Tác giả: Frank Dikötter
Người dịch: Nguyễn Quang A
NXB: Bloomsbury Publishing, 2026

4. Các Soviet
(1931–1934)
Khi Trương Học Lương giương cờ Quốc dân đảng vào ngày 18 tháng 9 năm 1930, Nhật Bản coi hành động thể hiện lòng trung thành của ông với Tưởng Giới Thạch là một sự sỉ nhục không thể tha thứ. Đến tháng 8 năm 1931, các chỉ huy của Quân đoàn Quan Đông, đóng quân tại Port Arthur, đã chuẩn bị cho hành động quân sự, công khai ý định trục xuất “Thiếu tướng Trương” khỏi khu vực này. Khu vực đường sắt dưới sự kiểm soát của họ trở thành một khung cảnh nhộn nhịp, với những đoàn tàu quân sự dài dằng dặc chở đầy lương thực và đạn dược, các khẩu pháo dã chiến được che bằng vải bạt cùng những kiện cỏ khô dành cho kỵ binh, di chuyển liên tục dọc theo tuyến đường sắt Nam Mãn Châu. Theo thỏa thuận đạt được sau Chiến tranh Nga-Nhật năm 1904, Nhật Bản được phép duy trì tối đa 15.000 binh sĩ tại Mãn Châu, nhưng theo một ước tính, có tới 40.000 binh sĩ được triển khai từ Port Arthur lên đến Changchun (Trường Xuân), và từ Mukden (Phụng Thiên tức Thẩm Dương ngày nay) xuống đến bờ bắc sông Yalu (Áp Lực)– con sông ngăn cách Mãn Châu với Triều Tiên, nơi cũng đang bị Nhật Bản chiếm đóng. 1
Người Nga, đặc biệt là qua cách họ đã tận dụng một cuộc đụng độ nhỏ dọc theo Đường sắt Đông Trung Quốc vào năm 1929 để phát động một cuộc xâm lược quy mô lớn vào Mãn Châu, đã trở thành nguồn cảm hứng cho Nhật Bản. Ấn tượng trước sự dễ dàng mà Quân đội Liên Xô đã giành chiến thắng, các sĩ quan Nhật Bản đã sao chép cách tiếp cận đó và dàn dựng một vụ việc dọc theo một đoạn đường sắt ở Mukden. Vào đêm ngày 18 tháng 9 năm 1931, đúng một năm sau khi Trương Học Lương ký kết với Nam Kinh, Quân đoàn Quan Đông đã sử dụng một lượng nhỏ thuốc nổ để phá hoại đường ray gần Mukden. Họ lập tức cáo buộc đây là hành động phá hoại và điều động quân đội đến hiện trường. Sự kiện Mukden đã trở thành cái cớ để xâm lược toàn bộ Mãn Châu.
Thời điểm mà Nhật Bản chọn là rất thuận lợi, ở nhiều khía cạnh. Hoa Kỳ đang chìm trong cuộc Đại suy thoái, Anh Quốc đang từ bỏ chế độ bản vị vàng sau những đợt tấn công đầu cơ nhằm vào đồng bảng Anh, trong khi tại Áo, sự sụp đổ của ngân hàng lớn nhất nước này đã gây ra cuộc khủng hoảng thị trường chứng khoán, từ đó đe dọa hệ thống tài chính của châu Âu. Chỉ trong vài tuần, Quân đoàn Quan Đông đã nhanh chóng chiếm đóng tất cả các thành phố lớn từ Port Arthur đến Shenyang (Thẩm Dương) và Changchun. Dưới danh nghĩa duy trì hòa bình và trật tự, hệ thống đường sắt, thông tin liên lạc, xưởng đúc tiền, tất cả các ngân hàng và báo chí đều bị đặt dưới sự kiểm soát của họ. Ngay cả khi binh lính triển khai dọc theo các tuyến đường sắt, người ta vẫn có thể quan sát thấy một dòng người ngược chiều, với hàng loạt gia đình giàu có đổ xô di tản về phía nam Vạn Lý Trường Thành đến Bắc Kinh, mang theo những gói ngọc bích, trang sức và tranh vẽ. Trương, yếu ớt và gầy gò do vừa trải qua cơn sốt thương hàn, không hề chống cự, vì ông nhận thức rõ sự vượt trội áp đảo về quân sự của Nhật Bản. Vào tháng 12, quân đội của ông rút khỏi Mãn Châu, đi qua thị trấn nhỏ Shanhaiguan (Sơn Hải Quan), nơi Vạn Lý Trường Thành đổ xuống biển. 2
Tưởng Giới Thạch vội vã trở về Nam Kinh, nhưng không tuyên chiến với Nhật Bản. Ông cũng cho rằng việc chống lại một cỗ máy quân sự hiện đại và hiệu quả là vô ích. Chính phủ của ông lúc đó đã bị áp đảo bởi một trận lũ lụt tàn khốc ở Hồ Bắc và Hồ Nam, khi những dòng nước bùn mênh mông tràn vào đất liền xa tít tắp, biến toàn bộ thung lũng Dương Tử thành một biển nội địa xám xịt, không có thủy triều. Mùa màng, kho lương thực, gia súc và con người đều bị cuốn trôi. Thỉnh thoảng, những chấm nhỏ nhô lên khỏi mặt nước, với những người dân làng tuyệt vọng bám víu vào đê, cuối cùng buộc phải buông tay khi kiệt sức. Nửa thành phố cổ ở Hankou chìm dưới nước, ngoại trừ các tầng trên của một vài tòa nhà hiện đại. Khắp nơi, lũ lụt cuốn theo thi thể con người cùng với chó, lừa và ngựa chết, nhưng cũng mang theo bệnh lỵ, dịch tả và thương hàn. Trên khắp Vũ Hán, một thành phố thường xuyên bị ngập lụt do mưa lớn trong mùa hè oi bức và ngột ngạt, nơi hai con sông lớn giao nhau trong một lưu vực rải rác các hồ nước, ước tính có khoảng 1.000 người chết mỗi ngày. Ngay cả tại Nam Kinh, nơi các quan chức chính phủ vội vã triển khai cứu trợ cho 30 triệu người vô gia cư và khốn cùng, một số khu vực của thủ đô vẫn bị ngập lụt trong nhiều tháng, các vùng nước đọng “đầy ắp xác chết”. Trong cái lạnh buốt giá, trước các cơ quan chính phủ, hàng nghìn sinh viên từ khắp cả nước đổ về thành phố, hô vang các khẩu hiệu đòi “Chiến tranh với Nhật Bản!”, “Chiến đấu với Nhật Bản!”. Họ ồ ạt xông vào văn phòng của C. T. Wang, Bộ trưởng Ngoại giao người đã thành công rực rỡ trong việc giành được quyền tự chủ thuế quan vô điều kiện vào năm 1928. 3
Nam Kinh chọn hướng tới các cường quốc và Hội Quốc Liên. Khoảng mười hai năm trước đó, Nhật Bản đã đồng ý gia nhập Hội Quốc Liên với tư cách là một trong bốn thành viên thường trực của Hội đồng, đổi lại việc được tiếp tục kiểm soát một số khu nhượng địa ở Sơn Đông. Ngày 30 tháng 9 năm 1931, Hội đồng Hội Quốc Liên đã thông qua một nghị quyết ghi nhận ý định của Nhật Bản về việc rút quân càng sớm càng tốt. Các cường quốc nước ngoài cũng cố gắng kiềm chế Nhật Bản, kêu gọi Tokyo không tấn công Jinzhou (Cẩm Châu 錦州), một trung tâm công nghiệp nằm giữa Mukden và Bắc Kinh. Tokyo đã long trọng cam kết tôn trọng thành phố này, nhưng lại pháo kích vào tháng 11. Các công hàm ngoại giao tiếp tục được trao đổi, với Hội đồng Liên đoàn Quốc tế đưa ra thêm các tuyên bố cũng như thành lập một ủy ban điều tra. Đến đầu tháng 2 năm 1932, Nhật Bản đã hoàn tất việc chinh phục quân sự Mãn Châu khi những đơn vị quân đội gầy gò và mệt mỏi, khoác áo lông thú để chống chọi với cái lạnh cắt da cắt thịt, tiến vào Harbin (Cáp Nhĩ Tân). Mãn Châu, với những đồng bằng rộng lớn có đất đen màu mỡ giàu than đá và khoáng sản, được bao quanh bởi những dãy núi rậm rạp rừng cây, là vùng đất đáng để tranh giành. Bên cạnh tài nguyên thiên nhiên, Mãn Châu còn là thị trường tiềm năng với 30 triệu người tiêu dùng. Trên hết, Nhật Bản thèm khát khu vực này như một quốc gia đệm chống lại Nga. 4
Vào tháng 1 năm 1932, một mặt trận thứ hai bùng nổ tại Thượng Hải, thành phố đã trở thành trung tâm của phong trào tẩy chay chống Nhật. Sinh viên, thương nhân trẻ và các thực tập sinh văn phòng, cùng nhiều người khác, đã tham gia làm lực lượng tuần tra, thực chất là chiếm lĩnh thành phố, kiểm tra hệ thống hàng hóa của từng cửa hàng và lục soát hành lý của tất cả hành khách đến tại các ga tàu hỏa. Một số hàng hóa vi phạm đã bị thu giữ và đốt cháy ngay trên đường phố. Không một nhà hoạt động nào tấn công các cửa hàng thuộc sở hữu của người Nhật, mặc dù các cuộc đình công đã đẩy nhiều nhà máy và xí nghiệp Nhật Bản đến bờ vực phá sản. Ngày 18 tháng 1, một nhóm nhà sư Nhật Bản rời khu nhượng địa, dừng lại trước một nhà máy khăn tắm địa phương và bắt đầu hát quốc ca Nhật Bản. Một cuộc bạo loạn nổ ra, khiến một nhà sư thiệt mạng trong cuộc ẩu đả, tạo cớ mà tùy viên quân sự Nhật Bản đang mong đợi.
Vào ngày 28 tháng 1, một số đại đội thủy quân lục chiến được điều động qua Khu nhượng địa Quốc tế vào Zhabei (Sạp Bắc 闸北), khu vực công nghiệp hóa mạnh mẽ nơi công nhân sống trong những ngôi nhà liền kề bằng gạch đỏ chật chội. Họ trở thành mục tiêu dễ dàng cho các xạ thủ Trung Quốc. Nhật Bản đáp trả bằng cuộc oanh tạc kết hợp giữa hải quân và không quân nhằm vào dân thường không vũ trang ở Zhabei, gây phẫn nộ cho phần lớn thế giới. Thay vì cầu hòa, Tưởng Giới Thạch đã điều động Quân đoàn 19, lực lượng này đã chiến đấu trong điều kiện áp đảo với một quyết tâm khiến hầu hết các nhà quan sát ngạc nhiên, không ai ngạc nhiên hơn chính Nhật Bản. Chẳng bao lâu, hơn một nửa quân đội thường trực của Nhật Bản đã có mặt tại Trung Quốc. Số người thiệt mạng ở cả hai bên lên tới hàng chục nghìn người. Zhabei bị thiêu rụi thành tro bụi, “bị phá hủy, xé nát và tàn phá hoàn toàn”. Ngày 3 tháng 3, một thỏa thuận ngừng bắn được đàm phán, và hiệp định đình chiến được ký kết vào tháng 5 năm 1932. 5
***
Vào ngày 7 tháng 11 năm 1931, nhân kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười, Mao Trạch Đông đã tuyên bố thành lập Cộng hòa Soviet Trung Quốc, còn được gọi là Soviet Giang Tây. Ba tháng trước đó, bốn sư đoàn của chính phủ đã tấn công thủ đô Ruijin (Thụy Kim) của Soviet này, nhưng sau đó phải rút lui sau Sự kiện Mukden. 6
Ruijin, được bao quanh bởi những ngọn núi dốc đứng, nằm giữa một vùng biên giới khắc nghiệt nằm trên ranh giới giữa Giang Tây và Phúc Kiến, đã trở thành trung tâm chỉ huy không chỉ của Cộng hòa Soviet Giang Tây mà còn trên danh nghĩa của một số khu căn cứ khác ở Trung Quốc, trong đó các khu vực chính nằm ở Phúc Kiến, Hồ Nam, Hồ Bắc, An Huy và sau này là Tứ Xuyên. Các khu vực này tồn tại trong ba năm, dù ngay cả khi đạt đỉnh cao, tổng diện tích của chúng cũng không vượt quá 150.000 km², tương đương 2% lãnh thổ cả nước. Về quy mô tương đối, diện tích này tương đương với bang Washington ở Hoa Kỳ hoặc tỉnh La Paz ở Bolivia trên lục địa Nam Mỹ. 7
Vì Ruijin là một thành phố hoang tàn, bị Quốc dân đảng oanh tạc, nên tất cả các cơ quan Soviet đều được thiết lập trong một khu vực được rào chắn, cách xa trung tâm. Một điện thờ tổ tiên được chuyển đổi thành trụ sở chính phủ, các hầm trú ẩn được đào, một sân bay được xây dựng và một khu vực rộng lớn, được gọi là “Quảng trường Peng Pai”, được dọn dẹp để tổ chức các cuộc duyệt binh. Phía trên cổng chính của điện thờ tổ tiên là hai lá cờ lụa đỏ lớn thêu hình búa liềm, một lá dành cho Liên Xô, một lá dành cho Đảng Cộng sản. Ngày 7 tháng 11, lễ kỷ niệm thành lập “nhà nước đỏ” được tổ chức với các cuộc diễu hành, bài phát biểu và ca hát, ngày kết thúc bằng việc các đại biểu đứng dậy hát bài “Quốc tế ca”. 8
Tuy nhiên, quyền lực lúc này không còn nằm trong tay Mao. Sau khi mạng lưới ngầm của Đảng tại Thượng Hải bị tiêu diệt, Ban Chấp hành Trung ương đã chuyển đến Ruijin. Ban Chấp hành Trung ương lúc đó do Chu Ân Lai và một thanh niên tên là Bác Cổ (Bo Gu博古) lãnh đạo; Bác Cổ chính thức thay thế Tương Trung Phát làm Bí thư Đảng vào tháng 9 năm 1931. Bác Cổ là một người cao gầy, có vẻ trí thức, trẻ hơn Mao 16 tuổi, chưa từng tham gia chiến đấu nhưng lại được trang bị đầy đủ các giáo điều. Là một tín đồ trung thành của Stalin, ông đã được đào tạo tại Moscow về cách vận hành bộ máy Đảng. 9 Người bảo trợ của ông, Wang Ming, người được triệu hồi về Liên Xô vào tháng 9 năm 1931 để hỗ trợ Pavel Mif, đã luôn ủng hộ ông một cách kiên định. Giao tiếp giữa Ruijin và Moscow diễn ra qua đài phát thanh, do Chu Ân Lai điều khiển ở một đầu và Wang Ming ở đầu kia.
