thể được giữ ở mức tối thiểu miễn là chúng ta luôn làm rõ, cả bằng lời nói và hành động, rằng mục tiêu của chúng ta chỉ giới hạn ở việc giúp Nam Việt thoát khỏi sự can thiệp từ bên ngoài và chúng ta không đe dọa Trung Hoa Cộng sản mà hướng tới hi vọng cuối cùng về điều mà Tuyên bố Manila,[11] mùa thu năm ngoái, gọi là “ hoà giải và hoà bình trên khắp châu Á.”
Mặt khác, việc thực hiện các biện pháp quân sự lớn mới này đã được nhận ra ngay từ đầu là sẽ kéo theo những tổn thất và rủi ro nặng nề. Nam Việt vẫn phải đóng vai trò then chốt trong an ninh quân sự và trên hết là trong phát triển và ổn định chính trị, kinh tế. Vai trò lớn hơn của Mĩ chắc chắn sẽ làm phức tạp thêm tiến trình phát triển của Nam Việt. Nó chắc chắn sẽ làm tăng quy mô chiến tranh và gây tổn thất đáng kể về sinh mạng và hết sức nặng nề về nguồn lực. Mặc dù thương vong và thiệt hại của chiến tranh vẫn thấp hơn nhiều so với chiến tranh Triều Tiên, nhưng chiến tranh không bao giờ là gì khác ngoài sự tàn khốc và xấu xí.
Sau khi cân nhắc kĩ lưỡng, sự cân bằng đã được đạt tới nghiêng về đường hướng đã được theo đuổi kể từ đó. Các yếu tố then chốt trong chính sách đã được nêu trong bài phát biểu của tổng thống Johnson tại Baltimore vào tháng 4/1965,[12] và cam kết về lực lượng chiến đấu chủ lực đã được giải thích trong tuyên bố của Tổng thống ngày 28/7/1965.[13] Đây là những nền tảng của chính sách, và chúng đã được tất cả người phát ngôn cấp cao của chính quyền.trình bày chi tiết và giải thích nhiều lần và dài dòng.
Những nền tảng của chính sách Hoa Kì
Cốt lõi là:
- Mục tiêu của chúng ta vẫn chỉ là bảo vệ Nam Việt được độc lập không bị can thiệp và vũ lực từ bên ngoài. Chúng ta đã không, và vẫn sẽ tiếp tục không đe dọa chính chế độ ở Bắc Việt hay lãnh thổ của họ và chế độ Trung Hoa Cộng sản.
- Chúng ta đã nêu rõ vào tháng 4/1965 rằng chúng ta sẵn sàng thảo luận hoặc đàm phán vô điều kiện, và chúng ta đã không ngừng nỗ lực để tham gia vào các cuộc thảo luận có ý nghĩa cũng như theo dõi hàng loạt sáng kiến hoà bình của các bên khác. Không may là Hà Nội vẫn kiên quyết bám chặt mục tiêu đảm bảo Cộng sản chiếm lấy Nam Việt và từ chối tham gia vào bất kì cuộc thảo luận hiệu quả nào. Thực tế, Hà Nội đã bác bỏ mọi cuộc thảo luận dù là gì - ban đầu là trừ khi mục tiêu cơ bản của họ được chấp nhận trước thông qua cái gọi là “điểm thứ ba,” gần đây hơn là trừ khi chúng ta đồng ý dừng hoàn toàn việc ném bom mà không có bất kì hành động đáp ứng nào từ phía họ. Triết lí đàm phán của Hà Nội giờ đây đã được lộ ra một cách có thẩm quyền, đặc biệt là trong phần nói về “vừa đánh vừa đàm” trong lời phát biểu bị thu được của một trong những nhà lãnh đạo Bắc Việt, đồng chí Vịnh.
- Chúng ta tiếp tục đặt trọng tâm tối đa vào các khía cạnh phi quân sự quan trọng của cuộc xung đột, tăng cường đáng kể đóng góp của chúng ta vào nhiệm vụ cốt lõi của Nam Việt là khôi phục sự ổn định và kiểm soát ở nông thôn và vì phúc lợi của người dân.
