Thứ Tư, 1 tháng 7, 2026

Tiểu thuyết Âm bản và dương bản (9)

 Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Phần hai

HÀNH TRÌNH TÌM ÂM BẢN I

 

1.

Sau bộ phim nhựa đầu tay, và sau tấm bảng chữ to cảnh cáo của cơ quan, Thế nhận thấy rõ là cánh cửa đẫn đến màn ảnh lớn đã đóng sập trước anh! Anh bắt đầu những ngày tháng lang thang trên những vùng núi Tây Bắc - Đông Bắc, và sau đó là Tây Nguyên - như định mệnh đóng dấu vào kẻ “nhân giả lạc sơn”, để thu tập tư liệu & cảm xúc cho các kịch bản tương lai - dù “đầu vào đầu ra” của chúng mịt mù hơn sương khói mùa đốt nương vùng cao. Anh lên miền núi, đặc biệt sau những lúc chán nản với tình hình phim ảnh nội địa do các “Bố già” cả tư nhân lẫn Nhà nước ngự trị, anh đi theo tiếng gọi không phải của thời tuổi trẻ mơ mộng Con tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng?[68] mà là tiếng gọi của một kẻ mặc nhiên coi đó là quê hương thứ hai cứ thôi thúc đòi anh trả nợ lòng, mỗi ngày một thêm da diết… Giờ đây Thế lên đường không phải với tư cách “nhà biên kịch, nhà đạo diễn” - hai thứ “bảo bối” vô dụng này anh giấu kỹ - mà với tư cách “nhà báo tự do” (sau này chuyển sang Hãng phim Đài Truyền hình anh mới mặc nhiên là “nhà báo có thẻ”). Anh viết báo, làm phim tài liệu phóng sự, cả phim quảng cáo - theo các com-măng đặt hàng và theo nhu cầu nội tâm, với chiếc máy ảnh Nikomat do Giám đốc Nhà máy Bê tông Vinh Quang tặng và các loại máy quay cầm tay thay đổi theo kỹ thuật truyền hình - từ băng VHS đến băng DVCAM rồi thẻ nhớ kỹ thuật số…

Khi Bộ Giáo dục - Đào tạo cần thực hiện một bộ phim tài liệu dài nhằm phục vụ Lễ kỷ niệm 40 năm sự kiện “Đoàn giáo viên miền xuôi lên Tây Bắc", thông qua sự giới thiệu của một nhà giáo Tây Bắc kỳ cựu, Thế hào hứng nhận lời ngay. Nguyên do là: Thế thỉnh thoảng tới thăm ông Đạo Chúc, vì đều là “dân dạy học ở Tây Bắc trở về” (ông lên Tây Bắc khi Thế còn là một đứa trẻ tập đi), nhưng đến lúc đó anh mới biết ông còn là một thầy giáo của “Thế hệ Năm chín” (1959) tại Khu tự trị Thái-Mèo cũ. Thế mời ông tham gia làm phim.

Trước khi lên đường, mẹ anh có vẻ lo lắng cho đường ruột của anh - “kẻ xấu bụng” như anh thường tự riễu, anh cười an ủi bà: “Mẹ đừng lo, trên Tây Bắc có món Nậm pịa rất đắc dụng với bệnh kinh niên này của con, sở dĩ mẹ cứ phải lo làm thịt nạc làm ruốc cho con những đợt làm phim là vì con đã cách xa đặc sản Nậm pịa lâu quá rồi…”. Thời gian này, sau những thành công nho nhỏ về bán tranh và thất bại lớn về mưu sinh, bố mẹ anh lại khăn gói quay ra Hà Nội, cả gia đình ba người đã tìm được chỗ an cư tàm tạm…

Đoàn làm phim chỉ có hai người - một già một trẻ đã đi tới nhiều vùng Tây Bắc, tìm đến nhiều trường học, Sở Giáo dục, Phòng Giáo dục, nhiều ngôi nhà thầy cô giáo cũ, ghi lại được bao chuyện cảm động về Thế hệ thầy giáo “huyền thoại” này… Tiếp theo bước chân của những đoàn quân giải phóng Tây Tiến, chỉ vài năm sau là tới bước chân của những đoàn giáo viên miền xuôi với sứ mệnh phát triển văn hoá giáo dục ở các miền dân tộc ít người, khắc phục tình trạng chênh lệch giữa miền xuôi và miền núi…

Vậy là Thế đã được gặp không ít những nhà giáo tóc hoa râm hay bạc trắng của Thế hệ 59 này tại những thị trấn, thị xã, thành phố của Sơn La, Lai Châu, Điện Biên Phủ… - có người anh đã biết từ trước, có nhiều người lần đầu tiên anh được nghe tên biết mặt… Nhưng, lần đầu tiên Thế được nghe kể về Thế hệ giáo viên 59 là khi đứng bên dãy núi Pú Luông (thị trấn Thuận Châu), lối dẫn lên vùng cao Cò Mạ thời anh mới lên Tây Bắc… Một đoàn thầy cô giáo đầu tiên từ miền xuôi lên đã được đưa tiễn từ bến xe khách phố huyện tới chân núi Pú Luông này, để bắt đầu cuộc hành trình đi bộ vào huyện Sông Mã. Mùa hoa ban năm rồi, Thế có lang thang trên vùng thượng nguồn sông Mã, nhìn lại con đường quốc lộ Mai-Mã (Mai Sơn - Sông Mã) trên trăm cây số, và hình dung ra lối đi tắt đầy nguy hiểm hàng chục cây số đường rừng từ Thuận Châu vượt qua các địa danh mà chỉ nghe tên đã đủ rợn gáy với cả dân bản địa, như Loong Hẹ, Mường Bám, Cắn Tỷ, Hói Sưa (dấu chân hổ), v.v., để sang tận vùng cao giáp biên này…

Năm trước, giai đoạn làm phim tài liệu phóng sự về Hậu cây thuốc phiện theo yêu cầu của Tỉnh, khi vào xã Loong Hẹ (Thuận Châu), Thế được trò chuyện với cụ Thào Ngọc Lương, một thủ lĩnh du kích xưa, một nhân sĩ trí thức người Mông có uy tín đặc biệt và rộng khắp. Với sự bộc trực hồn hậu của đồng bào mình, cụ đã bày tỏ tình cảm thắm thiết, sự biết ơn sâu xa đối với những thầy cô giáo đầu tiên đã về tới jao (làng Mông) hẻo lánh của cụ… Thế không ngờ đó lại là lần cuối cùng được gặp cụ - chỉ mấy tháng sau đó cụ qua đời; song hình ảnh cụ với chiếc gậy chống run run bên thửa mỳ đông khô cháy và những lời mộc mạc như thấm vào gan ruột của cụ sẽ in hằn trong tâm trí anh…