Bộ Chính trị, do phe “Bolshevik” chi phối, luôn chú ý từng lời từ “chủ nhân” của họ ở Moscow. Moscow ra lệnh áp dụng một cách tiếp cận cứng rắn đối với “địa chủ” và “nông dân giàu”. Như Pavel Mif đã khẳng định, “nhiệm vụ đầu tiên và cơ bản” của Đảng Cộng sản Trung Quốc là đảm bảo rằng “cách mạng nông nghiệp không trở thành cách mạng của tầng lớp kulak”, với việc “nông dân giàu có” tìm cách giành quyền kiểm soát các cơ quan quyền lực trong các Soviet. Tại Soviet Giang Tây, “địa chủ” và những người phụ thuộc của họ bị cấm sở hữu đất đai hoàn toàn, trong khi “nông dân giàu có” được phân phối những mảnh đất biên viễn với đất đai cằn cỗi. Vì bất kỳ ai cũng có thể bị tố cáo là “địa chủ” hoặc “nông dân giàu có”, và vì đất đai ở một số khu vực của Soviet đã được phân phối “vô số lần”, nên không ai cảm thấy an toàn. Sản lượng ngũ cốc sụt giảm mạnh, vì người dân làng chỉ canh tác đủ lương thực để đáp ứng nhu cầu của chính họ. Trong điều kiện thị trường bình thường, được quyết định bởi cung và cầu, giá trị sản lượng nông nghiệp của họ lẽ ra đã tăng lên, nhưng Đảng đã áp đặt mức giá trần. 10
Ngược lại, giá cả các mặt hàng thiết yếu hàng ngày lại tăng cao. Trước khi thành lập Soviet, một chiếc áo sơ mi và một chiếc quần dài có giá 1,8 nhân dân tệ, nhưng đến năm 1933, giá đã tăng gần gấp đôi lên 3,4 nhân dân tệ. Các mặt hàng như muối và dầu ăn phải đối mặt với tình trạng lạm phát tràn lan đến mức vào năm 1933, mức tiêu thụ đã sụt giảm tới 80%. Hoạt động thương mại rơi vào tình trạng ảm đạm. “Nguyên nhân chính là trước đây, khi chúng ta bắt đầu cuộc đấu tranh, chúng ta đã đốt phá các thành phố một cách bừa bãi và Hồng Quân không tuân thủ kỷ luật, nên hầu hết các thị trấn và thành phố bên trong khu Soviet đã bị tàn phá,” một chính ủy lưu ý. Các cửa hàng của họ bị phá hủy, bị coi là kẻ thù giai cấp, nên các thương nhân hầu như không thể kinh doanh được. “Chúng tôi nghèo, không thể mua được gì, mọi thứ ngày nay đều quá đắt đỏ,” người dân làng than phiền. Để bù đắp thiếu hụt và trang trải cuộc sống, nhiều người đã bỏ ruộng vườn và chuyển sang buôn bán dầu, muối và các mặt hàng khác. Những người khác lặng lẽ lên đường, khiến những cánh đồng hoang vắng xuất hiện dọc biên giới Soviet ngay từ tháng 3 năm 1932. 11
Trước khi thành lập Soviet, nguồn thu chính của Đảng Cộng sản là cướp bóc và đòi tiền chuộc. Các chiến binh du kích sẽ xông vào một ngôi làng, tịch thu tài sản của những người bị coi là kẻ thù của cách mạng, công khai tuyên bố bãi bỏ mọi loại thuế rồi tiếp tục di chuyển. Nhưng giờ đây, họ thực sự phải đánh thuế chính người dân của mình, dù nguồn thu chính – tức tài sản của những người khá giả – đã cạn kiệt. Ban đầu, số tiền cần thiết để chính quyền hoạt động chỉ đơn giản là lấy từ dân chúng, “trước tiên từ các tên bạo chúa địa phương, sau đó từ giới quý tộc, địa chủ và nông dân giàu có, tiếp theo là từ nông dân trung lưu và cuối cùng là từ mọi nông dân nghèo chỉ có vài đồng lẻ”. Một khi thuế đã được áp đặt, chúng nhanh chóng tăng lên gấp bội, bởi vì nguồn lực ngày càng cạn kiệt của dân chúng không bao giờ có thể đáp ứng được nhu cầu của một chính quyền đang mở rộng. Một số loại thuế này “dễ bị người dân nhầm lẫn với các khoản thu quá mức trong quá khứ”, một báo cáo đề cập. Do thuế và các khoản phụ thu không đủ, chính quyền đã tổ chức các “đội quyên góp” để kêu gọi các khoản đóng góp miễn phí và quyên góp tự nguyện, “chẳng hạn như mì, khoai lang, rau củ, trái cây, thịt lợn, trứng gà và vịt, dép rơm và tiền”. 12
Tình hình càng trở nên trầm trọng hơn do Soviet kiên quyết đòi “độc lập hoàn toàn” so với các vùng lãnh thổ lân cận. Điều này bao gồm việc in tiền Soviet với hình ảnh của Lenin trên các mệnh giá khác nhau. Thật không may, loại tiền giấy này không được chào đón, nhất là bên ngoài Soviet. “Ở nhiều nơi, tiền giấy không được coi trọng và thậm chí bị từ chối,” một báo cáo năm 1933 chỉ ra. Do tiền tệ không được tôn trọng, giá cả đã bị “tăng lén lút”, cùng với những “âm mưu và kế hoạch tàn bạo của phe phản cách mạng trong và ngoài nhằm phá hoại cách mạng”. Thị trường chợ đen xuất hiện, hình thức trao đổi hàng hóa lấy hàng hóa lan rộng. Người dân từ chối nộp lại hoặc trao đổi tiền tệ cũ tại các trạm đổi tiền hoặc ngân hàng địa phương. Phải ban hành thêm các đạo luật, kèm theo việc triển khai thêm các nhân viên chính phủ, để buộc người dân sử dụng tiền tệ màu đỏ, bao gồm cả hình phạt “bắn chết”. 13
Thương mại với thế giới bên ngoài là sợi dây cứu sinh, được khôi phục muộn màng vào tháng 1 năm 1934. Ruijin (Thụy Kim) nổi tiếng với việc sản xuất thuốc lá chất lượng cao, vốn được dành riêng cho xuất khẩu. Ngũ cốc, gỗ và long não được bán để bù đắp ngân khố nhà nước. Vonfram, một kim loại hiếm có độ cứng cực cao, được tìm thấy dồi dào ở miền nam Giang Tây, đóng góp gần một nửa sản lượng toàn cầu, với xuất khẩu sang Hoa Kỳ, Pháp và Đức. Hàng nghìn người dân làng bị đưa xuống mỏ làm việc trong điều kiện tồi tệ, khai thác hơn 4.000 tấn trong vòng ba năm. Tất cả các mặt hàng này đều được buôn lậu qua biên giới Soviet, kèm theo một thị trường tiền tệ song song phát triển mạnh mẽ. Thậm chí còn có một thỏa thuận được ký kết với Chen Jitang (Trần Tế Đường 陳濟棠), người trở thành thống đốc Quảng Đông vào năm 1931. Chen là một nhà cải cách, đã trải nhựa đường, thành lập trường học và xây dựng nhà máy, tất cả đều đòi hỏi nguồn vốn. Ông đồng ý nhận vonfram đổi lấy muối và các nhu yếu phẩm khác. 14
Toàn bộ nền kinh tế phải chịu đựng sự phong tỏa kinh tế do quân đội chính phủ áp đặt. Nhưng ngay cả khi không có những hạn chế này, hàng hóa vẫn có xu hướng rời khỏi khu vực Soviet hơn là vào đó. Bên cạnh việc đánh thuế nặng nề và tịch thu tùy tiện, cách nhanh nhất để đảm bảo của cải chảy ra khỏi khu vực chính là tiền giấy được in tại Ruijin. Tình trạng khan hiếm ngày càng trầm trọng của các mặt hàng thiết yếu đã góp phần vào dòng chảy ra này. 15
Một chính quyền thiếu thốn tài chính đã sớm áp đặt trái phiếu chiến tranh lên dân chúng nghèo khổ. Các đợt phát hành với số lượng nhỏ được thực hiện vào tháng 8 và tháng 12 năm 1932, tiếp theo là một đợt lớn hơn nhiều trị giá 3 triệu nhân dân tệ vào tháng 8 năm 1933, đáo hạn sau bảy năm. Mặc dù ít ai kỳ vọng chế độ này sẽ tồn tại lâu đến vậy, nhưng người dân làng hầu như không có lựa chọn nào khác ngoài việc cam kết mua trái phiếu. Các trái phiếu được phân bổ đều cho các huyện, các huyện này lại giao chỉ tiêu cho từng thị trấn, và các thị trấn tiếp tục áp đặt đều đặn lên các làng. Khi những người dân làng hoang phí vẫn từ chối, các cuộc họp đại chúng được tổ chức thêm, tiếp theo là các chuyến thăm nhà đến những đối tượng ngoan cố. Vài tháng sau, ở một số khu vực, các cán bộ buộc người mua phải trả lại trái phiếu, tước đoạt cả gốc lẫn lãi của họ. 16
Suốt thời gian đó, người dân làng phải tham gia các cuộc họp đại chúng, với việc tham dự là bắt buộc. Trung bình, các cuộc họp này chiếm năm ngày mỗi tháng. Các phiên tòa biểu diễn diễn ra thường xuyên, trong đó những “địa chủ” hoặc “nông dân giàu có” bị xử tử. Cuộc thanh trừng nhằm vào các phần tử được cho là thuộc phe AB đã giảm bớt nhưng không bao giờ chấm dứt, với thêm nhiều phiên tòa biểu diễn và các vụ xử tử. Trong mọi hoàn cảnh, bất kỳ ai từ chối tuân theo chỉ thị của Soviet đều đối mặt với nguy cơ bị cáo buộc là phản cách mạng. 17
Lao động, cũng giống như nền kinh tế, chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của bộ máy chiến tranh. Những người đàn ông từ 40 tuổi trở xuống bị tuyển mộ vào quân đội hoặc bị cưỡng bức làm lao động nghĩa vụ. “Người dân làng không muốn gia nhập Hồng Quân, nên chính quyền Soviet dùng dây thừng để bắt họ,” một báo cáo cho biết. Tại thị trấn Changnang, 320 nam giới đã bị tuyển mộ từ tổng số 1.784 người dân địa phương, có nghĩa là trên thực tế, phần lớn công việc đều do phụ nữ và người cao tuổi đảm nhận. Tại Caixi, một thị trấn khác được Đảng Cộng sản điều tra, khoảng 485 trong số 554 nam giới từ 16 đến 55 tuổi đã gia nhập Hồng Quân, khiến nam giới chỉ thực hiện được 11% tổng khối lượng công việc trên đồng ruộng. Đến năm 1933, tình trạng thiếu hụt lương thực, nếu không muốn nói là nạn đói trầm trọng, đã trở nên rõ rệt khắp mọi nơi. 18
Hồng Quân có 70.000 binh sĩ mặc quân phục, được trả lương đầy đủ, nhưng cũng có một Lực lượng Vệ binh Đỏ lên tới 100.000 người, gồm những tân binh trang bị kém và chưa qua huấn luyện, không có quân phục, ở độ tuổi từ 15 đến 20, và thường xuyên bị sử dụng như “thịt băm”, được gửi vào để quấy rối hai cánh của địch hoặc đi trước các binh sĩ chính quy và bị thảm sát. Dù tuyển mộ bao nhiêu đi chăng nữa cũng không thể đáp ứng được nhu cầu vô độ của quân đội đối với cả binh lính đỏ lẫn Vệ Binh Đỏ. Ngay cả sau khi thành lập Cộng hòa Soviet, những người Cộng sản vẫn không từ bỏ ý tưởng rằng có thể chiếm được các thành phố và giành được “chiến thắng ban đầu của cách mạng” tại “một hoặc nhiều tỉnh”. Dường như không màng đến những thảm họa trong quá khứ, vào tháng 1 năm 1932, Ban Chấp hành Trung ương đã thúc giục tấn công Nam Xương, Fuzhou hoặc Ji’an. Kế hoạch này bị bỏ qua để nhắm vào một mục tiêu dễ dàng hơn, cụ thể là Cán Châu. Mao và Chu phản đối, nhưng họ thuộc thiểu số. Trong năm 1932, Ganzhou (Cám Châu 赣州) đã bị tấn công bốn lần. Vào tháng 3, thành phố bị “pháo kích bằng các loại vũ khí mà họ [các nhà Cộng sản] có”, trước khi họ bắt đầu đào hầm dưới các cổng thành để đặt chất nổ. Khi một khe hở được tạo ra, các binh sĩ ồ ạt xông lên, chỉ để phát hiện mình bị kẹt trong một lối đi hẹp, rồi bị súng máy quét sạch. Dù vậy, họ vẫn tiếp tục xông lên. Ngay cả sau khi lực lượng tiếp viện đến, các cuộc tấn công của phe Cộng sản vẫn tiếp diễn. 19
Các thị trấn nhỏ cũng trở thành mục tiêu, vì một lý do đơn giản: với dân chúng bị khủng bố và nền kinh tế đang lao dốc, chế độ buộc phải cướp bóc bên ngoài lãnh thổ của mình. Lực lượng Hồng Quân liên tục tiến hành các cuộc đột kích vào tỉnh Phúc Kiến lân cận, rút lui với lương thực, muối, đạn dược và trái cây. “Dường như không thể có kết thúc nào dưới điều kiện hiện tại,” một nhà báo chỉ ra, bởi vì phe Cộng sản sẽ thua một trận chiến chỉ để lập tức chuyển sang trận khác, “quét sạch vùng nông thôn trên đường đi”. Một khi đã thu được đủ lương thực, họ rút về căn cứ Soviet, chỉ để lại đột kích khi cơn đói trỗi dậy. Vì quân chính phủ không thể luôn có mặt ở mọi nơi, lợi thế nghiêng về phía các chiến binh du kích. 20
Việc phá hủy cơ sở hạ tầng trên diện rộng là một phần trong chiến lược của phe Cộng sản. Khi có thể, chẳng hạn như tại Xinfeng (Tân Phong 新豐) vào tháng 5 năm 1930, họ đã phá hủy các bức tường thành và đốt cháy các cổng bảo vệ trụ sở huyện, nhằm giảm thiểu chi phí cho một cuộc tấn công trong tương lai. Ngay cả trong các khu Soviet, những bức tường cổ bao quanh các thị trấn chợ cũng bị san phẳng. Chúng không chỉ là biểu tượng của trật tự phong kiến cần phải xóa bỏ, mà các thị trấn còn phải đảm bảo lối vào thông thoáng cho Hồng Quân. Tương tự, trong khi phần lớn đất nước đang hối hả xây dựng những con đường hiện đại, phe Cộng sản lại phá hủy chúng. Các chiến binh du kích đi bộ dọc theo những con đường mòn qua thung lũng và núi non, trong khi những con đường có thể mời gọi sự xâm lược của quân đội chính phủ. Như nhà báo Gerald Yorke đã quan sát vào năm 1933, những con đường chấm dứt chính xác tại điểm mà người ta bước vào lãnh thổ đỏ. 21
Người ta đã nỗ lực trang bị cho Soviet những yếu tố cần thiết của một nhà nước hiện đại. Tất cả các tờ báo đều bị cấm, thay vào đó là các ấn phẩm của Đảng, chủ yếu là “Trung Quốc Đỏ” và “Cuộc đấu tranh”, mỗi tờ có lượng phát hành từ 27.000 đến 40.000 bản. Nhà máy đúc tiền là cơ sở thiết yếu, cũng như kho vũ khí và học viện quân sự. Các trường học hiện có bị tiếp quản và các trường mới được thành lập, với 3.000 trường tiểu học Lenin dành cho trẻ em. Đại học Karl Marx được thành lập. Trên giấy tờ, trong một thế giới phức tạp được xây dựng không mệt mỏi bằng các khẩu hiệu và tuyên bố, phụ nữ được giải phóng và được gửi đến trường. “Bất cứ ai đến thăm các khu vực Soviet của chúng tôi sẽ ngay lập tức nhận ra đây là một thế giới hoàn toàn mới của tự do và ánh sáng,” trái ngược với những “địa ngục tăm tối” đang hoành hành bên ngoài Soviet Giang Tây. Các bệnh viện, giữa bối cảnh chiến tranh liên miên, là thiết yếu, mặc dù chính ban lãnh đạo chủ yếu dựa vào một bệnh viện cũ của các nhà truyền giáo ở Định Châu (Dingzhou), đã được tháo dỡ và chuyển đến Ruijin vào năm 1933. Thực tế là những yêu cầu của chiến tranh liên miên đã cạn kiệt mọi nguồn lực con người và vật chất, khiến giáo dục, tiêu chuẩn y tế và thậm chí những nhu cầu cơ bản như thực phẩm, chỗ ở và quần áo bị coi là có thể tạm thời gác lại, ít nhất là cho đến khi tương lai của cuộc cách mạng được đảm bảo. Mục tiêu cuối cùng, luôn lấp lánh phía trước như một ngôi sao dẫn đường, đã biện minh cho mọi phương tiện. 22
***
Soviet Giang Tây do Hồng quân Thứ nhất kiểm soát, trong khi hai quân đoàn khác thống trị các Soviet quan trọng ở những nơi khác. Tại Hồ Nam và Tây Hồ Bắc, Hạ Long chỉ huy Hồng quân Thứ hai. Hồng Quân Thứ Tư đóng quân tại dãy núi Dabie phía đông Vũ Hán, trên biên giới giữa Hồ Bắc, Hà Nam và An Huy. Ngoài ba Soviet này, còn có một số khu vực nhỏ lẻ ở Quảng Đông, đặc biệt dọc theo sông Đông Giang và trên đảo Hải Nam, nhưng những khu vực này đã tan rã vào cuối năm 1931, dưới áp lực từ Thống đốc tỉnh mới Chen Jitang. 23