- Về mặt quân sự, các hành động của chúng ta nhằm chứng minh cho Bắc Việt thấy rằng nỗ lực chiếm lấy miền Nam bằng vũ lực của họ chắc chắn sẽ thất bại, đồng thời mở rộng và củng cố các khu vực mà công việc quan trọng là mang lại an ninh và hoà bình thật sự cho vùng nông thôn có thể tiến hành với tất cả sức mạnh mà chúng ta có thể huy động. Toàn bộ nỗ lực ở miền Nam vẫn là ưu tiên hàng đầu, ngay cả khi việc ném bom các mục tiêu quân sự ở miền Bắc vẫn được tiến hành - ban đầu là để thể hiện quyết tâm, nhưng luôn và về cơ bản là để làm cho việc xâm nhập của Hà Nội trở nên khó khăn và tốn kém hơn nhiều, và để ngăn chặn việc bổ sung thêm người và trang thiết bị mà, theo quy luật chiến tranh du kích, chỉ có thể nhân lên nhiều lần so với yêu cầu lực lượng ở miền Nam, cho mỗi lần bổ sung từ Bắc Việt.
- Chúng ta khuyến khích người dân Nam Việt trong quyết tâm chuyển sang nền chính trị dựa trên hiến pháp, một quá trình được thủ tướng Kỳ chính thức khởi xướng vào tháng 1/1966 và được tiếp tục thực hiện từ đó đến nay, bất chấp mọi khó khăn và nguy hiểm khi cố gắng tạo ra một nền tảng như vậy ở một quốc gia thiếu kinh nghiệm chính trị và bị tàn phá bởi khủng bố, du kích và các hoạt động quân sự chính quy.
- Đồng thời, chúng ta khuyến khích người dân Nam Việt tiếp tục con đường mà hiện nay đã trở thành hoà giải, đó là tạo cơ hội cho các thành viên Việt Cộng tái hoà nhập vào đời sống chính trị của đất nước họ trong điều kiện hoà bình. Trên cốt lõi, chúng ta tìm kiếm và sẽ chấp nhận một sự xác định công bằng về ý chí của người dân Nam Việt theo những đường lối được tóm tắt rõ ràng trong bài phát biểu của đại sứ Goldberg tại Chicago ngày 12/5/1967.[14]
Đây là những khía cạnh liên quan đến Nam Việt trong chính sách của chúng ta. Nhưng sau đó, như đã nói trước đây, chính sách này được nhìn nhận trong bối cảnh rộng hơn về tương lai của Đông Nam Á. Vì vậy, vào tháng 4/1965, tổng thống Johnson đã mạnh mẽ ủng hộ việc phát triển hợp tác khu vực và các dự án kinh tế được tạo ra thông qua sáng kiến của châu Á. Bằng yếu tố quan trọng này trong chính sách của mình, chúng ta đã làm rõ một lần nữa rằng mục tiêu cơ bản của chúng ta là làm những gì có thể để giúp vào nhiệm vụ xây dựng một Đông Nam Á gồm các quốc gia hợp tác và độc lập, bất kể lập trường quốc tế của họ là gì.
Chúng ta có nhiệm vụ đảm bảo an ninh tại Việt Nam và theo thời gian, 5 quốc gia khác trong khu vực đã tham gia cung cấp lực lượng quân sự để thực hiện nhiệm vụ đó. Và chúng ta đang giúp Thái Lan chống lại nỗ lực lật đổ từ bên ngoài của Cộng sản Trung Hoa và Bắc Việt, một nỗ lực bắt đầu - đúng theo ghi nhận - từ năm 1962 và rõ ràng, dứt khoát vào tháng 12/1964, trước những quyết định lớn của chúng ta tại Việt Nam. Các cam kết của chúng ta đối với SEATO và ANZUS vẫn vững chắc.
Nhưng chúng ta đã nhìn xa hơn những điều này, và chúng ta vẫn phải nhìn xa hơn nữa, đến toàn bộ vấn đề tương lai của Đông Nam Á và đến vai trò mà chúng ta có thể đóng góp trong việc trợ giúp các quốc gia trong khu vực củng cố nền độc lập dân tộc và cải thiện đời sống người dân của họ.