Phải khá nhiều năm tháng sau khi rời quãng đời làm thầy ở một thị trấn miền núi bình lặng, anh mới có thể hình dung được hết cái cuộc sống của những người đã từng trải qua hàng ngàn tới hàng chục ngàn ngày đêm tại những làng bản heo hút xa xăm trải khắp vùng Tây Bắc rộng lớn - những nơi mà ít nhất cũng phải mất vài đơn vị “ngày đường” đi bộ leo dốc, qua đèo cao thác dữ, lối mòn chênh vênh, nơi mà sương mù, thú dữ, sốt rét ác tính, những hủ tục lạc hậu dựng trường thành thử thách trước họ; và họ đã thực sự sống ba cùng với đồng bào, đã cảm hoá đồng bào và được đồng bào cảm hoá, đã hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ công dân bằng trái tim đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ giác ngộ… Nhớ lắm cái tình cảm ấm áp mặn nồng của người dân miền núi chất phác… Nhớ lắm những tháng ngày ròng rã với chiếc ba lô và chiếc gậy leo khắp các ngọn núi, bản xa để chiêu sinh mở trường mở lớp… Nhớ lắm những đêm rét cứa da thịt vẫn cầm đèn soi đường cho từng em học sinh ký túc xá, rồi xem chúng giắt màn đã kín chưa, chăn có đắp không… Nhớ lắm những buổi mưa rừng xối xả, thầy trò vừa học vừa kê lại bàn ghế tránh dột… Nhớ lắm những bữa canh bon, rau tàu-bay, củ sắn chia đôi, bát cơm độn sẻ nửa… Nhớ lắm những ngày lũ ống sụt đường trôi cầu treo, thầy trò vừa chạy lũ vừa tránh bom giặc… Nhớ lắm ngọn đèn dầu leo lét, bếp lửa sàn cháy thâu đêm… Thầy Nguyễn Hải kể lại kỷ niệm: một đêm lạnh giá, thầy được cô gái Mông con chủ nhà lấy chiếc váy Mông vốn dành cho đám cưới đắp cho, vì thương anh giáo rét run ngủ thiếp đi lúc soạn bài; tỉnh dậy mới biết, và thầy đã thầm khóc… Đó cũng là một thời của tuổi trẻ sôi nổi, với cây đàn ghi-ta phập phùng trong gian phòng tập thể sơ sài hay bên đống lửa đêm đông sương phủ, cái tuổi trẻ không thiếu những giây phút mộng mơ: “Ngọn gió Pu Luông thoa trên má em…” - như trong một bài hát của thầy Vũ Thụy và thầy Đinh Lành nói hộ tâm tình của đoàn quân giáo dục hầu hết đang ở tuổi đôi mươi, những người “xa quê hương chẳng hẹn ngày về” và mang trong tim hình bóng người con gái làng quê đồng bằng đương ngóng về phương trời Tây Bắc… Những cánh hoa ban ép vào sổ tay để gửi, kèm theo những câu thơ vụng về nhưng lóng lánh sương rừng buổi nắng mai dọc đường miền Tây… Nhiều người của Thế hệ đó, khi về hưu đã thật sự coi Tây Bắc là quê hương thứ hai của mình, trong niềm vui đoàn tụ đại gia đình, trong niềm tự hào về đàn con cháu vây quanh - những người đã sinh ra, lớn lên và lập nghiệp tại núi rừng Tây Bắc, nhiều người đang kế tục sự nghiệp giáo dục của họ… Vui với mảnh vườn ao cá, với luống hoa cây cảnh, dạy đàn cháu nhỏ học hành, hoặc ngồi phụ bán hàng với con cái giữa chợ phiên, họ vẫn giữ tận đáy lòng như báu vật những kỷ niệm đẹp của tình nghĩa thầy trò, đồng nghiệp; và họ thường kể lại những câu chuyện cũ của đời dạy học một cách say sưa, tự hào…

Nhưng có nhiều người của “Thế hệ 59” đã nằm yên nghỉ vĩnh hằng tại Tây Bắc trong niềm tiếc thương của đồng nghiệp và các thế hệ học trò. Đó là những nhà giáo đáng kính như Trần Xuân Lan, Doãn Thanh, Mai Trọng Thiệp, v.v. Thế đến thắp hương cho thầy Trần Xuân Lan tại nghĩa trang Nhân Dân thành phố Sơn La. Trong khói hương và khung cảnh tịch mịch, lòng anh chợt ấm áp lạ thường khi nhớ lại ánh mắt nụ cười cùng những câu chuyện dí dỏm của người đồng nghiệp lớn tuổi, người Anh, người Thầy tinh thần của anh, lúc anh còn là một “anh giáo” trẻ hiếu thắng mới lên Tây Bắc và đang là thầy giáo của con gái ông… Khi đó, nếu có ai nói với anh rằng: đó chính là người của Thế hệ “khai sơn phá thạch”, đặt nền móng đầu tiên cho ngôi nhà giáo dục Tây Bắc, thì anh cũng chỉ biết gật đầu đồng tình… Chỉ thời gian và sự trải nghiệm mới giúp anh dần hiểu được cái tầm vóc lịch sử mang tính chất “huyền thoại” của Thế hệ ông…

Vậy là Thế có cơ hội đến với nhiều làng bản xa khuất chìm trong núi xám, sương mù - nơi đã và đang có biết bao lớp thầy cô giáo âm thầm cống hiến tuổi xuân và hạnh phúc của mình cho tương lai của các em nhỏ. Nhưng hôm nay, giữa thời buổi văn minh điện tử, đồng bào một số vùng rẻo cao vẫn còn sống trong điều kiện của thời tiền sử… Làm sao có thể cầm lòng được trước những em học sinh dân tộc chân đất, áo chàm phong phanh mùa lạnh, lớp học ngổn ngang phân trâu ngựa và trống huếch tứ bề! Thương lắm những em nhỏ miền núi! Những người thầy đã và đang làm hết sức mình để các em khỏi phải sống kiếp thú hoang, cỏ dại! Ở mỗi ngôi trường vùng cao, vùng sâu, vùng xa, những thầy cô giáo hôm nay vẫn đang tiếp tục công việc của thế hệ tiên phong, kiên trì chống lại hủ tục lạc hậu và những ảnh hưởng phản động để giành giật lấy cho lớp học của mình từng em nhỏ có hoàn cảnh gia đình éo le… Cô giáo Phan Thị Nguyệt, trưởng Ban Giáo dục Sìn Hồ kể: “Có không ít cô giáo vùng sâu phải nén lại cả tình mẫu tử, gửi con nhỏ về quê để trụ lại với địa bàn giáo dục của mình… Trong số đó, có người là con của thầy giáo Thế hệ 59 - như cô giáo Lan ở xã Tà Ngảo”. Nhà giáo ưu tú Hà Minh, nguyên giám đốc Sở Giáo dục - Đào tạo Lai Châu - người tự nhận mình là “sản phẩm trực tiếp của Thế hệ thầy giáo 59” đã dẫn Thế tới thăm một số cơ sở giáo dục của huyện Mường Lay. Thầy Minh kể: sau cơn lũ quét khủng khiếp tháng 8-1996, toàn bộ các trường ở thị trấn bị san phẳng, thì ngay trong tháng 8 năm đó, các trường đã nhất tề dựng nhà bạt để duy trì năm học. Và cũng kể từ năm học khó quên đó cho tới nay, suốt gần 15 năm, trường tiểu học thị trấn Mường Lay vẫn liên tục giữ vững danh hiệu “Trường tiên tiến xuất sắc”, và giờ đây đã đạt chuẩn quốc gia trường tiểu học! Đứng trong khuôn viên đẹp đẽ khang trang của ngôi trường từng chỉ còn lại đất bùn và đá tảng này, Thế chợt hiểu vì sao khi nhắc lại quá khứ gian nan, những giọt lệ sung sướng đã ứa ra trên những cặp mắt đã bắt đầu mờ đục của nhiều thầy Thế hệ 59… Và anh cũng được nghe - từ chính những người thầy mà tâm hồn trong sáng như trăng rằm của Thế hệ đáng kính đó, những nỗi bức xúc, trăn trở về một vài chính sách đãi ngộ đối với giáo viên vùng cao, vùng sâu chưa hoàn thiện, có lúc có nơi chính sách lại không được thực hiện nghiêm chỉnh, thậm chí thiếu lương thiện, nên sự thiệt thòi đầu tiên lại là chính con em đồng bào miền núi phải hứng chịu! Nếu vậy, chắc hẳn đó là nỗi buồn, nỗi đau thấm thía nhất đối với người thầy Thế hệ 59!