Khi tập trung sự chú ý vào các khu Soviet, người ta dễ dàng bỏ qua thực tế rằng những vùng lãnh thổ rộng lớn hầu như không có đảng viên Cộng sản nào. Tại tỉnh Thiểm Tây, nơi Mao và các đồng chí của ông sẽ đến sau một hành trình gian khổ vài năm sau đó, vào tháng 9 năm 1927, Đảng chỉ có 2.177 đảng viên trong tổng dân số 12 triệu người. Đến năm 1930, ủy ban tỉnh được mô tả là “không hoạt động”. Hai năm sau, khi 2.000 du kích hành quân hàng trăm kilômét qua tỉnh này, họ không tìm thấy một ngôi làng nào có đảng viên Đảng Cộng sản. Nơi đây quả thực không phải là “cái nôi của cách mạng”. 24
Tại Hà Nam, một tỉnh có mật độ dân số cao với những đồng bằng màu mỡ dọc theo sông Hoàng Hà, Ban Chấp hành Tỉnh ủy đã báo cáo tổng số 155 đảng viên vào tháng 4 năm 1930. Tình hình không có dấu hiệu cải thiện. Một năm sau, Ban Chấp hành Tỉnh ủy chỉ ra rằng “tại thời điểm này, vấn đề tổ chức cấp bách nhất trong tỉnh là sự vắng mặt của ngay cả một chi bộ Đảng hoạt động được”. Mọi nỗ lực của Đảng đều không có “bất kỳ ảnh hưởng nào đến dân chúng”, ngoại trừ một chục chiến sĩ du kích ở Linying (Lâm dĩnh 临颍), những người “bắt cóc người dân như bọn cướp”. Tại tỉnh Hà Bắc lân cận, giáp ranh cả Thiên Tân và Bắc Kinh, Đảng hầu như không hoạt động, với phần lớn các hoạt động bị bỏ dở ở nhiều vùng nông thôn. Riêng tại Thiên Tân – đối thủ thương mại của Thượng Hải với hàng triệu công nhân nhà máy – vào năm 1932, “Ban Chấp hành Thành ủy không phân phát một tờ rơi nào, không treo một khẩu hiệu nào hay gửi bất kỳ tài liệu tuyên truyền nào đến bất kỳ nhà máy, xưởng sản xuất hay ký túc xá nào.” 25
Tại Chiết Giang, một tỉnh ven biển giàu có cách xa tỉnh Thiểm Tây ở nội địa, chiến dịch đàn áp Đảng Cộng sản Trung Quốc đã khiến số đảng viên giảm từ 2.600 xuống còn 1.563 trong những tháng sau tháng 4 năm 1927, với vài trăm người vẫn còn bị giam giữ trong tù, chưa kể những người đã ly khai. Phần lớn đã được thả vào năm 1928. Đến năm 1932, Đảng đã suy yếu đến mức cả “giai cấp vô sản” lẫn “nông dân” đều coi những người Cộng sản chẳng khác gì bọn cướp. Trên toàn tỉnh Sơn Đông vào năm 1932, Đảng chỉ còn chưa đến hai mươi phụ nữ, phần lớn là sinh viên. “Chúng ta tổ chức kém,” ban tỉnh ủy kết luận ngắn gọn. 26
Thực tế là Đảng chỉ phát triển mạnh ở những nơi mà họ tạo ra được điều kiện khốn cùng tột độ, trước tiên thông qua cướp bóc và tàn phá, sau đó bằng cách kích động thêm các hành động tàn phá từ phía quân đội chính phủ được cử đến đàn áp họ. Chính phe Quốc dân đảng đã gieo mầm mống cho bạo lực này, đặc biệt là trong Chiến dịch Bắc tiến được tiến hành cùng với Đảng Cộng sản trước tháng 4 năm 1927. Một trong những khu vực đó là Vũ Hán và vùng nông thôn lân cận ở Hồ Bắc, nơi Borodin từng thống trị tuyệt đối. Năm 1926, khắp nơi đều có những đoàn tàu với toa xe được trang bị đặc biệt dành cho thanh niên nam nữ, phân phát áp phích, hô khẩu hiệu, tổ chức diễu hành và thành lập ban chấp hành chính trị cùng với công đoàn lao động, hội sinh viên và hiệp hội nông dân ở mọi thị trấn và làng mạc. Càng củng cố vị thế, họ càng trở nên quyết liệt và cực đoan hơn, và ngược lại, phản ứng bạo lực từ những nạn nhân của cuộc cách mạng càng gia tăng khi quân đội rút đi hoặc chuyển sang phe đối lập. Sau ngày 15 tháng 7 năm 1927, khi phe Quốc dân đảng tại Vũ Hán công nhận Tưởng Giới Thạch và thủ đô Nam Kinh của ông, quan hệ với Đảng Cộng sản bị cắt đứt. Tuy nhiên, phải đến khi tất cả người Nga rời đi vào cuối năm đó, các vụ hành quyết mới được đẩy mạnh. Trong tuần sau khi Nam Kinh cắt đứt quan hệ với Moscow vào ngày 14 tháng 12, các thành phố Hankou, Wuchang và Hanyang thuộc Vũ Hán, lo sợ một cuộc đảo chính theo kiểu mà Đảng Cộng sản đã thực hiện tại Quảng Châu, đã giết hàng chục người bị nghi là đảng viên. Các vụ bắt giữ và hành quyết tiếp diễn hàng ngày trong những tháng tiếp theo, đặc biệt là khi những người tị nạn mang tin về sự tàn phá của Leiyang và các thành phố khác ở Hồ Nam. Vào cuối tháng 3, tờ North-China Herald thống kê có 56 vụ hành quyết chỉ riêng tại Hankou trong vòng sáu ngày. Bản thân Ban chấp hành tỉnh Ủy ước tính rằng từ ngày 5 tháng 3 đến ngày 25 tháng 4 năm 1928, trung bình mỗi ngày có sáu người bị hành quyết tại Vũ Hán. 27
Bạo lực leo thang lên mức độ nghiêm trọng hơn ở nông thôn, khi cả lực lượng cách mạng lẫn chính phủ đều phải dùng đến những biện pháp đàn áp ngày càng cực đoan, bị cuốn vào vòng xoáy giết chóc và đốt phá. Ngay cả trước khi Vũ Hán quay lưng lại với Đảng Cộng sản, Ngô Bội Phu (Wu Peifu) – vị tướng miền Bắc từng lấy thành phố này làm cứ điểm trước khi bị đánh bại vào tháng 10 năm 1926 – đã đàn áp các hiệp hội nông dân bất cứ khi nào có thể. Sau đó, khi không có quân chính phủ, các quan huyện địa phương đã thuê bọn cướp để tiêu diệt những người Cộng sản, giống như cách mà những người Cộng sản đã tuyển mộ bọn cướp. Bọn cướp sử dụng các phương pháp của bọn cướp, chém đầu, mổ bụng, thiêu sống hoặc xử lý theo cách khác đối với những người bị nghi là lãnh đạo Cộng sản. 28
Trong những năm tiếp theo, khi Hạ Long hoành hành khắp Hồ Nam và Hồ Bắc, cố gắng áp đặt chủ nghĩa cộng sản bằng lửa và gươm, cả các huyện đều chìm trong biển máu. Hạ Long, giống như Mao Trạch Đông và Chu Đức, cuối cùng buộc phải rút lui vào núi, thành lập một chính quyền Soviet tại Hefeng (Hạc Phong 鹤峰) vào ngày 13 tháng 1 năm 1929 với chỉ một nghìn người theo. Trong ba năm tiếp theo, chính quyền Soviet dần mở rộng phạm vi ảnh hưởng sang các huyện Cili (Từ Lợi 慈利), Shimen (Thạch Môn 石門), Badong (Ba Đông 巴东), Enshi (Ân Thi 恩) và các huyện khác, lan xuống đồng bằng cho đến khu vực Hồ Đỏ ở phía đông, và dọc theo sông Dương Tử giữa Trường Sa và Vũ Hán.
Mối quan tâm hàng đầu của Hạ Long là sự tồn tại, điều này có nghĩa là phải tuyển mộ thêm binh lính. Bản thân là một tên cướp, ông không ngần ngại chiêu mộ thêm các tên cướp vào hàng ngũ của mình, bao gồm cả các đơn vị tự vệ được tuyển mộ để chống lại các thu thuế viên và các hội anh em thề nguyền đang hoành hành trong khu vực. Giống như tại Soviet Giang Tây, nam giới địa phương bị ép buộc nhập ngũ, với chỉ tiêu được đặt ra cao đến mức vào năm 1931, ngay cả những người không đủ sức khỏe cũng bị tuyển mộ. Suốt thời gian đó, người ta có thể thấy các gia đình gõ cửa chính quyền Soviet để đòi trả lại những người đàn ông của họ. Họ nêu bật một vấn đề khiến mọi Soviet đều đau đầu: “Không ai sẽ chăm sóc ruộng đồng một khi họ đã bị tuyển mộ!” họ than phiền. Ở nhiều vùng nông thôn – Jianli (Giám Lợi 监利), Shishou (Thạch Thủ 石首), Huarong (Hoa Dung 華容), Mianyang (Miên Dương 綿陽)– sản lượng lúa gạo sụt giảm nghiêm trọng ngay cả khi việc tuyển mộ tăng vọt. 29
Việc phân phối đất đai được thiết kế để giải phóng sức lao động, nhưng không diễn ra như kế hoạch. Chẳng bao lâu sau, không chỉ những “địa chủ” và “nông dân giàu” bị kết án là phản cách mạng, mà ngay cả những người được mô tả là “nông dân trung bình” cũng bị như vậy. Tại Jianli, cũng như ở nhiều nơi khác, “nông dân giàu” được định nghĩa là người “có thu nhập hàng năm vượt quá chi tiêu”, “nông dân trung bình” là người có thu nhập hàng năm chỉ đủ trang trải chi phí cho gia đình, và “nông dân nghèo” là người có thu nhập không đủ, buộc phải bán sức lao động để nuôi sống gia đình. Vì ở huyện Jianli, “nông dân trung lưu” chiếm 80% tổng số nông dân, nên nhiều người đã “bỏ phiếu bằng chân.” Những người bị coi là “địa chủ” thỉnh thoảng bị treo lên và tra tấn để buộc họ tiết lộ nơi cất giấu tài sản. Khắp nơi, nam giới bị động viên vào quân đội hoặc bị bắt đi làm việc, trong khi phụ nữ được huy động vào các đơn vị đặc biệt, giặt giũ, vá quần áo hoặc làm giày cho binh lính. Nhiều cánh đồng bị bỏ hoang. 30
Năm 1930, chính quyền Soviet đã cố gắng xây dựng một nền kinh tế hoàn toàn tự cung tự cấp. Người dân làng bị cấm bán sản phẩm của mình tại chợ, và thay vào đó buộc phải giao nộp chúng cho các “trạm vận chuyển” đặc biệt, được chỉ định để giám sát mọi hoạt động trao đổi thương mại giữa các khu vực “đỏ” và “trắng”. Các phiếu tín dụng được in ra và áp đặt dưới sự đe dọa của súng. Người dân làng vẫn từ chối sử dụng chúng, dẫn đến tình trạng mua sắm hoảng loạn các mặt hàng thiết yếu, đặc biệt là muối, than và dầu. Mỗi đồng nhân dân tệ do chính quyền Soviet in ra được cho là tương đương với một đồng nhân dân tệ in bên ngoài khu vực này, nhưng đến năm 1932, tỷ giá hối đoái trên thị trường chợ đen đã lên tới 1 đổi 10. Chính quyền Soviet cố gắng huy động vốn bằng cách áp đặt một loạt các loại thuế và phụ thu, bao gồm “phí hỗ trợ lẫn nhau”, “phí ủng hộ Đảng Cộng sản” và thậm chí cả “phí tất và giày”. Trái phiếu được bán ra, ép buộc người dân phải mua, nhưng có một chiêu trò: ở một số nơi, các chứng chỉ trái phiếu không bao giờ được phát cho người dân mà thay vào đó bị bán đi bán lại nhiều lần. Đến cuối năm 1932, chính quyền Soviet đã phải dùng đến việc bắt giữ người dân để tống tiền, đôi khi lên đến chục người mỗi huyện. “Cơ quan tư pháp đã trở thành trung tâm bắt cóc,” có người nhận xét. Những ai bất mãn với tình hình đều bị “buộc tội là phản cách mạng và bị tra tấn, giam cầm”, theo lời Deng Zhongxia (Đặng Trung Hạ 邓中夏), chính ủy của Hồng Quân Thứ Hai do Hạ Long chỉ huy. Giống như ở bất kỳ khu vực nào dưới sự kiểm soát của Đảng Cộng sản, không có giải pháp nửa vời: người ta hoặc tham gia vào cuộc cách mạng, hoặc bị coi là chống đối. 31
Các cửa hàng tập thể được thành lập, bán nhiều loại hàng hóa với giá rẻ hơn so với các cửa hàng thông thường. Đảng viên và cán bộ địa phương là những người sử dụng chính. “Họ đến lấy hàng nhưng không trả tiền,” theo một báo cáo, trong khi người dân thường phải xếp hàng dài, đôi khi suốt nhiều ngày liền. Khi hết hàng, các cửa hàng tập thể lại mua hàng từ các cửa hàng thông thường, gây ra thâm hụt lớn hơn cũng như lạm phát. “Kết quả là nhiều mặt hàng thiết yếu như muối, đường, giấy, vải, dụng cụ và thậm chí cả ngũ cốc đều thiếu hụt.” Tất cả các hợp tác xã đều được cứu trợ và đóng cửa sau một mùa vụ. Các đảng viên chuyển sang mua sắm tại các cửa hàng thông thường, lợi dụng địa vị của mình để mua hàng trả sau dù ít ai thanh toán hóa đơn. 32
Các cuộc đột kích thường xuyên được tiến hành vào các vùng lân cận để cứu vãn nền kinh tế đang suy sụp. Ở một số khu vực giáp ranh, từng hạt ngũ cốc hay mảnh vải đều bị thu giữ. Ngay cả người dân thường cũng được phép tham gia các cuộc cướp bóc, nghĩa là người dân làng được khuyến khích chiến đấu với chính những người dân làng khác. “Chúng tôi đã cử nông dân của mình đến các khu vực ‘trắng’, chúng tôi cướp bóc tài nguyên của họ, đó là một sai lầm, chúng tôi giống như những kẻ thực dân,” một báo cáo tiết lộ. Vì những người Cộng sản, theo chính lời thừa nhận của họ, “thường đốt phá và giết chóc mọi thứ trong các khu vực ‘trắng’”, nên kết quả là ở một số vùng của Soviet, biên giới trở nên hoang tàn, làm trầm trọng thêm tình trạng cản trở thương mại. 33
Trận lũ lụt tàn khốc vào mùa hè năm 1931 càng làm suy yếu thêm Soviet. Nước bùn chết chóc tràn ngập khắp nơi, nhưng tác động của nó lại rất khác nhau. Không ai chạy trốn vào vùng đỏ, nhưng một dòng người tị nạn rách rưới liên tục đổ ra, bao gồm không chỉ những người đàn ông, phụ nữ và trẻ em bình thường mà còn hơn một nửa tổng số đảng viên, khiến số lượng đảng viên giảm mạnh từ 30.000 xuống còn 13.000. Toàn bộ khu vực xung quanh Hồ Đỏ, nơi có các cơ sở của Soviet được thiết lập trên nhiều hòn đảo, đã phải bị bỏ hoang vào năm 1932, buộc người dân phải trở về những ngôi làng vắng vẻ của họ với sự giúp đỡ của Ủy ban Cứu trợ Lũ lụt. 34
Ban Chấp hành Trung ương đã cử Xia Xi (Hạ Hy 夏曦), một trong những “người Bolshevik” từ Moscow từng tháp tùng Wang Ming trở về Thượng Hải vào năm 1929, đến để giải cứu. Wang Ming giờ đây hy vọng sẽ siết chặt kiểm soát đối với Soviet Hồ Nam và Tây Hồ Bắc. Xia, một người đàn ông có vẻ ngoài đáng sợ, nhìn thấy kẻ thù của Đảng ở khắp mọi nơi, dường như tin rằng chính mình mới là người Bolshevik chân chính duy nhất. Chỉ có một cuộc thanh trừng triệt để, ông ta nghĩ, mới có thể cứu Soviet khỏi sự diệt vong. Các phần tử AB đang ẩn nấp khắp nơi, cùng với một loạt các phần tử phản cách mạng khác, đứng đầu trong số đó là những người theo Trotsky. Trong một cuộc thanh trừng kinh hoàng, Xia Xi đã loại bỏ được rất nhiều người. “Một số lượng đáng kinh ngạc các đảng viên Đảng Cộng sản và Đoàn Thanh niên Cộng sản đã bị xử tử,” một đảng viên Đảng Cộng sản sau này khẳng định. Xiao Ke (Tiêu Khắc 蕭克), một tướng quân sẽ gia nhập phe Hạ Long vài năm sau đó, ước tính rằng cuộc thanh trừng đã tàn phá nghiêm trọng lực lượng quân đội, khiến số lượng giảm từ 20.000 xuống còn khoảng 4.000. “Chúng tôi bắt bừa bãi, tra tấn bừa bãi và giết người bừa bãi,” một báo cáo khi đó khẳng định. Kết quả, theo báo cáo này, là một dân chúng sống trong nỗi sợ hãi triền miên. Đến năm 1933, Hạ Long buộc phải rút lui về tận Sangzhi (Tang Thực 桑植), huyện quê hương từng là căn cứ của ông nhiều năm trước. 35
***
Hồng Quân Thứ Tư đóng quân tại dãy núi Dabie (Đại Biệt 大别), cách Vũ Hán 50 km về phía đông bắc. Khu vực này nằm trên địa phận của ba tỉnh Hồ Bắc, Hà Nam và An Huy. Trung tâm của cái gọi là Soviet Hồ Bắc–Hà Nam–An Huy là Macheng (Ma Thành 麻城), một thị trấn huyện nằm giữa những ngọn đồi xanh tươi dẫn đến những dãy núi rậm rạp. Con đường chính băng qua dãy núi này chạy từ Macheng về phía bắc đến thung lũng sông Huai ở Hà Nam, đi qua một số đèo hùng vĩ.