Giờ đây là một tường trình cốt yếu về “The Path to Viet-Nam.” Ngay cả trong khuôn khổ của chính nó, có thể nó đã bỏ sót những gì mà các tác giả khác sẽ đưa vào. Và, dù có vẻ dài, nó vẫn chưa hoàn chỉnh ở hai khía cạnh mà nếu đề cập đến sẽ tốn quá nhiều thời gian.
Thứ nhất, rõ ràng là không tương xứng nếu chỉ tập trung vào chính sách của chúng ta đối với Việt Nam hoặc thậm chí đối với khu vực Đông Nam Á nói chung. Những chính sách đó có liên hệ mật thiết với phần còn lại của châu Á; với những hệ quả của các diễn biến ở châu Á đối với các khu vực khác và, xét cho cùng, đối với an ninh quốc gia của chính chúng ta; và với mục tiêu toàn cầu trọng tâm của chúng ta - thiết lập một trật tự quốc tế gồm các quốc gia độc lập.
Thứ hai, tôi đã cố gắng chọn lọc những gì tôi cho là các quyết định chính sách lớn. Rõ ràng, chính sách không chỉ là vấn đề của một quyết định đơn lẻ, dù được cân nhắc kĩ lưỡng đến đâu. Rất nhiều quyết định chính sách nhỏ hơn đã đi kèm với những quyết định cơ bản này, và cách thức thực hiện một chính sách cơ bản cuối cùng sẽ ảnh hưởng đến bản chất của nó. Ví dụ, tôi không cố gắng đề cập đến các quyết định về cân bằng nỗ lực trong nội bộ Nam Việt, các quyết định về các đề xuất đàm phán cụ thể, các quyết định về tốc độ và bản chất của việc ném bom Bắc Việt, hay vấn đề tế nhị và khó khăn, trong nhiều năm qua, về ảnh hưởng của Hoa Kì đối với tiến bộ chính trị ở miền Nam. Tôi biết rõ rằng đây là những lĩnh vực mà chắc chắn nhiều người trong số các bạn có quan điểm mạnh mẽ. Tôi hoan nghênh việc thảo luận về chúng.
“Bài học về can dự”
Vậy thì, “bài học về can dự” là gì?
- Phải chăng chúng ta đã bị mắc kẹt trong một tình huống khó khăn bởi một loạt các quyết định nhỏ nhặt được đưa ra mà không có cái nhìn rõ ràng về hậu quả của chúng?
- Phải chăng chúng ta lẽ ra không nên dính líu vào Đông Nam Á ngay từ đầu?
- Phải chăng chúng ta lẽ ra không nên cố ủng hộ Nam Việt ngay từ đầu?
- Phải chăng, sau khi đã ủng hộ Nam Việt ở một số khía cạnh (bao gồm cả một hiệp ước) và đã dính líu sâu vào Đông Nam Á, chúng ta lẽ ra nên quyết định hoặc bây giờ nên quyết định hạn chế các hành động của mình, hoặc thậm chí rút lui hoàn toàn?
Câu hỏi đầu tiên đối với tôi vừa riêng biệt vừa khó giải quyết. Tại một thời điểm nào đó trong lịch sử mà tôi đã kể, chúng ta đã cam kết, một cách có chủ ý và thông qua quy trình hiến pháp chính thức, ủng hộ nền độc lập của Nam Việt không bị sự can thiệp từ bên ngoài. Cam kết đó bao gồm một nghĩa vụ hiệp ước mạnh mẽ, và đó là một phần rõ ràng của câu chuyện. Nhưng có lẽ điều quan trọng hơn là các cường quốc phải đối mặt với 2 điểm trọng tâm:
- Như Irving Kristol đã chỉ ra trong bài báo gần đây trên tạp chí Foreign Affairs, định nghĩa về một cường quốc lớn không chỉ nằm ở hành động mà cả những trường hợp không hành động cũng đều gây ra hậu quả nghiêm trọng. Ở mọi giai đoạn trong câu chuyện Việt Nam, có vẻ rõ ràng là các nhà lãnh đạo nước này đều nhận thấy rằng việc không hành động sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng nhất. Đây là cách mà các lựa chọn liên tiếp đã xuất hiện trước 4 đời tổng thống liên tiếp.