Tại phòng truyền thống trường Phổ thông trung học nội trú tỉnh Lai Châu, Thế được thấy những tấm ảnh phóng lớn về một lễ truy điệu trang trọng tổ chức ngay giữa sân trường 10 năm trước… Một thầy giáo còn trẻ người dân tộc nhìn ra phía sông Đà, nghẹn ngào kể lại: Thầy Trần Duy Thời vốn là một thiếu sinh quân, tham gia quân đội chống Pháp rồi chuyển sang giáo dục, tình nguyện lên Tây Bắc theo “Đoàn quân 59”. Thầy Thời đã hy sinh ở tuổi ngoài đôi mươi, trong khi cố cứu sống hai em học sinh dân tộc trên sông Đà mùa mưa lũ… Mấy chục năm sau, sự hy sinh quên mình của thầy Thời đã được đồng nghiệp cũ là thầy Đạo Chúc nhiều lần ngược Tây Bắc tìm hiểu lại, xông vào hàng mớ thủ tục rắc rối để thầy Thời được truy tặng danh hiệu Liệt sĩ… Phải ngót nửa thế kỷ sau, gia đình thầy Thời mới có điều kiện đưa hài cốt thân nhân về an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ quê nhà huyện Nam Sách - Hải Dương… Ngày thầy Thời mang ba lô rời quê hương lên Tây Bắc, lúa đang thì con gái. Còn khi thầy Thời trở về quê hương, lúa đã vào độ chín vàng. Và ở trên quê hương Tây Bắc xa kia, vào mùa này, những cơn lũ rừng đã lắng lại, một năm học mới lại sắp bắt đầu như suốt 50 năm ròng đã qua…

      Đồng nghiệp của thầy Trần Duy Thời - những người từng gửi gắm những tháng năm đẹp đẽ nhất của đời mình cho Tây Bắc, khi trở về quê hương bản quán, ai cũng ấp iu trân trọng quãng đời đó, coi nó là một cội nguồn không hề vơi cạn của niềm tin, lẽ sống… Khi về xuôi, mang theo Những năm tháng vàng ngọc của nghĩa tình Tây Bắc - như tên một bài viết của thầy Vũ Dương Quỹ, họ đã động viên người thân vượt qua biết bao nghịch cảnh của thời chủ nghĩa thực dụng lên ngôi… Họ vẫn tham gia giảng dạy, viết sách tham khảo cho nhà trường… Thầy Đạo Chúc đang làm phim với Thế là người đã dành nhiều tâm sức để tổ chức Hội thảo nhằm giải oan, khôi phục lại diện mạo lịch sử cho bà Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ…

2.

Trong đợt làm phim dài ngày về Thế hệ Nhà giáo 59, Thế mới được biết: người anh kết nghĩa thân thiết của mình, nhà văn-nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Thái Lường Vương Trung cũng là thầy giáo thuộc Thế hệ này. Từ khi chuyển vùng về Thủ đô, có dăm bận Thế ngược Tây Bắc, và lần nào anh cũng phải cố gắng lên phố Thuận vào thăm ông.

Lần cuối cùng Thế gặp nhà văn Vương Trung là vào đầu mùa xuân năm nay.

Lúc đó, ông đã nằm bẹp trên nệm Thái. Thế ngồi bên ông rất lâu, không nỡ hỏi nhiều, dù ánh mắt ông cồn cào bao điều muốn nói với người bạn vong niên, đứa em kết nghĩa của ông từ thuở khốn khó năm xưa... Hoa mắc-cọp nở trắng vườn, và qua cánh cửa nhà sàn chúng như nhòe lệ. Dưới những chùm hoa này, bao lần ông hồ hởi trò chuyện với các bạn văn nhiều lứa tuổi, với thầy trò khoa văn sử trường Cao đẳng Sư phạm… Còn giờ đây, khi hoa mắc-cọp bắt đầu tàn để vào mùa bói quả, ông đã nằm yên nghỉ mãi mãi giữa núi rừng Tây Bắc. Ở một chuyến xe đêm tốc hành ngược Sơn La vào đúng ngày ông tạ thế, hồi nhớ về ông tràn ngập giữa sương mù và bóng tối đường trường...

Ngày ấy, từ căn phòng tập thể giáo viên của Thế đến nhà ông chỉ vài chục bước chân - một ngôi nhà sàn truyền thống cũ kỹ nằm trên sườn đồi, với mấy đứa con nhỏ lít nhít, và rất nhiều sách vở, bản thảo. Là cán bộ Sở Văn hóa Sơn La, làm việc ở thị xã, có khi vài tuần ông mới về nhà ở thị trấn Thuận Châu, nhất là vào những dịp đi điền dã khắp vùng Tây Bắc. Những dịp đó, ông vẫn nhờ Thế xem xét hộ việc học hành của cô con gái đầu lòng. Thế không sao quên nổi vóc dáng cây sậy của cô bé cấp một, chữ viết như gà bới, váy áo cóm xộc xệch, mặt mũi xanh xao bởi cõng em thường xuyên và đói ăn, lại mau nước mắt giờ đã là hiệu trưởng trường Phổ thông cơ sở Mường Ék, nơi ông cất tiếng khóc chào đời. Ông cũng từng nhờ Thế giúp tài liệu và hướng dẫn ôn thi vào khóa chuyên tu Đại học văn Tổng hợp; và cái thời ông về Hà Nội học là thời gia đình ông lao đao nhất... Vợ ông, một phụ nữ Thái cổ truyền nhỏ nhắn, bà làm cán bộ phát thanh huyện với giọng nói trong vắt, với tinh thần tận tụy, và làm "nội tướng" trong một gia đình cán bộ văn hóa nghèo sinh hoạt như dân bản!...

Việc đầu tiên của Thế khi bước vào ngôi nhà sàn quen thuộc là ôm choàng lấy đôi bờ vai gầy gò và để mái đầu trắng cước phủ khăn tang của bà nấc lặng lẽ trong lồng ngực anh. Gần hai năm trời chăm sóc chồng lâm trọng bệnh, thân hình bà giờ teo tóp lại tựa lõi cây rừng, song đã là chỗ dựa vững chãi nhất, nguồn an ủi lớn nhất của ông cho tới giờ phút chót! Và nhờ có bà cáng đáng gia đình qua bao đận gian nan, ông Vương Trung đã có thể yên tâm lao động chữ nghĩa nặng nhọc để lưu lại cho nền văn học dân tộc Thái và kho tàng văn hóa nước nhà không ít giá trị quý báu!

Ông xuất thân từ một dòng họ Mo chang dân tộc Thái đen ở xã Mường Ék - huyện Thuận Châu, nghĩa là dòng họ chuyên làm Mo (Lường mo, Lò tạo - họ Lường làm ông mo, họ Lò làm quan) như truyền thống xã hội Tây Bắc cũ. Ở vùng thập châu Thái xưa kia, và cho cả đến tận bây giờ, ông Mo mường chính là linh hồn của tập tục Thái, là người thâu nhận, tập trung những tinh túy văn hóa của cả một dân tộc có các ông tổ là Tạo Xuông, Tạo Ngần, Lạng Chượng... Những trí thức lớn đó của dân tộc Thái uyên bác về ngôn ngữ, hiểu biết sâu về lịch sử và văn hoá dân tộc, đồng thời còn là mưu sĩ của các triều đại chúa đất Thái.