Tại Macheng, hạt giống của Soviet được gieo trồng vào năm 1925 bởi một nhà cách mạng trẻ tên là Dong Biwu (Đổng Tất Vũ 董必武). Sinh ra tại thị trấn lân cận Huang’an (Hồng An 红安), Đổng đã gia nhập Đồng Minh Hội của Tôn Trung Sơn – tiền thân của Quốc Dân Đảng – và tham gia Cách mạng 1911 tại Vũ Xương trước khi chuyển sang chủ nghĩa cộng sản trong thời gian sống tại Thượng Hải vào năm 1919–1920. Ông trở về Hồ Bắc vào năm 1921 để thành lập một chi bộ địa phương, thu hút hàng chục thanh niên gia nhập tại Macheng. Họ tuyên truyền lý tưởng, hoạt động dưới vỏ bọc là kinh doanh hiệu sách hoặc xuất bản báo chí. Vài năm sau, các đặc vụ tiền trạm của Quốc Dân Đảng đến khu vực này để thành lập các công đoàn lao động và hiệp hội nông dân. Vào mùa đông năm 1926–1927, được thúc đẩy bởi các thanh niên cấp tiến, các thành viên của các hiệp hội nông dân bắt đầu tấn công các quan chức địa phương, chặt đầu họ trong các cuộc mít tinh tố cáo quy mô lớn. Sau thất bại của Cuộc nổi dậy Nam Xương vào tháng 8 năm 1927, các nhóm nhỏ phiến quân bắt đầu đổ về khu vực này, thành công trong việc chiếm Huang’an và thành lập một chính quyền Soviet tạm thời vào tháng 11 cùng năm. Họ tiến hành giết khoảng một nghìn kẻ thù, đốt nhà cửa và tịch thu tài sản của giới giàu có, nhưng sau vài tuần, quân chính phủ ưu thế đã đánh bại họ. 36
Trong nhiều năm, các nhóm du kích rách rưới lang thang khắp khu vực, thiết lập căn cứ trước khi bị đàn áp dữ dội buộc phải rút sâu hơn vào núi. Giống như các đảng viên Cộng sản ở nơi khác, họ tổ chức một loạt cuộc nổi dậy, cướp bóc để sinh tồn, đòi tiền chuộc từ giới giàu có, xử tử các nhân vật có thế lực địa phương, thỉnh thoảng tiêu diệt toàn bộ các làng của kẻ thù. Và giống như những người Cộng sản ở nơi khác, họ bị cuốn vào một vòng luẩn quẩn vô tận của sự trả thù, chiến đấu để giành quyền kiểm soát với lực lượng dân quân địa phương hoặc quân chính phủ. Kết quả là, trên những vùng lãnh thổ rộng lớn trải dài qua nhiều huyện, đã xảy ra “sự tàn phá kinh tế, đặc biệt là ở các khu vực đỏ, với quy mô thực sự kinh hoàng”, như một báo cáo đã mô tả. Tại Huang’an, nơi từng là lãnh địa của họ, “những kẻ phản cách mạng đến và đốt phá, những người cách mạng đến và đốt phá tiếp theo, dẫn đến khoảng ba phần tư số nhà đã bị thiêu rụi gần đây, với cả những ngôi làng bị biến thành đống đổ nát.” Người dân làng “thậm chí không dám dựng một túp lều rơm, vì họ lo sợ nó có thể bị đốt cháy lại chỉ trong vài ngày”. Thỉnh thoảng, vài gia đình phải chen chúc nhau trong những tàn tích cháy đen của một ngôi nhà duy nhất. Vài tháng sau, vào tháng 12 năm 1929, một báo cáo khác diễn đạt điều này theo cách khác: “Đảng đã giết người một cách vô cớ. Trong hai năm qua, họ đã đốt nhiều ngôi nhà và giết rất nhiều người không phải là địa chủ… Một số đảng viên đã ngoại tình, gây ra sự bất mãn trong dân chúng.” 37
Bên cạnh nỗi khổ cực, những người Cộng sản còn để lại thông điệp về sự thay đổi thông qua cách mạng, cũng như các thành viên hoạt động bí mật trong tổ chức của họ, đặt nền móng cho chính quyền Soviet được thành lập vào tháng 2 năm 1930. Tuy nhiên, ngay cả vào thời điểm đó, họ cũng chỉ có chưa đến 2.000 người theo. Đó là những tên cướp địa phương và những người lính đã giải ngũ, mặc dù phần lớn được tuyển mộ thông qua các mối quan hệ cá nhân, dù là thành viên cùng dòng họ hay bạn bè trong gia đình, tạo nên những liên kết xã hội chặt chẽ trên toàn khu vực. Rất ít cán bộ có kiến thức sơ lược về chủ nghĩa Marx. Thực tế, nhiều người trong số họ mù chữ, và một số thành viên còn tin rằng “Soviet” là tên của một nhà lãnh đạo Đảng quan trọng nhưng bí ẩn. 38
Soviet hoạt động không hiệu quả. Năm 1930, đất đai được phân phối, nhưng các thửa đất quá nhỏ nên năng suất ngay lập tức sụt giảm. Người dân trong làng thiếu động lực, và lý do luôn giống nhau: họ biết rằng phần thặng dư họ sản xuất ra sẽ bị tịch thu. Còn một yếu tố khác, phổ biến ở tất cả các khu vực do Đảng Cộng sản quản lý: “Họ sợ bị xếp vào hạng nông dân giàu. Họ không muốn sản xuất nhiều hơn. Mỗi khi thấy những nông dân khác đang làm việc, họ lại hỏi: “Anh đang cố trở thành nông dân giàu có à?” Theo định nghĩa của chính quyền Soviet, “nông dân giàu có” là người nông dân thực sự kiếm được một ít tiền, dù số tiền đó có nhỏ đến đâu. Người dân làng không chỉ giấu số tiền ít ỏi họ có ở những nơi kín đáo, mà còn bỏ mặc một phần thu hoạch. ‘Các nông dân trở nên lười biếng.’ Đất canh tác bị bỏ hoang, ngay cả khi dân chúng đang đói khát. Các cán bộ cai trị dân chúng một cách hống hách, từ chối tự mình cày cấy đất đai. ‘Điều đó giống như chế độ nông nô thời phong kiến,’ Zeng Zhongsheng (Tăng Trạch Sanh 曾泽生), người lãnh đạo mới được bổ nhiệm vào tháng 9 năm 1930, nhận xét. 39
Vào tháng 4 năm 1931, Vương Minh cử Trương Quốc Đào (Zhang Guotao) đến Soviet, với hy vọng đưa nơi này vào quỹ đạo. Trương Quốc Đào phát hiện ra 20.000 binh sĩ và 1,8 triệu dân đang phải đối mặt với tình trạng thiếu lương thực trầm trọng. Vào tháng 6, một báo cáo chỉ ra rằng hàng nghìn người không có gì để ăn, nhiều người chết đói, trong đó có một người đã treo cổ tự tử vì tuyệt vọng. Nền kinh tế đã sụp đổ: nam giới bị Hồng Quân Thứ Tư huy động với số lượng lớn, trong khi những người dân làng còn lại bị ép buộc phải làm các công việc khác nhau, phụ nữ phải đan tất và vá giày cho binh lính, trẻ em thì bận rộn đứng gác. Soviet, không thể điều hành nền kinh tế địa phương, đành phải dựa vào các cuộc cướp bóc. Nhưng sau khi vùng nông thôn xung quanh bị cướp bóc nhiều lần, không còn “địa chủ” nào để cướp bóc nữa, buộc các đơn vị cướp bóc phải tịch thu lương thực từ những người nghèo. Như một báo cáo đã đề cập, “điều này khiến dân làng chống đối chúng ta ở các khu vực ‘trắng’.” Một số vấn đề mà chính quyền Soviet gặp phải xuất phát từ chiến dịch bao vây quy mô lớn do quân chính phủ phát động vào tháng 11 năm 1931, nhưng Trương kết luận rằng nguyên nhân chính của những thất bại “dường như nằm ở những khuyết điểm nội tại của phong trào Soviet”. 40
Giải pháp nằm ở việc thanh trừng triệt để ban lãnh đạo. Cuộc thanh trừng ập đến Soviet như một cơn sóng thần, cuốn trôi bất kỳ ai bị cáo buộc làm việc cho kẻ thù. Trong một kịch bản quen thuộc, những người bị nghi ngờ bị thẩm vấn, tra tấn và ép buộc phải tiết lộ tên của những người khác. Số người bị xử tử không rõ ràng. Trong hồi ký được xuất bản khoảng ba mươi năm sau đó, Trương khẳng định rằng 600 người bị bắt giữ, 100 người bị thanh trừng và 40 người bị bắn. Ông đã có phần không thành thật. Bản báo cáo mà chính ông gửi đến Ban Chấp hành Trung ương vào tháng 11 năm 1931 đã tự hào thông báo rằng 2.500 phần tử AB, điệp viên địch, gián điệp, côn đồ, trùm xã hội đen, kẻ nổi loạn, địa chủ, nông dân giàu có và các phần tử phản cách mạng khác ẩn náu trong hàng ngũ đã bị “loại bỏ”, trong đó có 700 đảng viên. Trương là chính ủy của Hồng Quân Thứ Tư. Tư lệnh của quân đội này, Xu Xiangqian (Từ Hướng Tiền 徐向) – một người đàn ông thấp bé, gầy gò và trầm lặng – sau này hồi tưởng trong hồi ký rằng chỉ trong ba tháng năm 1931, đã có tới 2.500 người bị “loại bỏ” khỏi quân đội. Từ ủng hộ Trương, dù sau này ông thừa nhận rằng đa số những người bị thanh trừng là “những chiến binh tài năng, giàu kinh nghiệm, những nhà lãnh đạo có mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng”. Mãi đến năm 1937, ông mới biết rằng chính vợ mình đã bị tố cáo, tra tấn và giết hại với cáo buộc là “phần tử cải tổ”. “Các vụ bắt giữ và hành quyết đều được thực hiện mà không có bất kỳ bằng chứng nào, chỉ dựa trên lời thú tội.” 41
Cuộc thanh trừng đã làm suy yếu quân đội, nhưng vẫn tiếp diễn ngay cả khi quân chính phủ đang bao vây khu Soviet. Đến tháng 8 năm 1932, Trương Quốc Đào và Từ Hướng Tiền quyết định rút khỏi khu vực này, dẫn Hồng Quân Thứ Tư thực hiện cuộc hành quân kéo dài ba tháng đến tỉnh Tứ Xuyên, cách đó một nghìn kilômét về phía tây.