- Điểm thứ hai mà một cường quốc lớn không thể tránh khỏi là chính các hành động của nó ảnh hưởng đến những rủi ro. Khi các cường quốc lớn tự cam kết, bằng hiệp ước và bằng một toàn bộ quá trình hành động kéo dài nhiều năm, một yếu tố phụ thuộc sẽ xuất hiện, cả trong khu vực đó và trong các khu vực khác mà các cam kết cũng đã được thực hiện.
Tuy nhiên, nói cho cùng, tôi không nghĩ rằng người ta có thể kết luận rằng chỉ vì chúng ta đã nói hoặc làm điều A, thì nhất thiết chúng ta phải nói hoặc làm điều B - theo một câu nói cũ của Bismarck. Vì vậy, tôi không tin rằng “bài học về can dự” là chúng ta là tù nhân của lịch sử. Thay vào đó, tôi nghĩ chúng ta nên tập trung vào câu hỏi thứ hai, thứ ba và thứ tư mà tôi đã liệt kê ở trên.
Đây là những câu hỏi lớn, và nếu hôm nay tôi đã cố gắng làm điều gì đó thì đó là nhấn mạnh rằng vấn đề này thật sự đã được xem xét trong ít nhất 13 năm qua trong khuôn khổ lớn hơn loại này. Các chính sách được tuân theo ngày nay, như phải vậy, là chính sách của chính quyền này. Không ai có thể nói liệu một chính quyền khác có làm như vậy hay không. Điều có thể nói là quan điểm và phân tích các yếu tố cơ bản nhìn chung vẫn tương tự nhau trong suốt 13 năm qua, nếu không muốn nói là lâu hơn.
Tất nhiên, điều này không chứng minh rằng phân tích này là chính xác. Hoa Kì không được miễn trừ khỏi sai lầm bởi thần thánh, và điều tốt nhất mà các nhà lãnh đạo của các bạn có thể làm vào bất kì thời điểm nào là vận dụng khả năng phán đoán và đạo đức tốt nhất của con người. Cá nhân tôi tin chắc rằng điều này đã được thực hiện ở mọi giai đoạn.
Về bản chất, câu hỏi này không thể chứng minh kiểu hình học. Giống như mọi chính sách, đó là một phán đoán. Chúng ta đặt cược vào lịch sử rằng Đông Nam Á thật sự quan trọng, rằng nền độc lập của Nam Việt ảnh hưởng sâu sắc đến Đông Nam Á, và rằng tinh thần dân tộc không cộng sản ở Đông Nam Á và ở Việt Nam chứa đựng mầm mống của một khu vực hoà bình, tiến bộ và ổn định, có thể khẳng định vị thế của mình trong một thế giới hoà bình.
Độc lập của Đông Nam Á
Như tôi đã cố tóm tắt, còn có những yếu tố khác tham gia vào, và dù có biến động theo thời gian, chúng vẫn giữ vai trò quan trọng chung lớn. Nhưng chủ yếu là từ góc độ Đông Nam Á mà tôi muốn kết thúc bài phát biểu hôm nay. Những dự đoán mà tôi đã mô tả hiện nay trông ra sao?
Đông Nam Á chắc chắn quan trọng hơn bao giờ hết. Một khu vực mà có thể chỉ có khoảng 30 triệu dân vào năm 1800 - và được xếp vào loại “vùng ngoại vi” trong một số sách giáo khoa về Đông Á - nay có hơn 250 triệu người, nhiều hơn cả Mĩ Latin và gần bằng dân số Tây Âu. Tài nguyên của khu vực này rất phong phú, và người dân nơi đây, dù chưa đạt được sự tiến bộ vượt bậc như ở các khu vực phía bắc châu Á, nhưng lại rất tài năng, thông minh và cần cù. Vị trí địa lí của nó, dù không nằm trên lối xung đột giữa các cường quốc, lại rất quan trọng đối với các tuyến đường thương mại và nhiều khía cạnh khác.