Nhưng ông "Mo mường thời hiện đại" này (theo cách gọi vui và cũng khá chuẩn xác về ngữ nghĩa của một nhà văn bạn Thế) lại có tâm hồn của một nghệ sĩ. Từ thuở mới biết chọc sàn và thổi sáo tìm đường đến với trái tim các cô gái, Vương Trung đã bước vào con đường sáng tác văn học trên một nền móng vững chắc của văn hóa - văn học Thái. Cùng thời và cùng hòa nhịp với đoàn quân Giáo dục thế hệ 59 từ miền xuôi lên Tây Bắc, anh giáo tiểu học khu Tự trị Thái - Mèo Vương Trung đã sớm có những vần thơ được đồng nghiệp yêu thích; và đã có nhiều bài thơ ca tiếng địa phương được truyền miệng rộng rãi trong dân gian. Bà Lê Liên từng dạy học ở Mường Sinh (Tuần Giáo) nhớ lại: ngoài những bài thơ của mình, ông Vương Trung còn làm mê mẩn cả hội đồng giáo viên bởi những câu tục ngữ, dân ca vùng Tây Bắc cực kỳ thú vị. Ông có thể kể hàng giờ về những tình ca dân gian Thái, Kh'mú. Còn riêng Thế thì đã nhiều lần được sống mê say trong cái thế giới của người sống, của hồn ma và ở các mường Trời (Mường Then) thông qua những lời "khắp" sử thi và lời cúng mo bay bổng huyền ảo nhưng lại thấm đẫm sự sống được Vương Trung cùng nhiều nhà văn hóa dân gian Thái sưu tầm, chú giải và dịch ra tiếng phổ thông… Ông đã lao tâm khổ tứ trong việc sưu tầm, khảo cứu cả một hệ thống sử thi & trường ca dân gian khắp vùng Tây Bắc, nên truyện thơ của ông có sự gắn kết hữu cơ giữa tính sử thi như là hồi quang của những biến động lịch sử-xã hội với chất thơ của đời sống thường ngày thông qua sự cảm thụ vẻ đẹp tâm hồn cũng như sự bi thương bất hạnh của những số phận cụ thể... Trong số đó, Inh Éng là một truyện thơ nổi bật, đã được nhân dân khắp vùng Tây Bắc rất ưa thích, có nhiều người đã thuộc lòng cả tác phẩm… Còn những trang viết nghiên cứu của ông có sự thấu hiểu tường tận của người sinh ra từ đáy kho tàng văn hóa Tây Bắc, có rung cảm tinh tế của một hồn thơ, và có một tầm vóc lý luận đáng nể trọng; như sau khi phân tích bóng dáng xã hội trong truyện thơ dân gian về loài chim huyền thoại mang tên Kén Kẻo, ông đã khái quát về "đôi cánh lãng mạn" và "yếu tố thực ảo xen lẫn" của tác phẩm này xuất phát từ cánh bay thực của nhân vật trong cả một hệ thống hình tượng so sánh: cánh ngựa, cánh lá thuốc thiêng, cánh rồng… từ nhiều tác phẩm dân gian khác nhau không chỉ riêng ở Tây Bắc Việt Nam để định vị giá trị của nó.

Ông đã tặng Thế sáng tác dài hơi mới nhất của ông: tiểu thuyết Đất bản quê cha, như một "tập đại thành" những trải nghiệm của ông về cuộc sống và những hiểu biết về văn hóa - xã hội Thái. Đường dây truyện xoay quanh số phận hai nhân vật chính Pâng - Sượi, khởi nguồn từ motif "yêu nhau mà không lấy được nhau" thường thấy trong nhiều truyền thuyết, truyện thơ cổ dân tộc Thái. Ông cũng đi sâu vào khám phá tận tế vi đời sống tâm hồn của người Thái với chằng chịt mối quan hệ xã hội, tập tục địa phương, v.v., mà tác giả Mạc Phi với bộ tiểu thuyết Rừng động đã gợi ra. Ở đây, truyền thuyết cũ lồng trong truyền thuyết mới, là câu chuyện kể về người anh hùng Pâng Pun đã cùng vài người bà con đơn độc mở mương vắt qua vách đá hiểm trở Pha Dương dẫn nước suối Huổi Hiểm về khai khẩn đất hoang, cải tạo đất bạc màu giúp cho cả bản hướng thoát nghèo đói... Công việc đó của họ vấp phải biết bao sự thờ ơ, chống đối, không chỉ là những xỏ xiên bới móc, mà cả sự trả thù độc địa xuất phát từ mối thù cá nhân từ thế hệ trước... Kết thúc cuốn tiểu thuyết là hồi ức xót xa đầm nước mắt của mối tình đầu bất thành Pâng - Sượi, nhưng không kéo người đọc chìm trong bi lụy bởi nguồn cảm hứng sử thi mới của "chứng tích Pha Pâng Pun trị thiên nhiên" bên cạnh "núi Pha Tạo, Pha Nàng nuối tiếc nhìn nhau"... Và đó cũng là sự bắt đầu của sự sống mới, của tình yêu mới từ những đôi trẻ đang tìm cách xóa bỏ hận thù xưa của hai gia đình. Có lẽ, vì từng có một mối tình đầu bất hạnh được kể lại trong cuốn tiểu thuyết đầu tay Mối tình Mường Sinh gần như một tự truyện, nên Vương Trung càng có điều kiện thấu hiểu cảm thông cho tâm trạng đang yêu "mãnh liệt như sóng tung, thác dội" của những cặp trai gái, và ông đã khiến Đất bản quê cha có sức hút đắm đuối không ít độc giả trẻ tuổi! Đọc cuốn tiểu thuyết này, Thế có cảm giác ông Vương Trung đã từng trôi nổi qua nhiều vùng đất, nhiều nền văn hóa & văn học để tự tin trở về với dân tộc mình - không phải với tâm lý cổ "Mười bản không bằng bản rụng rốn/ Mười mường không bằng mường treo nhau" mà với một tâm thế cao hơn nhiều - tâm thế của một nhà văn khi đã hiểu rõ vùng quê mình như một "thầy pháp thuật" của tâm hồn và chữ nghĩa... Ông còn có cả mấy kịch bản văn học phim truyện viết rất công phu trao gửi cho Thế tìm cách đưa lên màn ảnh lớn - nhỏ: Chuyện tình ở đất Mường Sinh, Sự tích Hoa Ban, v.v. Nhiều thập kỷ qua ông lang thang cặm cụi hết bản nọ mường kia tìm gặp các già làng để nghe hát, hỏi han, ghi chép, nghiền ngẫm, lục tìm đọc hàng ngàn trang giấy nát phủ bụi trong các kho lưu trữ và trong nhiều ngôi nhà sàn cổ... Những công trình biên soạn công phu: Nhà sàn Thái, Phong tục tang lễ của người Thái đen xưa kia, những khảo cứu và dịch thuật dày công: Mo khuôn, Táy Pú xấc, Kén kẻo, Chương Han... đã lần lượt được in ra. Và còn bao công trình dang dở nữa! Ông đang thu thập tư liệu để làm nốt công trình biên khảo lớn về gia phả các dòng họ Thái ở Tây Bắc, và hiện đã hoàn thành cuốn dịch thuật & biên khảo Phanh mướng luông - tức là chuyện kể về lịch sử Mường lớn: Mường Muổi (Châu Thuận). Ông là người đam mê học hỏi. Cứ mỗi lần "hạ sơn" về Hà Nội họp hành, khi quay lên ông lại vác theo hàng đống sách do Thế và mấy giáo viên văn cũ tìm hộ - nhất là những sách lý luận về văn học, mỹ học, ngôn ngữ, văn hóa... Hễ có dịp là ông lại đi đây đó khắp mọi miền đất nước. Có lần, ông theo Thế lên nghĩa trang Yên Kỳ nhân đám tang của một gia đình người bạn, hỏi han ghi chép tỉ mỉ để nhận ra sự khác biệt về phong tục tang ma giữa hai miền văn hóa... Và những điều ông khảo tả kỹ lưỡng trong công trình Phong tục tang lễ của người Thái đen xưa kia đã được họ hàng, bè bạn, dân bản quanh vùng trân trọng phục dựng lại phần nào, bằng chính đám tang ông!