Những người dân họ bỏ lại phía sau phải chịu số phận thảm thương. Đến năm 1933, khi quân chính phủ tiếp tục thực thi phong tỏa, dân làng chỉ còn biết ăn lá cây. Nhiều người chết vì đói, dù không phải ai cũng chờ đến khi chết đói mà đã trốn sang các “vùng trắng” thay vào đó. Các quan chức chính phủ và các nhà truyền giáo đến thăm khu vực này đã phát hiện ra “những ngôi làng hoang vắng, những ngôi nhà bị cháy một nửa, những cánh đồng bỏ hoang” cùng với việc cả những khu vực dân cư bị xóa sổ hoàn toàn. Chính quyền Soviet cuối cùng sụp đổ vào năm 1934, những chiến binh du kích còn lại bị thảm sát. 42
***
“Đi đến Tứ Xuyên khó như lên thiên đàng,” Li Bạch từng viết. Nhà thơ sống vào thế kỷ thứ tám, nhưng câu nói nổi tiếng của ông vẫn được nhắc đến vào những năm 1930. Tỉnh này, rộng bằng nước Pháp, được bao quanh bởi núi non. Tuyến đường nhanh nhất là dọc theo sông Dương Tử, mặc dù ngay cả khi dịch vụ tàu hơi nước hiện đại ra đời, hành trình từ Thượng Hải đến Trùng Khánh, thủ phủ của Tứ Xuyên, vẫn mất nhiều thời gian hơn so với việc băng qua Thái Bình Dương. 43
Các nhà lãnh đạo quân sự rất hài lòng với sự cô lập của tỉnh này, quyết tâm duy trì sự độc lập của lãnh địa mình khỏi chính quyền trung ương, dù là ở Bắc Kinh hay Nam Kinh. Họ cũng rất quyết tâm ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản, đàn áp những người theo chủ nghĩa này một cách tàn nhẫn. Năm 1927, tỉnh này chỉ có không quá 600 đảng viên Đảng Cộng sản. Giống như rất nhiều đảng viên cộng sản khác trên khắp đất nước, họ không thể hình dung ra bất kỳ hình thức hành động chính trị nào khác ngoài những gì được Moscow quy định: “Chúng ta phải ngay lập tức lãnh đạo nông dân nổi dậy vũ trang để tịch thu đất đai và tàn sát tất cả địa chủ địa phương,” tỉnh ủy đã tuyên bố rầm rộ vào tháng 10 năm 1927. Vài tháng sau, họ nhận ra rằng ở tỉnh nông nghiệp chủ yếu này với 48 triệu dân, số “nông dân” sẵn sàng gia nhập Đảng quá ít để có thể khởi xướng ngay cả một cuộc nổi dậy khiêm tốn. Đến năm 1931, sau một loạt cuộc nổi dậy thất bại, số đảng viên vẫn chỉ dừng lại ở mức 1.500. 44
Trương và Từ đến miền bắc Tứ Xuyên cùng 20.000 người theo vào đầu tháng 11 năm 1932, thiết lập một cứ điểm dọc biên giới với Thiểm Tây. Họ mặc quần áo rách rưới, không giày dép, chỉ quấn những mảnh vải vụn quanh chân, trông giống như một đạo quân ăn mày. Thời điểm này thật may mắn, vì hai vị tướng tỉnh đang giao chiến với nhau. Liu Wenhui (Lưu Văn Huy 劉文輝), người coi Thành Đô là lãnh địa riêng của mình, đã bị cô lập bởi liên minh do kẻ thù chính của ông, Liu Xiang (Lưu Tương 劉湘), đứng đầu và có trụ sở tại Trùng Khánh. Mặc dù tỉnh này đã quen với nội chiến, nhưng cuộc chiến diễn ra vô cùng khốc liệt, nhất là khi Liu Xiang sở hữu một đội máy bay và thường xuyên “thả bom cháy nặng 240 pound xuống các thị trấn và thành phố do kẻ thù kiểm soát”. Hồng Quân Thứ Tư đã tận dụng cuộc nội chiến để chiếm đóng Tongjiang (Thông Giang 通江), Bazhong (Ba Trung 巴中), Bazhou (Ba Châu 巴州) và Nanjiang (Nam Giang 南江) – những huyện giàu có nhất trong khu vực. Phần lớn cuộc chinh phục này diễn ra mà không cần nổ súng, vì binh lính địa phương và quan chức huyện đơn giản đã bỏ chạy. Tình hình trông đầy hứa hẹn, với những tiến triển nhanh chóng đang được ghi nhận. Lần này, những người Cộng sản dựa vào sức mạnh của lời nói thay vì gươm đao để giành được sự ủng hộ của dân chúng. Các binh lính cư xử đúng mực, trả tiền cho thực phẩm họ lấy từ các chợ sầm uất và các cửa hàng chất đầy hàng hóa địa phương. “Tuyên truyền là điểm tựa chính của họ và rất nhiều thông tin cùng tài liệu đang được phát tán để thông báo cho người dân về những ân huệ của chủ nghĩa Cộng sản,” tờ North-China Herald đưa tin một cách tích cực. Tại Bazhong, chính Trương Quốc Đào đã hồi tưởng: “Dòng người không dứt” đã đọc các thông báo công khai mà họ dán lên. Họ tổ chức các buổi diễn thuyết công khai về lợi ích của chế độ Soviet. Ngay cả những người khá giả ban đầu cũng hoan nghênh việc bãi bỏ các loại thuế cắt cổ và các biện pháp nghiêm khắc chống lại thuốc phiện. Quân đội cũng triển khai lực lượng một cách chiến lược trên khắp khu vực, hy vọng thu hút những người bất mãn. Theo lời vị lãnh sự Pháp, những kẻ đào ngũ, lang thang, thành phần bất hảo và “các băng cướp lẻ tẻ” đã gia nhập với số lượng khổng lồ, khiến quân số tăng lên 45.000 người. 45
Ban Chấp hành Trung ương tại Ruijin không mấy ấn tượng, lên án việc họ rút quân khỏi Hồ Nam là “chủ nghĩa trốn tránh” và yêu cầu thành lập một chính quyền Soviet. Chiến sự sớm bùng phát trở lại khi Tian Songyao (Điền Tụng Nghiêu田颂尧), quan tổng trấn khu vực được giao nhiệm vụ tiêu diệt những người Cộng sản, đã giành lại quyền kiểm soát một số trung tâm huyện. Tại Tongjiang, nơi được Hồng Quân Thứ Tư tái chiếm từ tay Tian vào tháng 1 năm 1933, nhà thờ và các tòa nhà khác bị phá hủy, các quan chức địa phương bị giết hoặc bị bắt làm con tin để đòi tiền chuộc. Tại Bazhou, một thị trấn nhiều lần đổi chủ, những người Cộng sản đã phá hủy bưu điện, tịch thu lương thực và giết hết các con vật kéo xe, để lại nơi đây ngổn ngang xác chết. Trong một rừng dâu gần khuôn viên nhà truyền giáo, người ta phát hiện 36 hố chôn tập thể, nơi hàng trăm thi thể con người đã bị vứt bỏ một cách vô nhân đạo. Để tài trợ cho việc duy trì quân đội, Hồng Quân Thứ Tư bắt đầu bán chính loại thuốc phiện mà ban đầu họ đã cấm. Các phương thức huy động tiền bạc đã được thử nghiệm khác cũng được áp dụng, bao gồm việc đòi tiền chuộc từ các nhân vật có thế lực và thương gia giàu có địa phương. Những người giàu có bị bắt giữ một cách tùy tiện, tài sản bị tịch thu, vợ con bị bắt đi, nhà cửa bị đốt rụi. Một số người bị bắn với cáo buộc là “ký sinh trùng tư sản” hoặc “loài sâu bọ”. Ngay từ tháng 3, Liu Xiang (Lưu Tương), nhân vật chủ chốt trong tỉnh, đã báo cáo với Tưởng Giới Thạch rằng “vì họ giết người bừa bãi, nên đã mất đi sự ủng hộ của nhân dân.” 46
Để đạt được tự túc kinh tế, chính quyền Soviet đã phát hành tiền tệ riêng và áp đặt kiểm soát giá cả. Một xưởng đúc đồng đã được thành lập tại Tongjiang, thủ phủ của chính quyền Soviet. Ngoài tiền xu, tiền giấy bằng đồng cũng được lưu hành, làm từ vải hoặc giấy. Tỷ giá được ấn định là 30 tờ tiền đồng cho một đô la bạc, nhưng niềm tin vào các tờ tiền này suy giảm nhanh chóng, khi người dân từ mọi tầng lớp bắt đầu bán gạo, lúa mì và vải để đổi lấy đô la bạc, mà họ giấu đi. Sau một năm, giá trị của các tờ tiền đồng đã giảm xuống còn khoảng 250 tờ đổi một đô la. Vốn đầu tư tháo chạy, đổ dồn về Thượng Hải. 47
Chẳng bao lâu sau, các thị trấn thương mại cạn kiệt hàng hóa và người dân. Tình trạng khan hiếm lan rộng. Phe Cộng sản đã làm suy yếu hoạt động thương mại khi họ bắt đầu phá hủy tất cả các con đường xung quanh mọi thị trấn mà họ kiểm soát. Muối trở nên khan hiếm đến mức người ta phải đào cả sàn đất trong các cửa hàng muối cũ để tìm muối. Đàn ông bị buộc phải nhập ngũ, và quân đội tiêu thụ hết lương thực, trong khi sản lượng trên đồng ruộng giảm sút đáng kể vì chỉ còn phụ nữ ở lại canh tác. Nguồn vốn cho nông nghiệp thiếu hụt, do vốn được huy động để tiến hành cuộc chiến phòng thủ. Do đó, các công cụ sản xuất trở nên khan hiếm. Trong khi giới giàu có phải chịu cảnh thiếu thốn, người nghèo lại tỏ ra ít nhiệt tình hơn so với dự kiến ban đầu. Giống như ở mọi nước Soviet, các hợp tác xã được thành lập để khắc phục tình trạng khan hiếm về lao động, vốn và công cụ, với cả những ngôi làng được chia thành các “đội canh tác đất đai”, chủ yếu gồm phụ nữ. Nhưng đối với người nông dân địa phương, dù là nam hay nữ, canh tác tập thể thường có nghĩa là làm việc vì lợi ích của người khác. Nhiều cánh đồng bị bỏ hoang. Hoạt động chính của bất kỳ chính quyền nào, trong quá khứ hay dưới chế độ Soviet, là thu thuế. Trước đây, chính quyền địa phương chỉ có khái niệm mơ hồ về diện tích đất được canh tác và sản lượng thực tế của các cánh đồng. Người dân làng rất giỏi trong việc che giấu những mảnh đất nhỏ, giữ lại một phần thu hoạch hoặc tìm cách gian lận với người thu thuế. Nhưng dưới chế độ Cộng sản, không còn chỗ nào để trốn. Các ủy viên được chỉ định đặc biệt đã lập hồ sơ chi tiết không chỉ về toàn bộ diện tích đất đai mà còn về tất cả các thành viên trong mỗi hộ gia đình, cũng như số lượng gà, cừu, bò, lợn, chó, công cụ và đồ đạc. 48
Vào cuối năm 1934, theo lời của Trương Quốc Đào, Soviet và khu vực xung quanh đã trở thành một “quả chanh bị vắt kiệt nước”. Những tàn phá của chiến tranh đã làm cạn kiệt nguồn lương thực và vật tư của Soviet. Nạn đói đang rình rập, có nghĩa là “quân đội có thể phải tranh giành lương thực với người dân.” 49
***
Tại Ruijin, Soviet Giang Tây cũng phải đối mặt với tình thế tương tự. Bo Gu (Bác Cổ), chàng trai trẻ ham đọc sách, người đã trở thành Bí thư Đảng vào tháng 9 năm 1931, đã đẩy Mao sang một bên. Trong một hội nghị tại Ninh Đô vào tháng 10 năm 1932, Bo Gu và những người theo phe “Bolshevik” của ông trong Ban Chấp hành Trung ương đã chỉ trích phương pháp quân sự của Mao, đặc biệt là sự do dự của ông trong việc chiếm Ganzhou. Đây không phải là lần đầu tiên Mao chọn cách bảo toàn và bồi dưỡng lực lượng thay vì tung quân vào một cuộc tấn công vô vọng nhằm chiếm thành phố chỉ để làm vừa lòng các nhà lãnh đạo ở Moscow. Vì “đường lối cơ hội chủ nghĩa” và “sự do dự” trong việc “chiếm các thành phố lớn”, ông bị buộc phải nghỉ ốm, mất quyền kiểm soát Hồng Quân số 1. Chu Ân Lai thay thế ông làm chính ủy. 50
Vào tháng 2 năm 1933, Mao được điều chuyển sang phụ trách cải cách ruộng đất. Bo Gu và phe “Bolshevik” đã theo đuổi một chính sách thậm chí còn khắc nghiệt hơn đối với những người được gọi là “nông dân giàu” so với chính Mao, nhưng giờ đây họ muốn mở rộng phong trào này hơn nữa, bao gồm cả việc phân tích giai cấp đối với từng người dân làng. Sau Sự kiện Mekden vào tháng 9 năm 1931, quân chính phủ đã rút lui, tạo điều kiện cho Đảng Cộng sản thành lập Soviet Giang Tây. Các lực lượng tỉnh vẫn tiếp tục giao tranh với Hồng Quân Thứ nhất, nhưng sau khoảng thời gian 18 tháng, các đơn vị do chính phủ trung ương tổ chức đã quay trở lại. Họ đã đánh lui cả Hạ Long và Trương Quốc Đào ở miền trung Trung Quốc, và vào tháng 1 năm 1933, họ bắt đầu bao vây Soviet Giang Tây. Bằng cách phát động một chiến dịch phân phối lại đất đai mới, Bác Cổ và các đồng minh của ông hy vọng sẽ phát hiện thêm đất đai và vắt kiệt thêm tài sản từ dân chúng để tài trợ cho nỗ lực chiến tranh. Trong quá trình đó, các “tổ chức phản cách mạng bí mật” cũng như các “lực lượng phong kiến còn sót lại” trước đây bị bỏ qua có thể bị quét sạch, hàng ngũ được thanh lọc một lần và mãi mãi. 51
Vào tháng 2 năm 1933, Hà Ứng Khâm, một lần nữa phụ trách việc chống lại Hồng Quân Thứ nhất, đã tập hợp một lực lượng gồm 400.000 người. Tại Phúc Kiến, Quân đoàn Thứ mười chín, vốn đã chiến đấu kiên cường chống lại người Nhật tại Thượng Hải, đã đánh bại các tàn dư Cộng sản trong tỉnh và buộc họ phải rút lui qua biên giới trở lại Giang Tây. Các đơn vị từ Quảng Đông cũng đã sẵn sàng đàn áp lực lượng Cộng sản, chỉ chờ lệnh động viên. Nhưng một lần nữa, Nhật Bản lại ra tay cứu giúp. Trong vài tuần, các đơn vị thuộc Quân đoàn Quan Đông đã chiếm giữ các vị trí tại Jehol (Nhiệt Hà 熱河), một tỉnh giàu than đá và các khoáng sản khác, trải dài dọc theo Vạn Lý Trường Thành từ phía đông Mông Cổ đến Biển Bột Hải tại Shanhaiguan (Sơn Hải Quan 山海关). Họ phàn nàn rằng Tướng Trẻ Trương Học Lương đã triển khai quân đội của mình trong khu vực này. Khi vào ngày 9 tháng 2, Hội Quốc Liên yêu cầu Nhật Bản làm rõ ý định của mình, Tokyo đã phản bác rằng tỉnh này là một phần không thể tách rời của Mãn Châu. Ngày 18 tháng 2, “Thống chế Trẻ” cam kết sẽ không bao giờ từ bỏ Jehol, nhưng chỉ vài ngày sau, khi bốn đoàn quân Nhật Bản bắt đầu xông vào tỉnh này, quân đội của ông đã tan rã. Ngày 24 tháng 2, một hội nghị quốc tế bàng hoàng im lặng chứng kiến phái đoàn Nhật Bản rời khỏi hội trường tại Geneva, rút khỏi Hội Quốc Liên. Sau khi Trương Học Lương – người đang ốm yếu và nằm liệt giường – từ chức, He Yingqin (Hà Ứng Khâm) được lệnh rời khỏi tổng hành dinh ở Nam Xương để tiếp quản lực lượng của “Thống chế Trẻ”. Quân Nhật, sau khi vượt qua những con đèo núi hẹp xuống đồng bằng miền Bắc Trung Quốc, đã chỉ còn cách Bắc Kinh 20 km và cách Thiên Tân chưa đầy 50 km. “Tiếng súng pháo của họ có thể nghe thấy ở cả hai thành phố lớn đó,” một nhà báo tường thuật. Hà Ứng Khâm triển khai bảy nhóm quân với tổng số 250.000 binh sĩ dọc theo các đèo quan trọng của Vạn Lý Trường Thành, hy vọng ổn định tình hình mà không mở rộng chiến trường. Vào tháng 5, Tưởng Giới Thạch hầu như không còn lựa chọn nào khác ngoài việc ký hiệp định ngừng bắn tại Tanggu (Đường Cô 塘沽), một cảng nhỏ ở cửa sông Hải, ngoại ô Thiên Tân, nhưng trước đó, các đại diện của ông đã phải chờ đợi hàng giờ dưới cái nắng như thiêu đốt trước Lãnh sự quán Nhật Bản. Hiệp định ngừng bắn này đã phi quân sự hóa những vùng đất rộng lớn ở miền Bắc. 52
Việc phân phối lại đất đai tại Soviet Giang Tây vẫn tiếp diễn không ngừng, với lời kêu gọi vào tháng 6 năm 1933 nhằm “nhổ tận gốc” tất cả các “địa chủ” và “nông dân giàu” vốn bị phân loại sai lầm chỉ là “nông dân trung bình” hoặc thậm chí “nông dân nghèo”. Chiến dịch này vô cùng tàn nhẫn, nhất là khi “nông dân giàu” bị cáo buộc giấu lúa gạo, trở thành những con dê tế thần cho nạn đói đang bùng phát. Ở một số khu vực của Soviet, người dân thường phải ăn lá cây và rễ cỏ, trong khi ngay cả binh lính Hồng Quân cũng phải chịu “thiếu hụt nghiêm trọng về lương thực”. Trong những tháng tiếp theo, khoảng 14.600 gia đình bị phân loại lại, dù nhiều hộ trong số đó có hoàn cảnh rất khó khăn. Tuy nhiên, Soviet đã thu được khoản lợi bất ngờ, tính bằng lương thực, tài sản và đất đai. Chỉ riêng số tài sản bị tịch thu và tiền phạt ép buộc từ các gia đình này đã lên tới hơn 600.000 đô la. 53
Đó là một biện pháp tạm thời, và đi kèm với những hậu quả không mong muốn. Trong số đó, như chính Mao đã chỉ ra, nổi bật nhất là việc tước đoạt tài sản của “nông dân giàu” cũng như “xu hướng vi phạm lợi ích của nông dân trung lưu”, với các cuộc tấn công vào các hộ gia đình bình thường diễn ra dữ dội đến mức một số người phải chạy trốn lên núi trong “sự kinh hoàng”. Đó là khởi đầu cho sự sụp đổ dần dần của chính quyền Soviet, do ngày càng nhiều người hoặc chạy trốn sang các khu vực lân cận hoặc quay lưng lại với chế độ. 54