Từ quan điểm an ninh của chính chúng ta và loại thế giới mà chúng ta mong muốn được sống, tôi tin rằng chúng ta phải tiếp tục hết sức quan tâm đến việc làm những gì có thể để ngăn chặn Đông Nam Á rơi vào sự thống trị và xâm lược từ bên ngoài, điều sẽ góp phần vào sự thống trị đó. Và tôi cũng tin rằng chúng ta có mối quan tâm rộng hơn trong việc làm những gì có thể, và khi chúng ta được yêu cầu, để trợ giúp các chương trình hiệu quả trên cơ sở từng quốc gia hoặc khu vực và để cải thiện phúc lợi của người dân trong khu vực. Và tôi không nghĩ rằng chúng ta có thể làm được điều sau nếu điều trước không đạt được. Phần thứ hai trong lập luận của chúng ta là nền độc lập của Nam Việt ảnh hưởng nghiêm trọng đến Đông Nam Á. Nam Việt và 15 triệu dân của nước này tự bản thân đã quan trọng, nhưng chúng càng trở nên quan trọng hơn nếu chấp nhận nhận định rằng một cuộc xâm lược thành công ở đó sẽ làm suy yếu nghiêm trọng tình hình ở Đông Nam Á và thậm chí cả ngoài khu vực. Nhận định đó không thể chỉ được bảo vệ bằng cách viện dẫn động lực của các cường quốc xâm lược và các nạn nhân tiềm năng của họ trong quá khứ. Bản thân tôi tin rằng những sự tương đồng đó có giá trị, nhưng câu hỏi luôn là về những gì thẩm phán Holmes gọi là “các vụ việc cụ thể.” Trong vụ việc cụ thể này, tôi nghĩ nhận định cơ bản là có giá trị và vẫn còn có giá trị cho đến ngày nay.
Không ai trong chúng ta có thể khẳng định chắc chắn rằng Trung Hoa Cộng sản sẽ tiến hành – nếu có cơ hội – thống trị các khu vực rộng lớn ở Đông Nam Á thông qua áp lực và lật đổ. Nhưng đó là những gì người Trung Quốc và bản đồ của họ nói, và chủ thuyết Cộng sản của họ dường như nhấn mạnh thêm điều đó. Đó là những gì họ đang làm ở Thái Lan hiện nay và, thông qua các đồng minh Cộng sản địa phương, ở Miến Điện, Cambodia, Malaysia và Singapore. Và đó là những gì họ muốn làm lại ở Indonesia. Chắc chắn Adlai Stevenson [đại sứ Mĩ tại Liên Hợp Quốc, 1961-1965] đã đúng khi cho rằng mối đe dọa từ Trung Hoa Cộng sản không phải là điều viển vông đến mức không thể được coi là một giả định chính sách có cơ sở. Và chúng ta có thể khẳng định chắc chắn hơn rằng Hà Nội có ý định thống trị ít nhất các quốc gia kế thừa Đông Dương và sẽ nhanh chóng tiến tới mục tiêu này nếu họ giành được quyền kiểm soát thực tế đối với Nam Việt.
Có lẽ điểm khó nắm bắt nhất đối với một số người là tác động tâm lí của một sự kiện như sự sụp đổ của Nam Việt trong bối cảnh này. Đối với Hà Nội và Bắc Kinh, nhận định và kinh nghiệm trong quá khứ hướng tới kết luận rằng điều đó sẽ càng khuyến khích họ tiến xa hơn. Đối với các quốc gia bị đe dọa, quan điểm của các nhà lãnh đạo của họ đã được ghi nhận. Trên khắp Đông Nam Á, bất kể lập trường của từng quốc gia là gì, phần lớn dư luận có trách nhiệm - và tôi mời các bạn kiểm chứng điều này bằng bất kì tài liệu trực tiếp nào - đều chấp nhận nhận định mới đây của thủ tướng độc lập và không liên kết của Singapore, ông Lí Quang Diệu: “Tôi cảm thấy số phận của châu Á - Nam và Đông Nam Á - sẽ được quyết định trong vài năm tới bởi những gì xảy ra ở Việt Nam.”
Tôi có thể nhân câu nói đó lên 10 lần trong các phát biểu công khai và 10 lần nữa trong các phát biểu riêng tư. Như Drew Middleton của tờ The New York Times đã đưa tin hồi tháng 6 năm ngoái sau chuyến đi đến khu vực đó:
Mặc dù còn một số lo ngại, các nhà lãnh đạo không cộng sản từ Tokyo đến Tehran phần lớn ủng hộ các chính sách của Hoa Kì tại Nam và Đông Nam Á.