Từ đêm trước, những thủ tục đưa ma đã được bắt đầu. Khi Thế đến, ánh dương chưa xuất hiện trong khu vườn còn quanh quất hồn chủ nhà như đang thủ thỉ tiễn biệt từng gốc cây già mốc thếch, từng trái mắc-cọp bé bỏng... Năm trước khi viết kịch bản phim truyện có liên quan tới đám tang một người vợ trẻ ở bản Thái đen, Thế đã chăm chú nghe ông giải thích cặn kẽ tập tục của đồng bào lúc đưa ma. Ông kể, theo quan niệm xưa, linh hồn người nghèo khi chết nếu không có của cải làm lễ cúng ma (dệt Heo) thì sẽ không được về mường Trời mà phải lang thang cô quạnh dưới đất làm ma tà (phi ha); và để lên được một tầng cao hay thấp trên cõi Trời là do có tiền làm lễ Heo nhiều hay ít... Với sự bộp chộp hiếu thắng, Thế hỏi ông: "Lên mường Trời mà cũng chỉ phân chia đẳng cấp theo số đầu gà đầu lợn và tiền bạc sao?" Ông không nói gì, chỉ tới khi hai anh em khề khà bên chén rượu ngâm mơ vườn nhà, ông mới khẽ khàng: "Này chú em! Cái bất công trong thế giới người sống lẫn người chết mà chú nói lúc nãy, thời bây giờ còn nặng hơn nhiều lần đấy...". Rồi ông lặng lẽ uống. Tới hôm nay, khi con cháu đã cố lo đủ số lễ "dệt Heo" để ông khỏi thành phi ha, buổi sớm nhập nhoạng đó dường như âm âm vọng những lời ông chưa kịp nói: "Chú nghe nhé, người cầm bút chúng ta cần minh chứng thật thuyết phục cho cái điều chưa từng có trong tục lệ cũ: để lên các tầng của mường Trời, không nhất thiết cần có nhiều tiền của - dù là tiền của trong sạch, mà cái cần nhất là sống thế nào để khỏi hổ thẹn với cháu con...". Quyển Xán xông (Khóc tiễn đưa hồn) đang mở trước mặt người con rể trưởng thay thầy cúng cất giọng buồn thương “khắp hảy phi tai” (hát khóc hồn người chết) bộc lộ ước vọng muôn thuở của người đời: Mình lên mường Trời, hãy ở đấy/ Lên đến ruộng hạn không trồng dâu/ Ruộng bậc thang không trồng lúa/ Để dành gái trai tung còn/ Muốn ăn, cơm khắc đến/ Muốn ăn, cá khắc về… Nhưng hồn đâu thể bình tâm hưởng hạnh phúc một mình nơi cao sang, hồn còn nặng nghĩa với nhân quần, vì vậy người sống đã nói hộ nguyện vọng lắng sâu của hồn là muốn làm chỗ dựa tình cảm, động lực tinh thần cho những người thân yêu: Hồn hãy về mường Sại/ Về ngăn nước vào ruộng/ Về kiếm cá nuôi con/ Về cấy lúa nuôi nhà/ Hãy về nhà về cửa, hồn hỡi... Giữa những lời khóc ma ấy, kèm tiếng hời họa theo của phụ nữ già trẻ chít khăn trắng đang ngồi bên quan tài được phủ bằng khăn piêu, trong khi mấy người già đương buộc chỉ đen vào cổ tay những người trẻ tuổi để giữ hồn đừng vội đi vội quên, Thế chợt rưng rưng nhớ tới lời khấn của nhân vật chính trong tiểu thuyết Đất bản quê cha lúc kể lại thân phận mình: "Đời đầy bụi gai đống sỏi, đổ mồ hôi sôi nước mắt..." Nhưng dù phải "tốn phí quãng đời dài như rác rưởi trôi sông, gặp bao cảnh chìm nổi theo sóng cuộn, vật vã theo sóng tung" khắp các vùng núi Tây Bắc, Đông Bắc, dù không ít đận "gặp hổ sói, vốn liếng bay sạch như bông lau tàn theo gió cuốn" thì nhân vật của ông cũng luôn sống hiên ngang, không bao giờ dùng tới những thủ đoạn hiểm ác - như tay thầy cúng Lào Tóng từng lợi dụng mê tín của dân để bịa ra hồn ma khủng bố tinh thần người lương thiện... Phải chăng, đó cũng chính là cách ông dạy dỗ các con trai gái dâu rể và các cháu của mình trở thành những con người mà ông đã có thể yên tâm gửi gắm lại cõi đời? Phải chăng, đó cũng chính là con đường sáng tạo ăm ắp gian truân và tròn đầy trung thực của nhà văn Vương Trung?

Thế chợt lặng người nhớ về một Thị trấn Phố núi bình dị giờ đây đã không còn bóng ông đi chậm chạp với cây gậy chống sau lần tai biến, thỉnh thoảng dừng lại hỏi han một người dân bản mang nông sản bán rong, hoặc ngẩn ngơ trước một ý thơ run rẩy vụt hiện giữa bóng núi chợt sẫm lại bởi mõ trâu về bản trên dòng suối Muội... Nhưng khi nhà văn lão bản nằm yên nghỉ trên một nghĩa trang nhìn xuống thung lũng của những thửa ruộng nước thấp cao xinh xắn, dưới bóng đỉnh Pú Luông - Khau Tú trầm mặc, linh hồn ông dường còn thầm thì mãi cùng rừng thông về cuộc sinh tồn và sức mạnh tình nghĩa của đồng bào ông đã và đang trải qua "bao cảnh chìm nổi theo sóng cuộn" - để tới không phải một Mường Trời nào như hằng ước, mà tới một cuộc sống yên bình no ấm ở bất kỳ nơi trần thế nào có thể trở thành "Đất bản Quê cha"… Anh ơi, anh đã tạo ra vài truyền thuyết mới về sức mạnh tinh thần của con người trong cuộc mưu sinh gian khổ, và các thế hệ sau cần lấy chính cuộc đời anh để bổ khuyết vào cái "tiêu chuẩn" được lên mường Trời mà sự giàu có về tri thức và lòng nhân ái mới là điều tiên quyết…

3.