Trong bối cảnh đó, Tưởng Giới Thạch đã khởi xướng một chiến dịch đàn áp khác vào tháng 9 năm 1933, đây là chiến dịch thứ năm của ông tính đến thời điểm đó. Nhưng lần này, ông đã thay đổi chiến thuật, nhận ra rằng chỉ dùng lưỡi lê thôi thì không thể đánh bại được tư tưởng. Một năm trước đó, ông đã đề xuất rằng chính sách nên là “ba phần quân sự và bảy phần chính trị”. Điều này có nghĩa là hiện đại hóa. Một mạng lưới đường bộ rộng lớn được xây dựng, bao gồm các tuyến đường bằng đất nén với lớp phủ sỏi phía trên, được duy trì trong tình trạng tốt bởi các đội chuyên trách, với tỷ lệ lên đến một người cho mỗi kilômét đường. Các kỹ sư của Ủy ban Cứu trợ Đói khát Quốc tế Trung Quốc đã hoàn thành một số tuyến đường chính. Một tuyến đường sắt đang được xây dựng. Các đường dây điện thoại được kéo đến tận các khu vực gần “vùng đỏ”. Lực lượng dân quân địa phương được tái tổ chức, trang bị vũ khí một phần và đặt dưới sự kiểm soát của các quan huyện. Ở cấp cao hơn, Tưởng Giới Thạch đã bổ nhiệm các thống đốc đáng tin cậy vào các tỉnh then chốt, đặc biệt là Giang Tây, do Xiong Shihui (Hùng Thức Huy 熊式輝)– một người đàn ông nhỏ con, nhanh nhẹn và nhiệt tình với cải cách – điều hành. 55
Chiến lược quân sự của Tưởng Giới Thạch đã thay đổi. Thay vì truy đuổi các nhóm du kích qua những vùng núi non rộng lớn, quân đội của ông bắt đầu xây dựng các pháo đài bằng đá đỏ hoặc xám xung quanh khu vực Soviet, mỗi làng có 200 hộ gia đình trở lên sẽ có một pháo đài. Những pháo đài này thường không có người canh gác, mặc dù một số có một cánh nhà để chứa vài binh sĩ, những pháo đài khác có một chòi canh nhô ra. Tất cả đều được bao quanh bởi một hào, có mái vòm cong và một tấm bia khắc chữ treo trên cửa. Các thị trấn đã được tu sửa lại tường thành, đồng thời xây thêm các pháo đài, hào và hàng rào chướng ngại vật ở ngoại ô. Tại Nam Xương, nơi tường thành đã được chuyển đổi thành một đại lộ rộng lớn, một bức tường thành mới đã được xây dựng từ đầu. Các cố vấn quân sự Đức đã được tuyển dụng để giúp triển khai kế hoạch và hoàn thành nó một cách hiệu quả. 56
Tưởng cũng đặt cược vào giáo dục, ra sắc lệnh mở mười hai trường đặc biệt tại mỗi trong số sáu mươi ba huyện thuộc quyền kiểm soát của chính phủ ở Giang Tây. Ba “trường sư phạm dành cho giáo dục nông thôn” đã được khai trương tại tỉnh này, với một trường thứ tư đang trong kế hoạch. Hai trăm sinh viên tốt nghiệp từ các trường này đã đến tư vấn cho người dân làng. Các trại cải tạo dành cho những người Cộng sản bị bắt hoặc đã hối cải cũng được xây dựng. Tại Nam Xương, 5.000 tù nhân được chia thành ba nhóm, mỗi nhóm đeo một loại huy hiệu khác nhau: binh lính đã đầu hàng (huy hiệu màu tím), tù binh chiến tranh (huy hiệu màu xanh lá cây) và tù nhân chính trị (huy hiệu màu đỏ). Các trường học và trại cải tạo, giống như đường sá và các pháo đài, sẽ được mở rộng dần vào các khu vực “đỏ” ngay khi giành lại được lãnh thổ. Các hội tương trợ được khuyến khích, với 1.800 hội được thành lập sau khi Ủy ban Cứu trợ Lũ lụt cho vay 590.000 đô la vào năm 1931 để mua lương thực, gia súc, dụng cụ và hạt giống. Chính quyền tỉnh thành lập thêm 300 hội nữa. Các hợp tác xã tín dụng cũng được thành lập, với lãi suất thấp dành cho thành viên. Một thị trường ngũ cốc ổn định – có lẽ là thách thức lâu dài nhất của nghệ thuật cai trị từ thuở xa xưa – đã được theo đuổi dưới sự bảo trợ của Cục Kiểm soát Thực phẩm, cung cấp cho tỉnh thông tin cần thiết để tham gia thị trường với tư cách là người mua và có thể nâng hoặc ổn định giá cả, thông qua việc mua, vận chuyển và lưu trữ trong kho của chính phủ trước khi bán lại. 57
Hầu hết các chương trình này đều cần thời gian và khó có thể giải quyết trong một mùa vụ những vấn đề đã tích tụ qua nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, người dân làng đã nhận được sự cứu trợ tức thì nhờ sự thay đổi trong cách họ phải nộp thuế: những người thu thuế bị ghét bỏ đã bị loại bỏ, và các khoản thuế được nộp trực tiếp cho quan huyện. Mặc dù không kịch tính bằng việc đốt cháy tất cả các giấy tờ sở hữu và hợp đồng thế chấp do Đảng Cộng sản thực hiện, cách tiếp cận này vẫn có sức hấp dẫn đối với những người quen thuộc với những hậu quả thông thường sau khi một hình thức chính phủ Soviet được thiết lập. 58
Có thể nói, thay đổi quan trọng nhất nằm ở chính các binh lính. Phương pháp nhanh nhất và chắc chắn nhất để khiến cả làng chống lại chính phủ là bố trí quân đội đóng quân vĩnh viễn tại đó, vì họ không thương xót khi bắt lính, đánh thuế, tống tiền và lạm dụng dân địa phương một cách tàn nhẫn, tạo ra điều kiện lý tưởng của sự khốn khổ tột cùng, nơi chủ nghĩa cộng sản hoặc các hình thức nổi dậy có tổ chức khác phát triển mạnh. Khi một đơn vị quân đội chính phủ đầu hàng, đôi khi những người lính này thậm chí không được Hồng Quân chiêu mộ nhưng được trả một hoặc hai đô la, bởi họ ít giá trị hơn khi làm đồng minh so với việc sống bám vào vùng đất xung quanh như những ký sinh trùng. Sau khi Quân đoàn 19 đánh bại cộng sản ở nhiều khu vực của Phúc Kiến, họ áp đặt các khoản thuế nặng nề và áp bức đến mức cả cộng đồng phải bỏ làng đi. Năm 1933, Tổng lãnh sự Anh tại Fuzhou (Phúc Châu) nhận định rằng người nghèo sống tốt hơn dưới sự cai trị của phe Cộng sản. Tuy nhiên, ông cũng lưu ý rằng điều này không áp dụng cho các khu vực nằm dưới sự kiểm soát trực tiếp của chính phủ. Lính của họ ăn mặc gọn gàng và trang bị đầy đủ, một số đội mũ sắt, số khác đội mũ rơm, mỗi người mang theo khăn mặt, dụng cụ đào hào, đạn dược trong thắt lưng vải, hộp cơm và cốc. Trước đây, dân làng thường bị cưỡng bức và áp giải ra tiền tuyến dưới sự hộ tống, nhưng giờ đây họ nhận được lương đều đặn, được đối xử tốt và nói chung là có kỷ luật. Các kho gạo, cũng như những con đường mới, giúp đảm bảo rằng binh lính ít phải phụ thuộc vào việc đi lùng sục tìm thức ăn hơn. Hơn hết, Biệt Động Đội (biedongdui), được các cố vấn Đức gọi là “Einsatzgruppen”, đóng vai trò là “đôi mắt” của Tưởng Giới Thạch tại mọi huyện, báo cáo trực tiếp cho ông về mọi hành vi sai trái, lạm dụng quyền lực, trốn tránh chiến đấu, bất trung hoặc đàn áp dân làng. 59
Cách tiếp cận mới này tốn nhiều thời gian nhưng hiệu quả. Một mặt, vòng vây bắt đầu siết chặt khu Soviet; mặt khác, các dự án phục hồi địa phương cố gắng giảm bớt số lượng những người bất mãn. Tuy nhiên, sự thất bại của Khu Soviet Giang Tây vào tháng 10 năm 1934, về cơ bản là do chính Đảng Cộng sản Trung Quốc gây ra. Vì vòng vây khiến các hoạt động bao vây từ hai bên và các động thái chiến thuật khác trở nên bất khả thi, Hồng Quân Thứ Nhất buộc phải chuyển sang thế phòng thủ. Chiến tranh du kích không còn là lựa chọn, vì phe Quốc dân đảng tiến quân chậm rãi, củng cố các bước tiến mới bằng thêm công sự và hào chiến. Thay vào đó, Hồng Quân Thứ nhất tiến hành một loạt các cuộc tấn công trực diện vào các thị trấn được củng cố. Được các cố vấn của Comintern khuyến khích, họ bắt đầu bảo vệ các thị trấn không quan trọng về mặt chiến lược, coi việc đầu hàng là không thể chấp nhận về mặt chính trị. “Các thành phố chiếm được từ kẻ thù phải được giữ vững, các khu vực xung quanh phải được củng cố và dân cư địa phương phải được huy động để bảo vệ chúng,” Moscow chỉ thị vào tháng 3 năm 1934. Ba tháng sau, đặc vụ chính của Comintern tại Thượng Hải báo cáo lại cho Moscow, mô tả những tổn thất do chiến tranh vị trí liên tục mà không có nguồn cung cấp đầy đủ là “khổng lồ”. Chỉ riêng trong việc bảo vệ thành phố Guangchang (Quảng Trường), Hồng Quân đã mất một phần năm số binh lính. 60
Ngay cả trước khi các chiến dịch xây dựng công sự của Tưởng Giới Thạch bắt đầu vào tháng 10 năm 1933, khoảng 80% nam giới đã bị cưỡng bức nhập ngũ, khiến nền kinh tế nông thôn rơi vào tình trạng suy sụp và dân chúng đứng trước nguy cơ đói khát. Các chiến dịch không ngừng nhằm vắt kiệt ngày càng nhiều tài nguyên từ dân chúng tiếp theo đó, được thực hiện dưới sự đe dọa bằng bạo lực. Vào tháng 3 năm 1934, việc phân phối đất đai được Mao tái khởi động đã bị đánh giá là chưa đủ, dẫn đến việc phát động một chiến dịch mới nhằm xác định thêm những đối thủ ẩn náu của chế độ. Các nhà lãnh đạo lúc này kêu gọi một “Cuộc khủng bố Đỏ”, “bởi chỉ có chế độ khủng bố Đỏ mới có thể ngăn chặn hoặc làm tê liệt các hoạt động phản cách mạng của địa chủ và nông dân giàu có”. Ngày 23 tháng 5, Soviet thông báo rằng tại mọi khu vực chiến sự, “tất cả địa chủ và nông dân giàu có tham gia hoạt động phản cách mạng đều phải bị bắt giữ và xử tử tại chỗ.” Khi chiếm được một thành phố, binh lính được lệnh áp dụng “Khủng bố Đỏ” và “giết những kẻ lan truyền tin đồn và gây rối, giết những kẻ làm gián điệp cho kẻ thù, giết những kẻ phá hoại cách mạng, giết những kẻ dẫn dắt người khác phản bội!” Nhưng ngay cả ở những khu vực không có chiến sự, làn sóng khủng bố đã dẫn đến việc xử tử oan “những nông dân giàu có”. Sự lạm dụng đã trở nên quá mức đến nỗi một tháng sau đó, Zhang Wentian (Trương Văn Thiên张闻天), Thủ tướng Soviet Giang Tây, buộc phải can thiệp. “Một số ‘yếu tố dao động trong Đảng ta đã trở nên hoàn toàn hoang mang’,” ông tuyên bố vào ngày 28 tháng 6, chỉ ra rằng khủng bố không chỉ được dùng “để đối phó với địa chủ và nông dân giàu có phản cách mạng, mà còn được dùng chống lại tất cả địa chủ và nông dân giàu có”. Hậu quả của các biện pháp này, Trương chỉ ra, là “sự hoảng loạn trong quần chúng”, vì bất kỳ ai cũng có thể bị coi là nghi phạm. 61
Binh lính đào ngũ, tù nhân trốn thoát, dân làng bỏ chạy. Ngay từ tháng 12 năm 1933, việc đào ngũ đã trở nên phổ biến đến mức những kẻ phạm tội sẽ bị bắn tại chỗ nếu chúng bỏ trốn cùng vũ khí. Những kẻ cầm đầu các tiểu đội, trung đội hoặc đại đội đào ngũ hàng loạt sẽ bị xét xử công khai và xử bắn. Những ai giúp đỡ kẻ đào ngũ bằng cách làm giả con dấu chính thức hoặc giấy thông hành cũng sẽ bị xử tử. Vào tháng 5 năm 1934, các cậu bé từ sáu tuổi trở lên được kêu gọi gia nhập hàng ngũ Hồng Quân và “hy sinh máu thịt” để bảo vệ Soviet Giang Tây. Tuy nhiên, bất chấp việc tìm kiếm tân binh một cách tuyệt vọng và các quy định nghiêm ngặt chống đào ngũ, số lượng binh lính sang phe địch ngày càng gia tăng. Một số chính các cậu bé hướng đạo sinh cũng đã lên núi. “Sau khi liên tiếp bị lực lượng chính phủ đánh bại trên chiến trường và phát hiện ra rằng những người từng đứng về phía họ nay lại đứng về phía chính phủ, những người Cộng sản ở Giang Tây và Phúc Kiến đã mất tinh thần và coi sự nghiệp của mình là đã thất bại,” tờ China Press đưa tin sau khi phỏng vấn nhiều binh lính cấp thấp đã đào ngũ. 62
Các nhóm người tị nạn di cư, nhiều người đã mất người thân và tài sản, đã lẩn trốn vào rừng và núi. Trong cơn tuyệt vọng vì thiếu lương thực và vũ khí, họ đã phục kích và tấn công binh lính Cộng sản vào ban đêm. Tại một số khu vực thuộc vùng Soviet, hàng nghìn thanh niên gia nhập các hội kín cổ xưa, chẳng hạn như Hội Đại Kiếm, những tổ chức này cũng đang quay lưng lại với phe Cộng sản. Vào tháng 7 năm 1934, gần Ganzhou (Cám Châu), các cán bộ địa phương đã dẫn đầu việc đưa cả làng vượt biên sang lãnh thổ do chính phủ kiểm soát. Trong một lần, 20 người tị nạn như vậy đã bị Cộng sản dụ dỗ quay lại bằng lời hứa đối xử tốt hơn, nhưng cuối cùng lại bị giam giữ, nhằm làm gương răn đe cho những người khác. Theo một báo cáo của Đảng Cộng sản, các vụ tháo chạy hàng loạt diễn ra phổ biến, ngay cả ở những khu vực cách xa biên giới. Như Cao Boyi (Tào Bách Nhất 曹伯一), nhà sử học hàng đầu về Soviet Giang Tây, đã viết cách đây hơn nửa thế kỷ, chiến lược “pháo đài” của chính quyền đã tạo cơ hội cho dân làng thoát thân an toàn, biến dòng người đào tẩu thưa thớt thành làn sóng ồ ạt, cuối cùng dẫn đến sự sụp đổ của Soviet. 63
Vào tháng 6, lực lượng chính phủ bắt đầu tiến quân theo hai cánh quân hướng về Ruijin (Thụy Kim). Họ di chuyển chậm chạp, mất vài tháng mới đến được mục tiêu, vì phe Cộng sản đã chiến đấu quyết liệt để giữ từng tấc đất, phá hủy cầu cống và đốt cháy các thị trấn bị bỏ hoang. Đến tháng 11, cuối cùng, quân đội cũng tiến vào thành phố. Nơi đây đã hoang vắng, bởi phe Cộng sản đã ép buộc người dân phải sơ tán dưới sự đe dọa tử hình. Các binh sĩ chứng kiến những tàn tích của nỗ lực kéo dài sáu năm nhằm thành lập Cộng hòa Soviet Trung Quốc, với những ngôi làng bị thiêu rụi, đền chùa tan hoang và những trang trại hoang vắng. Hàng trăm thi thể nằm rải rác khắp nơi, trong đó có cả phụ nữ và trẻ em, những con chó hoang đang gặm nhấm các bộ phận cơ thể. Tingzhou (Đinh Châu 汀州), cách Ruijin không xa, cũng hiện ra cảnh tượng hoang tàn tương tự, với những cửa hàng đổ nát, các tòa nhà cháy đen và những cánh đồng trống rỗng. Tại Ningdu (Ninh Đô 宁都), một thành phố mà phe Cộng sản đã rút lui chỉ vài tuần trước khi thất thủ, dân cư địa phương chủ yếu là phụ nữ và người già. Một ngôi đền Nho giáo, từng được dùng làm nơi hành quyết, chằng chịt những lỗ đạn. Đất trong nghĩa trang ngổn ngang những hộp sọ và thi thể của những người bị phe nổi dậy đang tháo chạy chặt đầu một cách vội vã. Cách thành phố khoảng năm kilômét, họ còn phát hiện một pháo đài đá tự nhiên sừng sững trên thung lũng xung quanh. Tại đây, hơn 500 người đã ẩn náu và chống trả cuộc vây hãm của quân Cộng sản. Sau mười ba tháng chống cự kiên cường, những người phòng thủ kiệt sức đã buộc phải đầu hàng; 300 người sống sót bị dẫn diễu qua các đường phố Ningdu trước khi bị chém đầu. 64
Các hố chôn tập thể được phát hiện khắp khu vực Soviet. Tại Toubeizhen (头陂镇Đầu Bi Trấn), một thị trấn nhỏ phía đông Guangchang, người ta đã tìm thấy một khu chôn cất với 5.000 thi thể. Hàng nghìn thi thể khác được phát hiện trong các hố chôn rải rác quanh Ningdu. Người dân địa phương tình cờ phát hiện khoảng một nghìn thi thể đã phân hủy dọc theo một con sông, phần lớn trong số đó bị nước cuốn trôi dạt vào bờ hoặc chôn vùi trong cát. Một điện tín gửi đến Nam Kinh đề cập rằng lực lượng Cộng sản đang rút lui đã thảm sát đến 10.000 dân thường ở vùng nông thôn xung quanh Cát An, bao gồm Fengxi (Phong Khê楓溪), Anyuan (An Viễn (安远) và Wucun (Ô Thôn乌村). Các ước tính về tổng số người thiệt mạng đã được đưa ra, bao gồm con số cao nhất là 1 triệu, nhưng không có con số nào thực sự thuyết phục, nhất là vì khu vực do lực lượng Cộng sản kiểm soát luôn thay đổi, cả dân làng lẫn binh lính thường thiệt mạng trong các cuộc đột kích diễn ra ngoài khu vực do họ kiểm soát, và không ai theo dõi được có bao nhiêu người dân địa phương đã trốn thoát và không bao giờ trở về. Tuy nhiên, có một con số được tính toán kỹ lưỡng: trong tổng dân số ban đầu là 5,6 triệu người, chỉ còn lại 4,3 triệu người, cho thấy đã có 1,3 triệu người thiệt mạng. 65

Chú thích:
1
Abend, My Life in China, pp. 150–1.