Điều này không có nghĩa là mọi quốc gia đều chấp nhận lựa chọn hành động quân sự của chúng ta. Một số muốn chúng ta làm nhiều hơn, một số muốn ít hơn. Nhưng điều đó dẫn đến kết luận rõ ràng rằng quan điểm của chúng ta phù hợp với nhận thức sâu sắc ở Đông Nam Á, và thực tế cũng ở những nơi khác tại châu Á, rằng cuộc đấu tranh ở Nam Việt là rất quan trọng đối với nền độc lập và khả năng tiếp tục hoạt động vì nhân dân của mỗi quốc gia trên một khu vực rộng lớn.
Cuối cùng, còn có câu hỏi liệu một Đông Nam Á mới có thật sự đang được xây dựng và phát triển hay không. Về điểm này, chắc chắn những diễn biến trong 5 năm qua, và đặc biệt là 2 năm qua, đã rất đáng khích lệ. Trong khi Indonesia năm 1965 đang nhanh chóng trôi dạt về phía kiểm soát của Cộng sản và liên kết thực tế với Bắc Kinh, thì nay nước này đứng vững trên nền tảng dân tộc chủ nghĩa, từ bỏ đe dọa các nước láng giềng và tìm cách giải quyết những vấn đề kinh tế hỗn loạn do Sukarno để lại - với sự giúp đỡ đa phương của chúng ta và các nước khác. Hợp tác khu vực trong Đông Nam Á, và giữa các nước châu Á nói chung, đã có những bước tiến lớn và mang tính lịch sử. Và đây là quan điểm được chấp nhận rộng rãi trong khu vực - mà tôi cũng chia sẻ - rằng những diễn biến này sẽ khó có thể xảy ra hơn nếu chúng ta không hành động như đã làm vào năm 1965 và nếu lực lượng Cộng sản nắm quyền ở Nam Việt.
Vì vậy, khắp Đông Nam Á hiện nay đều có một cảm giác tự tin mà Drew Middleton đã một lần nữa chứng thực từ chuyến đi của mình. Thời gian đã được mua và sử dụng. Nhưng sự tự tin đó không vững chắc hay đảm bảo cho tương lai. Chắc chắn nó sẽ bị gián đoạn nếu, theo lời của tổng thống Johnson, chúng ta cho phép Cộng sản nắm quyền ở Nam Việt, dù là thông qua việc rút quân hay “dưới vỏ bọc của một thỏa thuận vô nghĩa.”[15] Ngược lại, nếu chúng ta tiếp tục con đường hiện tại - với các hành động quân sự có chừng mực và với mọi biện pháp không quân sự có thể có, đồng thời luôn tìm kiếm con đường dẫn đến hoà bình - thì triển vọng về một Đông Nam Á hoà bình và an ninh hiện nay có vẻ tươi sáng hơn bao giờ hết tính từ khi các quốc gia trong khu vực được thành lập trên cơ sở độc lập.
Tóm lại, tôi nghĩ rằng tình hình quả thật rất nghiêm trọng. Chi phí rất lớn, và rõ ràng là chúng ta phải củng cố năng lực và quyết tâm quốc gia để tiếp tục cuộc đấu tranh gai gốc này, đồng thời vẫn phải làm những việc cần thiết để giải quyết các vấn đề trong nước. Tôi thấy khó thể tin được rằng chúng ta lại không có đủ năng lực và quyết tâm quốc gia để làm cả hai điều đó.
Thư mục chọn lọc
- Acheson, Dean. Present at the Creation. New York: Signet Books, 1970.
- Beal, John Robinson. John Foster Dulles: A Biography. New York: Harper & Brothers, 1957.
- Charlton, Michael, and Anthony Moncrieff. Many Reasons Why. New York: Hill and Wang, 1978.
- Colby, William, and Peter Forbath. Honorable Men, My Life in the CIA. New York: Simon and Schuster, 1978.
- Cooper, Chester L. The Lost Crusade, America in Vietnam. New York: Dodd, Mead and Company, 1970.
- Decoux, Admiral (Jean). A la Barre de l'Indochine. Paris: Librairie Plon, 1949.