Trong thời gian làm phim về “Thế hệ nhà giáo 59”, ở thị xã Điện Biên, Thế và ông Chúc được hiệu trưởng trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên Cầm Thủy kể cho nghe về một cô con dâu đặc biệt của người Thái Điện Biên. Ông Thủy cười bảo: “Chú mày cứ đi tìm đề tài tận đẩu đâu, cuộc đời của bà con dâu người Thái này là cả một bộ phim rất hay đấy!...”. Và chỉ năm sau, anh đã có dịp được gặp “nhân vật” đặc biệt đó…

Trên chuyến xe khách đường trường đưa hơn 30 nhà giáo thế hệ 59 trở lại thăm Điện Biên để dự Lễ kỷ niệm 50 năm, có một phụ nữ nhỏ nhắn lanh lợi; và nếu mới tiếp xúc, không ai có thể nghĩ rằng chị cũng là người của Thế hệ giáo viên 59, đã ngấp nghé tuổi 70. Chị ân cần quan tâm săn sóc những đồng nghiệp lớn tuổi hơn, sẵn sàng đọc bài thơ dành cho lễ gặp mặt khi được yêu cầu... Thế lân la bắt chuyện làm quen. Lúc nghỉ dọc đường, chị giở cho Thế xem một bức ảnh đen trắng cũ kỹ, trong ảnh có một phụ nữ trẻ mặc áo cóm Thái, tóc búi tằng cẩu. "Chị đấy, lúc có mang đứa thứ hai". Thấy anh tròn xoe mắt, chị cười: "Làm dâu người Thái mà!"... Cứ thế, chị dẫn anh trở về với những năm tháng xa xưa, với mối tình Kinh - Thái đặc biệt của chị...

Chị là cô giáo Lê Liên, được sinh ra ở một huyện lỵ Cao Bằng. Dòng họ Lê của chị có xuất xứ xa xưa từ Thanh Hóa, kể từ một viên tướng chưa rõ vì lý do gì đã lên miền ngược để hòa nhập với cộng đồng người Tày... Tuổi thơ của chị sống bên ông bà nội, cha mẹ, chú bác, trong không khí của một gia đình cách mạng "nòi"; và gắn với với bước đường chinh chiến của người cha nguyên là Quân khu trưởng Quân khu Tây Bắc. Từ khi là một cô bé chưa thạo mặt chữ cái, chị đã quen với chuyện cõng em chạy càn, tránh bom đạn, quen với bàn tay thô nháp người cha chớp nhoáng vuốt lên khuôn mặt gầy gò của con gái lúc nhá nhem tối để rồi sau đó biền biệt theo các chiến dịch miền Tây Bắc, Đông Bắc, Biên giới... Cho tới năm 1953, đang học lớp 3 tại trường Thiếu sinh quân Việt Nam, chị được Nhà Nước cho sang học tại trường Thiếu nhi Việt Nam tại Lư Sơn, Quế Lâm, Trung Quốc cho tới năm 1957...

Những năm học tại trường Sư phạm miền núi Trung ương (57-59) lại là cái mốc quan trọng của cả đời chị. Bước vào tuổi 17 hồn nhiên nghịch ngợm, bé nhất lớp, chị đã bắt gặp một "mối tình sét đánh"... Anh Lò Văn Pấng, người Thái Điện Biên - cán bộ đi học. Sống xa gia đình từ nhỏ, trước một người con trai thông minh, tế nhị, ham hiểu biết và giàu tình cảm, chị đã mau chóng coi anh như một người anh lớn, một người thầy - thậm chí còn như một người cha... Chuyện phải đến đã đến... Chị kể lại: giờ đây, sau rất nhiều năm tháng, chị vẫn còn giữ nguyên vẹn cái cảm giác ngọt ngào khó tả sau cái hôn đầu đời hai người trao cho nhau - ngay trong giờ tự học trên lớp buổi tối... Nhưng hồi đó, học sinh yêu nhau bị coi là một khuyết điểm trầm trọng! Họ thầm lặng nuôi giữ mối tình đầu, cho tới lúc bị phát hiện ra bởi chị sơ xuất đánh rơi bài thơ tặng anh, một bạn gái vô tình nhặt được đem báo cáo thầy chủ nhiệm. Anh bị kiểm điểm nặng hơn chị, và mặc dù điểm thi tốt nghiệp của hai người đều là 4 và 5 (thang điểm cũ), bằng tốt nghiệp của họ chỉ được ghi loại trung bình.

       Tốt nghiệp, đúng vào dịp có quyết định của Bộ Giáo dục lần đầu tiên cử giáo viên miền xuôi lên miền núi công tác, chị viết đơn tình nguyện đi Tây Bắc. Bạn bè, thầy cô giáo, và nhất là gia đình ngỡ ngàng, bởi họ đinh ninh rằng: một thiếu nữ con cán bộ quân đội cao cấp, nơi xin việc phải là chỗ thơm tho, đáng giá, thậm chí phải là chốn "Cung môn" chứ không phải là "miền Tây xa vời vợi nghìn trùng" đầy lam sơn chướng khí… Nhưng, không ai có thể ngăn cản quyết định đó của chị… Trước khi lên Sở Giáo dục Khu tự trị Thái - Mèo (sau đổi  thành Khu tự trị Tây Bắc), chị đã báo cáo lại gia đình mối quan hệ với anh Pấng. Cả gia đình chị phản đối quyết liệt. Cha chị thì bàng hoàng không tin nổi, và kiên quyết không chấp nhận mối tình này - với lý do: chị còn ít tuổi, chưa đủ điều kiện xây dựng gia đình, và hệ trọng nhất là: gia đình bên anh Pấng có người đi lính cho Pháp... Thương cha mẹ, chị khóc hết nước mắt để hứa cắt đứt quan hệ tình cảm với anh.

Tháng 9 năm 1959, chị bám theo một chuyến xe tải của đơn vị cha lên thủ phủ Khu Tây Bắc nhận nhiệm vụ. Tại lớp tập huấn giáo viên toàn Khu ở Sở Giáo dục, chị gặp lại anh. Họ nhận ra rằng: không thể rời xa nhau được nữa… Sau đó hai người cùng được phân về dạy tại châu Tuần Giáo (lúc đó Khu tự trị Tây Bắc có 18 châu). Hè năm 1960, anh đưa chị về Điện Biên để ra mắt đại gia đình. Trước đó, sau mấy đợt di dân khai hoang từ xuôi lên cũng xuất hiện vài gia đình chồng Thái - vợ Kinh, và hình thành những giai thoại cười ra nước mắt khắp các mường Thái quanh Điện Biên: nào là: "con dâu người Kinh ngồi lên đầu giường bố chồng...", nào là: "vỗ vai mẹ chồng đang giã gạo rồi khen: mẹ khỏe lắm", v.v. Sự kiện một cô giáo miền xuôi lên làm dâu người Thái đã làm xôn xao thung lũng lòng chảo này một thời gian dài... Và một đám cưới theo phong tục người Thái đã được tổ chức vào cuối hè năm 1960, không xe hoa, không váy cưới… Cuộc hôn nhân của anh chị đã bổ sung một cách nghĩ mới mẻ trong quan niệm của dân Thái Điện Biên về hôn nhân giữa các dân tộc!

Khi chị có mang con đầu lòng, anh đang dạy học ở trường cấp I Mường Ảng thì được Bộ Văn hóa mời về trường Cao đẳng Mỹ thuật Yết Kiêu để theo học điêu khắc. Thì ra, hồi học ở trường Sư phạm miền núi Trung ương, anh có làm một bức phù điêu gửi tặng nhà trường; một chuyên gia mỹ thuật Liên Xô tình cờ ngắm nghía bức tượng, phát hiện ra năng khiếu của anh bèn làm công văn đề nghị trường Mỹ thuật đừng để bỏ phí một tài năng trong dân dã...