2
Ibid., p. 167; Powell, My Twenty-Five Years in China, p. 233.
3
‘Death and Desolation in China’, Times of India, 24 Aug. 1931; Abend, My Life in China, p. 155; Booker, News is my Job, p. 246.
4
‘Martial Law Laid All around Harbin’, Washington Post, 6 Feb. 1932; Misselwitz, The Dragon Stirs, p. 284.
5
Booker, News is my Job, pp. 248–51; Abend, My Life in China, pp. 174–94; ‘Chapei and the Future’, China Press, 24 March 1932.
6
‘Fall of Juichin Looms in Drive on Communists’, China Press, 7 Aug. 1931.
7
NARA, RG 165, MID 2657-1-276/420, ‘Situation Report’, Report No. 8778, 28 Feb. 1934.
8
Agnes Smedley, China’s Red Army Marches, London: Lawrence & Wishart, 1936, pp. 297–303.
9
Edgar Snow, Red Star over China, New York: Grove Press, 1971, p. 428.
10
Pavel Mif, ‘A New Rise of the Chinese Revolution’, 14 May 1930, được dịch trong NARA, RG 59, 893.00B/719; Lời giới thiệu” và “Điều tra các xã Caixi”, trong Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 4, pp. lxvi and 635–6; CA, Jiangxi geming lishi wenjian huiji: 1932 (1), Báo cáo Chung về Soviet Giang Tây, May 1932, p. 148.
11
CA, Jiangxi geming lishi wenjian huiji: 1931, pp. 259–60; CA, Jiangxi geming lishi wenjian huiji: 1932 (1), Báo cáo Chung về Soviet Giang Tây, May 1932, p. 152.
12
CA, Jiangxi geming lishi wenjian huiji: 1932 (1), Báo cáo Chung về Soviet Giang Tây, May 1932, pp. 156–7; CA, Jiangxi geming lishi wenjian huiji: 1933–1934, các Báo cáo về đánh Thuế, 26 March và 7 April 1933, pp. 74 và 90–1.
13
‘The Economic Policy of the Chinese Soviet Republic’, 1 Dec. 1931, và ‘Unfold a Mass Movement to Support a National Currency’, 28 Aug. 1933, cả hai trong Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 4, pp. 160–2 and 502–3; CA, Jiangxi geming lishi wenjian huiji: 1933–1934, các Lệnh của Chính phủ, 1 và 5 April 1933, pp. 81 và 84–5.
14
‘The Economic Policy of the Chinese Soviet Republic’, 1 Dec. 1931, trong Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 4, pp. 160–2; CA, Jiangxi geming lishi wenjian huiji: 1933–1934, các Lệnh của Chính phủ, 1 và 5 April 1933, pp. 81 và 84–5; về tungsten ở Jiangxi, xem ‘Recaptured Red Areas Begin Rehabilitation’, China Press, 10 Oct. 1934; Anh trai của Mao, Mao Zemin, phụ trách các mỏ; xem Long Huanqi, ‘Mao Zemin ban Zhonghua wukuang gongsi’, trong Shu Long (ed.), Mao Zemin, Beijing: Junshi kexue chubanshe, 1996, p. 77 (bài viết này được tôi biết đến nhờ một trích dẫn trong Chang and Halliday, Mao).
15
CA, Jiangxi geming lishi wenjian huiji: 1931, Báo cáo từ Tây Nam Giang Tây, 1931, p. 260.
16
‘Faxing jingji jianshe gongzhai tiaoli’ (Quy định về việc phát hành trái phiếu xây dựng kinh tế), Hongse Zhonghua, no. 96, 26 July 1933; HIA, Chen Cheng Collection, ‘Wei faxing sanbaiwan jingji jianshe gongzhai’ (‘phát hành trái phiếu xây dựng kinh tế trị giá ba triệu đô la’, thông báo số. 26, 28 Aug. 1933; ‘Điều tra xã Changnang’, 18 Nov. 1933, trong Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 4, pp. 607–8; CA, Jiangxi geming lishi wenjian huiji: 1933–1934, Báo cáo của Ủy ban Tỉnh Giang Tây, 17 June 1933, p. 153; lịch sử chi tiết về ba đợt phát hành trái phiếu được trình bày trong King-yi Hsü, ‘Agrarian Policies of the Chinese Soviet Republic, 1931–1934’, luận văn tiến sĩ, Indiana University, 1971, pp. 446–54.
17
‘Cuộc điều tra xã Ganggang’, 18 Nov. 1933, trong Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 4, p. 609.
18
CA, Jiangxi geming lishi wenjian huiji: 1931, p. 107; ‘Cuộc điều tra xã Changnang’, 18 Nov. 1933, và ‘Cuộc điều tra xã Caixi’, 26 Nov. 1933, cả hai trong Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 4, pp. 586, 599 and 630.
19
Về quân đội, xem PRO, FO 371/18091, Gerald Yorke, ‘Báo cáo về Cộng hòa Soviet Trung Quốc tại Giang Tây’, Nov. 1933, p. 103; ‘Nghị quyết của Đảng Cộng sản Trung Quốc về việc giành những thắng lợi cách mạng ban đầu tại một hoặc nhiều tỉnh’, 9 Jan. 1932, trong Tony Saich and Benjamin Yang (eds), The Rise to Power of the Chinese Communist Party: Documents and Analysis, London: Routledge, 2005, p. 563; ‘The Fight for Kanchow’, North-China Herald, 29 March 1932.
20
‘China is Preparing Huge Drive on Reds’, New York Times, 28 Sept. 1933; Hallett Abend, ‘Nanking Red Drive Ending in Draw’, New York Times, 11 Sept. 1932.
21
PRO, FO 676/58, Thư từ Hội Truyền giáo Nội địa Trung Quốc, Ganzhou, 19 May 1930, pp. 22–4 (số trang bị thiếu, được liệt kê theo thứ tự liên tiếp ở đây); PRO, FO 371/18091, Gerald Yorke, ‘An Account of the Chinese Soviet Republic in Kiangsi’, Nov. 1933, pp. 104–6.
22
Một tài liệu quan trọng về những thành tựu đáng kể của chính quyền Soviet có thể tìm thấy trong “Báo cáo của Ủy ban Hành pháp Trung ương”, 24–25 Jan. 1934, trong Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 4, đặc biệt các trang 695–6; bệnh viện này được nhắc đến trong Mao Zedong nianpu, vol. 1, p. 394, được trích trong Chang and Halliday, Mao, p. 106.
23
Chan, ‘The Communists in Rural Guangdong, 1928–1936’, pp. 84–6.
24
CA, Shaanxi geming lishi wenjian huiji (shengwei wenjian): 1927–1929, Báo cáo từ Tỉnh Ủy, 26 Sept. 1927, pp. 88–92; CA, Shaanxi geming lishi wenjian huiji (shengwei wenjian): 1930–1931, Báo cáo cho Ủy ban Trung ương, 30 April 1930, p. 75, cả Báo cáo từ Ủy ban Tỉnh, 13 Sept. 1930, p. 211; CA, Shaanxi geming lishi wenjian huiji (shengwei wenjian): 1932 (2), Thư gửi Ủy ban Trung ương, 23 Sept. 1932, p. 98.
25
CA, Henan geming lishi wenjian huiji (yizhongben): 1927–1934, Thống kê về tổ chức Đảng, April 1930, p. 105; CA, Henan geming lishi wenjian huiji (shengwei wenjian): 1931–1932, Báo cáo cho Ủy ban Trung ương, 25 March 1931, p. 37, và Báo cáo từ Ủy ban Quân sự Hà Nam, 30 May 1931, p. 76; CA, Hebei geming lishi wenjian huiji (jia di jiu ce): 1932.7–1932.9, Chương trình nghị sự của bốn trung tâm tỉnh ở Nam Hà Bắc, 13 Aug. 1932, p. 305; CA, Hebei geming lishi wenjian huiji (jia di shijiu ce): 1928.3–1936.3, Báo cáo của Ủy ban Thành phố Thiên Tân, 13 Dec. 1932, p. 352.
26
CA, Zhejiang geming lishi wenjian huiji (shengwei wenjian): 1926–1927, Báo cáo từ Tỉnh Ủy (Chiết Giang), 27 Sept. 1927, p. 118; việc thả tù nhân: GSG, 001-014500-00011-001, Báo cáo của Hà Ứng Khâm (He Yingqin), 10 Feb. 1928; CA, Zhejiang geming lishi wenjian huiji (dixian wenjian): 1931–1936, Báo cáo về việc tổ chức công nhân đường sắt, 23 Aug. 1932, p. 25, và Báo cáo của Ủy ban Huyện Vô Tích (Wenzhou), 6 July 1931, pp. 90–4; CA, Shandong geming lishi wenjian huiji (jiazhongben di jiu ji): 1931.3–1932.12, Báo cáo từ Tỉnh Ủy (Sơn Đông), 5 June 1932, p. 337, và Báo cáo từ Tỉnh Ủy, 13 Sept. 1932, p. 379.
27
‘More Executions at Hankou’, New York Times, 21 Dec. 1927; ‘More Executions in Hankow’, North-China Herald, 31 March 1928; CA, Hubei geming lishi wenjian huiji (shengwei wenjian): 1928, Báo cáo cho Ủy ban Trung ương, May 1928, p. 377.
28
CA, Hubei geming lishi wenjian huiji (quntuan, Suwei’ai wenjian): 1927–1933, Báo cáo từ hội nghị Tỉnh (Hồ Bắc), 6 March 1927, p. 40 và Báo cáo từ hội nghị, 7 March 1927, p. 63; CA, Hubei geming lishi wenjian huiji (shengwei wenjian): 1929, Báo cáo của Cao Dajun, 16 May 1929, p. 66; William T. Rowe, Crimson Rain: Seven Centuries of Violence in a Chinese County, Stanford, CA: Stanford University Press, 2007, pp. 272–6 cung cấp một danh sách dài các hành vi tàn bạo do Tướng Xia Douyin thực hiện trong cuộc chiến chống lại những người Cộng sản tại Hồ Bắc năm 1927; mặc dù hầu như không có nghi ngờ gì về việc ông ta đã thiêu sống và giết hại những người bị nghi là Cộng sản một cách không thương xót, nhưng những hành vi tàn bạo được cho là do ông ta gây ra, và thực tế là chính bản thân Xia Douyin, hầu như không được đề cập đến trong nhiều báo cáo do các tổ chức Cộng sản tại Hồ Bắc tự biên soạn; xem CA, Hubei geming lishi wenjian huiji (shengwei wenjian): 1926–1927, as well as CA, Hubei geming lishi wenjian huiji (quntuan, Suwei’ai wenjian): 1927–1933; Xia Douyin chỉ xuất hiện trong nửa câu trong “Báo cáo về công tác tại Huang’an”, 14 Dec. 1927, CA, Eyuwan suqu geming lishi wenjian huiji (Edongbei tewei, Edongnan tewei wenjian): 1927–1934, p. 1; Rowe Rowe dựa phần lớn bằng chứng của mình vào ấn bản Hankou của báo Minguo ribao (Republican Daily), do Dong Biwu xuất bản – chính là người đã thành lập chi bộ Cộng sản tại Macheng; xem Zhongguo jindai lishi cidian, 1840–1949, Nanchang: Jiangxi renmin chubanshe, 1986, p. 297.
29
CA, Xiang’exi suqu geming lishi wenjian huiji (Suwei’ai, quntuan wenjian): 1930–1932, Báo cáo cho Ủy ban Trung ương, 29 March 1931, pp. 48 và 58–9.
30
CA, Xiang’exi suqu geming lishi wenjian huiji (shengwei wenjian): 1927–1932, Deng Zhongxia, Báo cáo, 15 Oct. 1930, p. 29; CA, Xiang’exi suqu geming lishi wenjian huiji (zhongyang fenju wenjian): 1931–1934, Report about the Situation in Xiang’exi, 19 Dec. 1932, p. 314; ‘Phục hồi các khu vực miền Trung Trung Quốc đã giành lại từ tay “phe đỏ”,’ China Weekly Review, 24 Dec. 1932; việc phân loại ‘giàu’, ‘trung’ và ‘nghèo’ được tìm thấy trong các tài liệu bị thu giữ tại Jianli và được dịch trong PRO, FO 676/130, Báo cáo của Lãnh sự tại Hankou, 18 April 1932.
31
CA, Xiang’exi suqu geming lishi wenjian huiji (shengwei wenjian): 1927–1932, Deng Zhongxia, Báo cáo,, 15 Oct. 1930, pp. 29–30; CA, Xiang’exi suqu geming lishi wenjian huiji (zhongyang fenju wenjian): 1931–1934, Báo cáo về tình hình ở Xiang’exi, 19 Dec. 1932, pp. 286–94; MAE, 513PO/A/428, Báo cáo của Marcel Baudez, Lãnh sự tại Hankou, 10 May 1932.
32
CA, Xiang’exi suqu geming lishi wenjian huiji (zhongyang fenju wenjian): 1931–1934, Báo cáo về tình hình ở Xiang’exi, 19 Dec. 1932, pp. 285–6.
33
Ibid., pp. 283–4, xem cả Báo cáo về tình hình hiện tại và Đảng ở Xiang’exi, 21 Feb. 1932, p. 141; CA, Xiang’exi suqu geming lishi wenjian huiji (shengwei wenjian): 1927–1932, Deng Zhongxia, Báo cáo về Hồng Quân số 26, 19 Oct. 1930, p. 36.
34
CA, Xiang’exi suqu geming lishi wenjian huiji (zhongyang fenju wenjian): 1931–1934, Song Panming, Báo cáo Chung cho Ủy ban Trung ương về Tình hình ở Xiang’exi, 22 Nov. 1931, p. 114, cũng như Báo cáo cho Ủy ban Trung ương từ Khu Ủy Xiang’exi, 25 Feb. 1932, p. 145; ‘Rehabilitating Central China Districts Recovered from the “Reds” ’, China Weekly Review, 24 Dec. 1932.