- Devillers, Philippe. Histoire du Viet-Nam de 1940 à 1952. Paris: Editions du Seuil, 1952.
- Dickens, Charles. New York: Avenel Books, 1978.
- Dulles, Foster Rhea. American Foreign Policy Toward Communist China. New York: Thomas Y. Crowell Company, 1972.
- Duncanson, Dennis J. Government and Revolution in Viet-Nam. New York: Oxford University Press, 1968.
- Eden, Anthony. Full Circle, The Memoirs of Anthony Eden. Boston: Houghton Mifflin Company, 1960.
- Eisenhower, Dwight D. Mandate for Change. New York: Signet Books, 1965.
- Fall, Bernard B. Le Viet Minh, 1945-1960. Paris: Librairie Armand Colin, 1960.
- Fall, Bernard B. The Two Viet-Nams, A Political and Military Analysis. Revised Edition. New
- York: Frederick A. Praeger, 1964.
- Fall, Bernard B. Street Without Joy, Indochina at War 1946-1954. Harrisburg, Pennsylvania:
- The Stackpole Company, 1961.
- Halberstam, David. The Making of a Quagmire. New York: Random House, 1965.
- Hammer, Ellen J. The Struggle for Indochina. Stanford: Stanford University Press, 1954.
- Hammer, Ellen J. Vietnam, Yesterday and Today. New York: Holt, Rinehart and Winston, Inc., 1966
- (Hors série 24) Notre Guerre d'Indochine, Mars 1945-Juillet 1951. Paris: Librairie Jules Tallandier, 1972.
- Imprimerie d'Extrême-Orient. Conventions Inter-Etats. Saigon, 1951.
- Johnson, Lyndon Baines. The Vantage Point. New York: Holt, Rinehart and Winston, 1971
- Kissinger, Henry. White House Years. Boston: Little Brown & Co., 1979.
- Kỳ, Nguyễn Cao. How We Lost the Vietnam War. New York: Stein and Day, 1978.
- Lansdale, Edward Geary. In the Midst of Wars, An America's Mission to Southeast Asia. New York: Harper & Row, 1972.
[1] Bài phát biểu được chuẩn bị để đọc trước Đại hội thường niên lần thứ 20 của Hiệp hội Sinh viên Quốc gia tại College Park, Maryland, vào ngày 15/8/1967 (thông cáo báo chí số 177). Do hạn chế về thời gian, ông Bundy đã đọc một số đoạn trích từ bài phát biểu, và toàn văn đã được cung cấp cho người tham dự. Để biết thêm những nhận xét của ông Bundy trong dịp này, xem thông cáo báo chí số 177-A của Bộ Ngoại giao ngày 15 tháng 8..
[2] Lờ văn, xem American Foreign Policy, 1950-1955, Basic Documents, vol. I, Department of State publication 6446, 750.
[3] Về bối cảnh, xem Bulletin số Aug. 2, 1954, 162.
[4] Lời văn về Hiệp ước Phòng thủ tập thể Đông Nam Á và Nghị định thư, xem nt, Sept. 20, 1954, 898.
[5] Lời văn thư của tổng thống Eisenhower, xem nt,, Nov. 15, 1954, 785.
[6] Roger Hilsman, To Move a Nation: the politics of foreign policy in the administration of John F. Kennedy (Doubleday, Garden City, N.Y., 1967).
[7] Lời văn, xem nt, BULLETIN số Aug. 13, 1962, 259.
[8] Trả lời của tổng thống Kennedy trong cuộc họp báo ngày 14/6/1962.
[9] Về bản ghi lại cuộc phỏng vấn của đài NBC với tổng thống Kennedy vào ngày 9/9/1963, xem BULLETIN số Sept. 30, 1963, 499.
[10] Public Law 88-408; lời văn, xem BULLETIN số Aug. 24, 1964. 268.
[11] Lời văn, xem nt, Nov. 14, 1966, 734.
[12] Lời văn, xem nt, Apr. 26, 1965, 606.
[13] Lời văn, xem nt, Aug. 16, 1965, 264.
[14] Lời văn, xem nt, June 5, 1967, 838.
[15] Nt, Apr. 26, 1965, 606.