Thế là, chưa đầy hai mươi tuổi, chị đã đứng trên bục giảng với tư cách một cô giáo của "Thế hệ giáo viên 59" lịch sử, và đồng thời là một người vợ chuẩn bị làm mẹ; từ đây, chị cũng bắt đầu cuộc sống "chồng xuôi vợ ngược" tới suốt 8 năm sau… Để hợp lý hóa gia đình, chị xin lên Điện Biên công tác, sống ở nhà chồng và được dạy học gần nhà độ một năm vì có con nhỏ… Gia đình anh - bà nội, bố mẹ, các em và cả dòng họ yêu quý chị. Người Thái vốn giàu tình cảm, gặp được một cô dâu là "thầy giáo" sống chân thật, giản dị và rất biết cách cư xử, gia đình nhà chồng lại càng nâng niu chị hơn… Tình thương và lòng trân trọng đó chính là chỗ dựa chắc chắn nhất cho chị để có thể vượt qua những rào cản về ngôn ngữ, phong tục tập quán, sự thiếu nghèo gian nan của một cô giáo xa quê hương, nuôi con nhỏ, để vừa đảm bảo công tác vừa làm tròn phận sự của người con dâu đồng bào dân tộc...

      Ở tuổi "ăn chưa no, lo chưa tới", chị đã có một lớp học trò nhiều dân tộc - có em chỉ kém chị một, hai tuổi, có em đã xây dựng gia đình. Chị đếm đốt ngón tay điểm lại những em học sinh lứa đầu tiên của chị - sau này hầu hết trở thành những cán bộ lãnh đạo chủ chốt các ngành của huyện, tỉnh, và cả Trung ương… Từ mái trường nơi tiếp giáp Đất-Trời (Phạ Đin), bàn chân của cô giáo nhỏ nhắn đã đặt tới nhiều làng bản của Lai Châu, Điện Biên. Và một núi công việc chuyên môn, chính quyền, đoàn thể đổ lên đầu một phụ nữ trẻ qua chưa lâu cái tuổi hát những bài hát nhi đồng, lại phải học nói tiếng Thái, tập mặc áo cóm, tập "khắp" (hát) dân ca Thái, tập giã gạo bằng chân, tập thêu thổ cẩm, tập búi tóc lên đầu (tằng cẩu) cho đúng tục lệ phụ nữ đã có chồng, tập ăn tập làm những món ăn của người Thái như: rêu đá, ngóe nấu măng chua, nậm pịa, cá pỉnh tộp… Trong khi đó, chồng xa biền biệt, chỉ đôi lần về nghỉ phép hè. Chị sinh con thứ hai đúng vào năm bắt đầu có chiến tranh phá hoại - vừa chăm con, vừa quản lý trường cấp I xã Thanh An toàn là giáo viên nữ, lại vừa lo sơ tán trường... Ngôi trường đầu tiên của chị, trường cấp I châu lỵ Tuần Giáo xưa đã trở thành trường tiểu học số I thị trấn Tuần Giáo - trường đầu tiên của vùng Tây Bắc đạt chuẩn Quốc gia tiểu học, và được tặng danh hiệu "Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới" - thành tựu ấy có công lao không nhỏ của "Thế hệ thầy giáo 59", mà chị lại là một trong những "người thầy đầu tiên"...

Chồng chị học mỹ thuật hết ba năm trung cấp, rồi lại tiếp tục năm năm cao đẳng nữa. Học tới năm thứ ba cao đẳng thì anh ngã bệnh, phải về nhà chữa bệnh hết hai năm. Chị đang học Quản lý Giáo dục tại Hà Nội thì nhận tin dữ: anh bị nhiễm trùng máu và phải cấp cứu. Chị liền vội quay lên Điện Biên, rồi thấy tình hình chồng ngày càng nguy kịch, chị đưa anh về bệnh viện Bạch Mai Hà Nội. Nhưng anh đã không qua khỏi... Từ ngày tang tóc đó cho tới nay đã 40 năm, chị ở vậy nuôi con khôn lớn trưởng thành; người con trai út theo con đường của cha. Qua giọng đọc thơ còn mang âm hưởng của một cô giáo trên lớp và sự dịu dàng của một phụ nữ quen chịu đựng, quen vượt nhiều gian khó mất mát, Thế hiểu: thẳm sâu trong tâm hồn nữ nhà giáo nhỏ nhắn ấy luôn thường trực cái thanh âm xốn xang thắm thiết của mối tình Điện Biên năm mươi năm trước cùng sức quyến rũ kỳ lạ từ những tác phẩm để lại của chồng:

Anh thổi hồn vào đất

Cô gái Thái say sưa ‘Tiễn dặn mặt trời’

Anh thổi hồn vào đá

Thiếu phụ nựng ‘Mặt trời của mẹ’ trên lưng

Thịt xương anh hòa với đất

Cho con anh nối tiếp bước chân

Cho hoa ban Thành phố mới trắng ngần...

Mối tình của cô giáo Hồng Liên và nghệ sĩ điêu khắc Lò Văn Pấng đã góp thêm một "truyền thuyết" mới về loài hoa kỳ lạ chỉ Tây Bắc mới có, đã kịp hóa thân vào những cánh hoa ban trắng muốt phủ khắp núi rừng vào mùa xuân… Còn Thế có thêm chất liệu để anh có thể xây dựng được kịch bản điện ảnh về một cô giáo miền xuôi làm vợ nghệ sĩ người Thái Tây Bắc…

4.

Trong lần lên Điện Biên theo đoàn giáo viên 59 của chị Liên, Thế có ý định dành một buổi tới thăm cô giáo Yến và gia đinh em. Nhưng cô nhắn qua thư tay:

Em nhớ anh lắm, rất mong gặp lại anh. Nhưng chồng em là người cả ghen, lại biết được chuyện anh em mình qua hàng xóm, nên tốt nhất là chúng ta không nên gặp nhau ở trên này. Có dịp về xuôi, em nhất định tới thăm anh, không, thăm cả gia đình, vợ con anh chứ, anh nhé?

Em gái anh!

Thế là anh dành buổi đó vào thăm Bảo tàng Điện Biên Phủ. Có một bức ảnh tư liệu của Pháp đặc biệt thu hút Thế: bức ảnh chụp một người phóng viên mặt trận đang bị ngã cố bảo vệ chiếc máy quay, và có thể vẫn đang bấm máy. Không có một dòng giải thích, bởi cán bộ Bảo tàng chưa có thời gian xác định lai lịch bức ảnh, song Thế khẳng định được ngay: nhân vật trong bức ảnh chính là đạo diễn người Pháp P. Schoendoerffer - tác giả của bộ phim Điện Biên Phủ phát hành tại Hà Nội hơn chục năm trước. Có một trường đoạn đầy rung cảm và có lẽ là hay nhất trong bộ phim nói tiếng Pháp này: Nhà hát Lớn thành phố một đêm đầu tháng 5 năm 1954. Khán giả chìm trong im lặng khi cây đũa của nhạc trưởng người Việt giơ lên, và âm thanh trầm buồn của dàn giao hưởng tấu bản Requiem (nhạc cầu hồn) làm nền cho tiếng vĩ cầm réo rắt của một nữ nhạc công Pháp. Rồi âm thanh đó tràn sang toàn bộ cảnh chồng hình những chiếc Dakota bay đen bầu trời và những cột khói lửa bốc lặng lẽ… Thật thú vị đến bất ngờ, Thế bắt gặp người đạo diễn của bộ phim đó ở ngay trong bảo tàng nằm giữa chiến trường xưa:  Phải chăng, khúc tưởng niệm về một cuộc chiến bi thảm đã dạo hoà âm mở đầu trong tâm hồn Schoendoerffer ngay từ cú bấm máy đặc biệt ấy?