35
Yueh, Sun Yat-sen University in Moscow, pp. 114–17 and 241; Xiao Ke, ‘Hong’er, liu juntuan huishi qianhou’ (Những hồi ức về Quân đoàn Hồng thứ Hai và thứ Sáu), Jindaishi yanjiu, 1981, no. 1, p. 16; CA, Xiang’exi suqu geming lishi wenjian huiji (zhongyang fenju wenjian): 1931–1934, Báo cáo về cuộc đấu tranh chống các nhóm phản cách mạng tại Xiang’exi, 16 April 1932, pp. 195–6, cũng như Báo cáo về tình hình chung tại Xiang’exi, 24 Oct. 1932, p. 256; rút lui về Sangzhi: Chang, The Rise of the Communist Party, 1928–1938, vol. 2, p. 293.
36
CA, Hubei geming lishi wenjian huiji (shengwei wenjian): 1926–1927, ‘Báo cáo về công tác tại Huang’an’, 14 Dec. 1927, tr. 438 nhắc đến 500; CA, Eyuwan suqu geming lishi wenjian huiji (Edongbei tewei, Edongnan tewei wenjian): 1927–1934, Báo cáo về công tác tại Huang’an, 14 Dec. 1927, tr. 6 nhắc đến một ngàn.
37
CA, Eyuwan suqu geming lishi wenjian huiji (yizongben): 1929–1934, Báo cáo cho Ủy ban Trung ương, 8 Sept. 1929, p. 18; CA, Eyuwan suqu geming lishi wenjian huiji (shengwei wenjian): 1929–1934, Chương trình nghị sự về các vấn đề quân sự cho Đại hội Đại biểu Đảng, 2 Dec. 1929, pp. 40–1.
38
Gregor Benton, Mountain Fires: The Red Army’s Three-Year War in South China, 1934–1938, Berkeley, CA: University of California Press, 1992, pp. 310–13; ‘cụm từ “tiêu diệt toàn bộ các làng’ được đề cập trong bài ‘Communist Raids in Hupeh’, North-China Herald, 20 July 1929.
39
CA, Eyuwan suqu geming lishi wenjian huiji (shengwei wenjian): 1929–1934, Zeng Zhongsheng, Báo cáo cho Ủy ban Trung ương, 10 Feb. 1931, pp. 221–3.
40
Các báo cáo ở trong CA, Eyuwan suqu geming lishi wenjian huiji (zhongyang fenju wenjian): 1931–1934, Báo cáo cho Ủy ban Trung ương, Thông báo số 7, 10 June 1931, p. 60; Các Nghị quyết của Hội nghị Mở rộng, June 1931, p. 90; xem cả Chang, The Rise of the Communist Party, 1928–1938, vol. 2, pp. 245–6 and 277.
41
CA, Eyuwan suqu geming lishi wenjian huiji (yizongben): 1929–1934, Báo cáo về cuộc thanh trừng, 22 Nov. 1931, p. 129; Chang, The Rise of the Communist Party, 1928–1938, vol. 2, pp. 197, 245–6 và 277; William Rowe, dựa trên một bản niên biểu về cuộc đời của Trương Quốc Đào được xuất bản tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, viết rằng vào ngày 28 tháng 6 năm 1931, Trương Quốc Đào đã thề sẽ tiêu diệt mọi địa chủ và nông dân giàu có; nhưng các sự kiện không ủng hộ bản niên biểu này; vào ngày 30 tháng 6 năm 1931, Trương Quốc Đào đã chỉ ra rõ ràng rằng “chống lại nông dân giàu có không đồng nghĩa với việc tiêu diệt nông dân giàu có”; xem CA, Eyuwan suqu geming lishi wenjian huiji (zhongyang fenju wenjian): 1931–1934, Trương Quốc Đào, Báo cáo tại Hội nghị Mở rộng, 30 June 1931, p. 136 (Rowe, Crimson Rain, p. 314, trích Sheng Renxue, Zhang Guotao nianpu ji yanlun, Beijing: Jiefangjun chubanshe, 1985, p. 32); 600 người bị bắt: Chang, The Rise of the Communist Party, 1928–1938, vol. 2, p. 276; Xu Xiangqian, Lishi de huigu (Nhìn lại lịch sử), Beijing: Jiefangjun chubanshe, 1987, pp. 159 và 161–3; Xu Xiangqian, Xu Xiangqian huiyi lu (Memoirs of Xu Xiangqian), Beijing: Jiefangjun chubanshe, 2007, pp. 108–16.
42
CA, Eyuwan suqu geming lishi wenjian huiji (shengwei wenjian): 1929-1934, Báo cáo cho Ủy ban Trung ương, 2 Aug. 1933, p. 363; GSG, 002-090300-00062-393, Điện tín của Liu Zhenhua gửi Tưởng Giới Thạch, 5 Nov. 1933; ‘Grim Result of Red Occupation in Hupeh’, China Weekly Review, 23 Dec. 1933; vụ thảm sát: Benton, Mountain Fires.
43
George B. Cressey, The Land of the 500 Million, New York: McGraw-Hill, 1955, p. 178.
44
CA, Sichuan suqu geming lishi wenjian huiji (shengwei wenjian): 1926–1927, Kế hoạch nổi dậy tại huyện Dazhu, Oct. 1927, p. 264; CA, Sichuan suqu geming lishi wenjian huiji (shengwei wenjian): 1928–1929.2, Báo cáo cho Ủy ban Trung ương, 29 Jan. 1928, p. 15; CA, Sichuan suqu geming lishi wenjian huiji (shengwei wenjian): 1930–1931, Báo cáo cho Ủy ban Trung ương, June 1931, p. 481.
45
Liu Xiang: ‘Ruin Wrought by War Lords’, Los Angeles Times, 13 Aug. 1933; ‘Reds in Szechuen’, North-China Herald, 8 Feb. 1933; ‘The Communists in Szechuen’, North-China Herald, 22 March 1933, Chang, The Rise of the Communist Party, 1928–1938, vol. 2, p. 331; MAE, 513PO/A/435, Báo cáo của Tổng lãnh sự tại Thành Đô, 25 Feb. 1933, và một quan sát tương tự trong PRO, FO 371/17061, Report, 23 Jan. 1933, pp. 74–6.
46
Chang, The Rise of the Communist Party, 1928–1938, vol. 2, pp. 332 and 349; on Bazhou, see GSG, 002-090300-00056-375, Tongnanba Bandit Disaster Temporary Emergency Relief Department, telegram, 12 April 1933, as well as ‘Szechuen-Shensi Red Terror’, North-China Herald, 12 July 1933; vermin: MAE, 513PO/A/435, Report from the Consul, Chengdu, 25 Feb. 1933; Liu Xiang’s cable is in GSG, 002-090300-00071-316, 19 March 1934.
47
Chang, The Rise of the Communist Party, 1928–1938, vol. 2, p. 350; Norman D. Hanwell, ‘Within Chinese Red Areas’, Asia, 37, no. 1 (Jan. 1937), pp. 58–61; money to Shanghai: PRO, FO 371/18091, Report by the Consul General, Chongqing, 13 Nov. 1933, pp. 127–30.
48
Chang, The Rise of the Communist Party, 1928–1938, vol. 2, pp. 350–61; đường sá bị phá hủy: PRO, FO 371/18091, Báo cáo của Tổng Lãnh sự tại Trùng Khánh, 13 Nov. 1933, pp. 127–30; Norman D. Hanwell, ‘When Chinese Reds Move In’ Asia, 36, no. 10 (Oct. 1936), pp. 631–6; về việc che giấu đất đai, xem công trình tiên phong của Gao Wangling, Zudian guanxi xinlun: Dizhu, nongmin he dizu (Một góc nhìn mới về quan hệ sở hữu đất đai: Địa chủ, nông dân và tiền thuê đất), Shanghai: Shanghai shudian chubanshe, 2005.
49
Chang, The Rise of the Communist Party, 1928–1938, vol. 2, p. 361.
50
‘Dẫn nhập’, trong Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 4, pp. lvii–lx; Thư gửi Ủy ban Trung ương, 30 Sept. 1932, trong Titarenko, VKP(b), Komintern i Kitai, vol. 4, part 1, pp. 187–8.
51
‘Dẫn nhập’, trong Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 4, pp. lxiv–lxvii.
52
‘Defeated Reds Retreat to Kiangsi Border’, South China Morning Post, 24 Feb. 1933; Tyler Dennett, ‘Japan Overruns Jehol’, Current History, 38, no. 1 (April 1933), pp. 124–8; ‘Japan Stuns World, Withdraws from League’, UPI Archives, 24 Feb. 1933; Abend, My Life in China, p. 204; Peter Worthing, General He Yingqin: The Rise and Fall of Nationalist China, Cambridge: Cambridge University Press, 2016, pp. 147–8.
53
Lời kêu gọi tiết kiệm lương thực cho Hồng Quân, June 1933; Về giải pháp cho vấn đề lương thực, 16 June 1933; Báo cáo của Ủy ban Thường vụ Trung ương, 24–25 Jan. 1934, tất cả trong Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 4, pp. 402–3, 408 và 686.
54
Mao Trạch Đông, Tổng kết sơ bộ về Phong trào điều tra đất đai, Aug. 1933, trong Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 4, pp. 510–11.
55
PRO, FO 371/18091, Gerald Yorke, ‘An Account of the Chinese Soviet Republic in Kiangsi’, Nov. 1933, pp. 104–5; cũng như NARA, RG 165, MID 2657-1-281/139, W. S. Drysdale, Military Attaché, ‘Anti-Communist Operations in Kiangsi’, G-2 Report No. 8960, 6 Nov. 1934; Peter Fleming, One’s Company: A Journey to China, New York: Charles Scribner’s Sons, 1934, p. 234.
56
PRO, FO 371/18091, Gerald Yorke, ‘An Account of the Chinese Soviet Republic in Kiangsi’, Nov. 1933, p. 106; PRO, WO 106/5312 (cũng như trong FO 676/130), Lt. Dewar Durie, Report on the Blockade, 25 Nov. 1933, p. 20.
57
PRO, FO 371/18091, Gerald Yorke, ‘An Account of the Chinese Soviet Republic in Kiangsi’, Nov. 1933, pp. 106–11.
58
Ibid., p. 112; PRO, FO 106/5312, Trung úy Dewar Durie, Báo cáo về việc phong tỏa, 25 Nov. 1933, p. 31; Frank Dikötter, Crime, Punishment and the Prison in Modern China, New York: Columbia University Press, 2002, pp. 280–6.
59
Fleming, One’s Company, p. 184; Yorke, China Changes, pp. 207–8; Lãnh sự Fuzhou được trích trong PRO, FO 676/156, Miles Lampson gửi Bộ Ngoại giao, 18 Sept. 1933, pp. 109–19; Lực lượng Đặc nhiệm được đề cập trong NARA, RG 165, MID 2657-1-276/445, W. S. Drysdale, ‘Situation Report’, Report No. 9035, 31 Jan. 1935, p. 5; xem cả footnote 42 trong Xu Youwei and Philip Billingsley, ‘Behind the Scenes of the Xi’an Incident: The Case of the Lixingshe’, China Quarterly, no. 154 (June 1998), p. 297.
60
Điện tín từ Comintern gửi Arthur Ewert và Ban Chấp hành Trung ương, 25 March 1934; Arthur Ewert, Báo cáo, 2 June 1934, cả hai trong Titarenko, VKP(b), Komintern i Kitai, vol. 4, part 1, pp. 584 and 602; tổn thất một phần năm, tức là 5.000 người đã mất trong tổng số 25.000 binh sĩ: Ch’en Yung-fa, Zhongguo gongchan geming qishinian (Bảy mươi năm cách mạng Trung Quốc), Taipei: Lianjing chuban shiye gongsi, 2nd edn, 2001, p. 270.
61
Về binh lính và khủng bố đỏ, xem ‘Wei jianjue jingong diren huifu Menling’ (Về việc lấy lại Menling), Hongse Zhonghua, 14 May 1934; văn bản chính là Zhang Wentian, ‘Shi jianjue de zhenya fange-ming hai shi zai fangeming qianmian de kuangluan?’ (Chúng ta nên kiên quyết đàn áp phản cách mạng hoặc nên hoàn toàn hoang mang bởi vì phản cách mạng?), Hongse Zhonghua, 28 June 1934; văn bản này đã được dịch bởi một nhà tiên phong trong nghiên cứu tài liệu về Đảng Cộng sản Trung Quốc, cụ thể là Hsiao Tso-liang, The Land Revolution in China, 1930–1934: A Study of Documents, Seattle: University of Washington Press, 1969, pp. 285–90; lúc đó, Hsiao Tso-liang chưa tiếp cận được lệnh ngày 23 tháng 5 năm 1934, tài liệu này có thể tìm thấy trong ‘Zhonghua suwei’ai gongheguo renmin weiyuanhui xunling’ (Lệnh của Ủy ban Nhân dân Cộng hòa Soviet Trung Quốc), Hongse Zhonghua, 23 May 1934; văn bản của Zhang Wentian là một phần của cái gọi là “Bộ sưu tập Ch’en Ch’eng”, được đặt tên theo một vị tướng đã tham gia cuộc bao vây Cộng hòa Soviet và thu giữ một lượng lớn tài liệu từ phe Cộng sản, sau đó các tài liệu này đã được chuyển đến cả Cục Điều tra tại Đài Bắc và Viện Hoover thuộc Đại học Stanford. Trong nhiều thập kỷ, ngoài những tài liệu này, hầu như không có thêm thông tin nào khác về Cộng hòa Soviet dưới dạng tài liệu gốc..
62
‘Về Vấn đề Những Người Đào ngũ khỏi Hồng Quân’, 15 Dec. 1933, trong Schram and Hodes, Mao’s Road to Power, vol. 4, pp. 641–2; lời kêu gọi dành cho các đội tiên phong được đăng trong ‘Bosheng mofanying “wuwu” jie quanti jiaru hongjun’ (Toàn bộ tiểu đoàn mẫu mực ở huyện Bosheng gia nhập Hồng quân nhân dịp kỷ niệm sinh nhật Karl Marx), Hongse Zhonghua, 14 May 1934; ‘Luo Man tongzhi zai Ruijin fayan’ (Đồng chí Luo Man phát biểu tại Ruijin), Hongse Zhonghua, 18 Sept. 1934; ‘Sức mạnh Cộng sản bị đánh tan tại Giang Tây’, China Press, 29 April 1934.
63
‘Người tị nạn ở Giang Tây tự tổ chức phòng vệ’, China Press, 2 Dec. 1933; xem Luo Man (Li Weihan), ‘Gannan bu yinggai luohou’ (Miền Nam Giang Tây không nên tụt hậu), Hongse Zhonghua, 21 Sept. 1934; ‘Ganzhou Chutan qu xianxiang yanzhong’ (Các vấn đề nghiêm trọng ở khu vực Chutan, Ganzhou), Hongse Zhonghua, 24 July 1934, được trích trong Cao Boyi [Tsao Po-i], Jiangxi suwei’ai zhi jianli jiqi bengkui (1931–1934) (Sự lên và sụp đổ của Soviet Trung Quốc tại Giang Tây, 1931–1934), Taipei: Guoli zhengzhi daxue dongya yanjiusuo, 1969, pp. 642–3; kết luận của Cao Boyi được đề cập ở đây nằm ở tr. 645.
64
‘Thủ đô đỏ ngập xác chết khi bị chiếm’, China Press, 14 Nov. 1934; ‘Former Red Area in China is Gaunt’, New York Times, 28 Jan. 1935; ‘Tingzhou’, Dagongbao, 3 Nov. 1934, p. 3; ‘Ruijin shoufu jingguo xiangqing’ (Bản tường thuật chi tiết về việc láy lại Ruijin), Dagongbao, 13 Nov. 1934, p. 3; Li Yushu, ‘Jiehou zhi Ruijin’ (Ruijin sau cuộc cướp phá), Dagongbao, 18 Dec. 1934; ‘Thrilling Defence against Reds’, North-China Herald, 6 Feb. 1935; ngọn núi này được gọi là Cuiweifeng, và đã được biến thành một ‘điểm du lịch’.
65
‘Kuloudui cheng shan’ (Những đống xác chết), Dagongbao, 10 April 1935, p. 3; quanh Cát An: GSG, 002-090300-00089-038, Điện tín của Lu Xingrong gửi Tưởng Giới Thạch, 29 Dec. 1934; Wang Hao, Shoufu feiqu zhi tudi wenti (Vấn đề đất đai ở các vùng đất thu hồi từ tay bọn cướp), Nanjing: Zhengzhong shuju, 1935, p. 49.