Lúc đó, Tây Bắc đang mùa ban nở. Hoa ban làm bừng sáng các hẻm núi, vực sâu, những vạt đồi trơ trụi. Hoa ban trắng đến ngẩn ngơ - thứ hoa hút hồn cả tuổi trẻ của Thế trên vùng núi hiểm trở và khắc nghiệt này… Không gian ấy dường làm sinh động thêm  nhân vật chàng phóng viên quay phim mặt trận của bộ phim Pháp - hình bóng của chính Schoendoerffer ngày nào (diễn viên đóng vai này là con trai đạo diễn), hình ảnh tiêu biểu của lớp thanh niên Pháp ngày ấy bị ném vào lò thiêu của một cuộc chiến mà chỉ những kẻ chủ mưu mới hiểu rõ mục đích! Còn phần lương tri của nước Pháp văn minh đã mang trọn khúc cầu hồn tưởng niệm lúc rải rác, lúc dồn dập, dần trở thành bản giao hưởng của nỗi dày vò khôn nguôi, để rồi phát triển thành chủ đề khát khao đối thoại trong tình hữu nghị qua hàng loạt diễn văn, đáp từ, cảm tưởng… của các chính khách, nhà quân sự, nghệ sĩ Pháp - đặc biệt là những sĩ quan binh lính Pháp từng tham gia chiến trường Điện Biên Phủ, như Pierre Le Roy, Rombu Laret, Pierre Rossion, Fabies Alain, Marie Véronique, v.v. Câu nói của ông cựu đại sứ Pháp Louis Amigues dường như có thể cô đúc tâm trạng của nhiều người Pháp: “Ne pas oublier, pour ne pas recommencer” (không bao giờ quên, để không bao giờ lặp lại).

Trong một cuộc họp báo tại Paris, để trả lời phỏng vấn: “Ông tạo ra bản Requiem ở trong phim với dụng ý gì?”, người đạo diễn mỉm cười: “Xin quý vị hãy xem phim của tôi. Tôi đã làm cả một bộ phim chỉ để giải đáp mỗi câu hỏi đó". Để thực hiện một bộ phim tốn kém về lịch sử chiến tranh, Schoendoerffer đã phải huy động vốn liếng của nhiều người, trong số đó không ít là những cựu binh Điện Biên Phủ. Có hiểu cái guồng quay thương mại của điện ảnh phương Tây thì mới càng thấy trân trọng Schoendoerffer khi ông làm ra một bộ phim chỉ cốt để góp phần giải toả “hội chứng Điện Biên Phủ” cho cả một thế hệ, trong đó có ông…

Trên đường vào Mường Phăng, qua các làng bản đơn sơ nhưng yên bình của đồng bào dân tộc, Thế bỗng nghĩ đến những con người buộc phải rời xa ruộng đồng và người thân, buộc phải cầm súng từng nhẫn nại làm công việc chấm dứt “bản giao hưởng chiến tranh” kinh hoàng. Sau lưng họ là những thôn làng bốc lửa, những ngôi đình đổ sụp, những lũy tre cháy vàng vì bom napalm… Không ai có thể quên cái cảnh bản Noong Nhai ở Điện Biên bị đốt phá. Những ngôi nhà sàn êm ấm cháy rừng rực, tiếng kêu khóc của đàn bà con trẻ lẫn tiếng rú gào của súc vật trong cơn hoảng loạn… Cho dù ngày hôm nay chúng ta đã quên đi hận thù, mở rộng cửa đón bè bạn bốn phương kể cả những người là cựu địch cũ tới VN, nhưng sự thật lịch sử đắng ngắt sẽ không bao giờ hoá thành thơm ngọt. Bản tưởng niệm của phía Việt Nam không có chương dành cho sự xuê xoa, xuý xoá, bợ đỡ, biến trái thành phải. Nhưng bản tưởng niệm đó lại có chương dành cho lòng nhân từ. Nếu ở thời Lê Lợi - Nguyễn Trãi, những kẻ xâm lược bị bắt được cấp lương ăn ngựa cưỡi để trở về, thì ở thời đại này, những người tù binh Pháp đã được sống trong danh dự dù là danh dự của người bại trận. Họ được hưởng chế độ tù binh theo công ước quốc tế, cùng sự cảm thông của người lính Việt Nam. Và chính điều đó đã làm cho bản tưởng niệm về sự đại bại của người Pháp bớt hẳn đi màu sắc bi thảm.

Sáng tạo nghệ thuật của Schoendoerffer quả là độc đáo khi cho anh nhạc trưởng người Việt Nam và cô ca sĩ người Pháp cùng đứng trong dàn giao hưởng tấu lên khúc tưởng niệm, cầu hồn chung về Điện Biên Phủ. Dễ hiểu vì sao, Schoendoerffer, từ đỉnh cao của khát vọng hoà đồng giữa những con người đã trầm tư trên cánh đồng chết chóc cũ: “Tôi tưởng nhớ đến những chiến hữu của chúng tôi và tôi tưởng nhớ đến những chiến hữu của các bạn”. Đó cũng là cảnh kết phim. Sự “tưởng niệm” chính là “chìa khoá” nghệ thuật, là cái “thần nhãn” của bộ phim hoành tráng này.

Thế vác máy quay tới đồi Him Lam, thật tình cờ, anh gặp cả hai đoàn cựu binh Pháp và Việt Nam cùng thăm lại chiến trường cũ. Một cựu binh Pháp giở bản đồ, rồi chỉ ra các hướng. Một người khác bốc nắm đất cho vào túi giấy… Còn bên đoàn cựu binh Việt Nam ồ lên thích thú khi tìm thấy một chiếc mũ sắt đã hen gỉ. Có đôi ba người chống nạng vất vả. Rồi cả hai đoàn cựu binh gặp gỡ nhau trong lịch sự và niềm nở; thích thú truyền tay nhau chiếc mũ nát… Trong đoàn cựu binh Việt Nam, có một nữ ca sĩ lớn tuổi rơm rớm nước mắt, bà bất giác cất lên tiếng hát bài Ave Maria của F. Schubert. Không gian chỉ còn tiếng chim hót và tiếng gió thổi trên đồi cây… Lúc nghe tiếng hát, Thế bâng khuâng nhớ tới tiếng đàn mẹ anh thường chơi các bản nhạc của Schubert, Schumann…

Phải, những bản tưởng niệm dù sâu sắc thành kính đến đâu cũng tới lúc cần nhường chỗ cho những bài ca của tình yêu và mơ mộng, của khát vọng sáng tạo… - Đó cũng chính là câu kết lời bình bộ phim tài liệu: Từ một khúc cầu hồn Điện Biên Phủ của Thế, bộ phim mà sau đó Phát hành phim Quân Đội đã đề nghị mua để phát hành vào dịp Kỷ niệm Thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam ngày 22 tháng 12 năm ấy.

Ông Giám đốc Phát hành phim Quân đội bắt tay cám ơn Thế rất chặt và hy vọng anh có những phim truyện đề tài chiến tranh trước hết chiếu phục vụ lực lượng vũ trang. Thế định nói: “Đề tài này sẽ có những đạo diễn hiểu biết về chiến tranh hơn em thực hiện… Và loại đề tài liên quan tới kinh phí lớn thế này chắc chắn sẽ có sự đóng góp nhân - vật lực không nhỏ của Quân đội, thì một kẻ như em còn lâu mới được giao phim!”. Nhưng anh chỉ trả lời ngắn gọn: “Cám ơn đồng chí!”.

5.

Ngoài Tây Bắc thì văn hóa - lịch sử vùng quê Kinh Bắc cũng là mối quan tâm đặc biệt của Thế, và khởi nguồn có thể là từ ngày anh mới vào Xí nghiệp phim truyện được xem bản Pô “tươi giãy đành đạch” (tức phim vừa ra lò còn tiếp tục hoàn thiện về kỹ thuật chỉnh sáng, âm thanh chỉ chiếu nội bộ, chưa thể phát hành) bộ phim Cho đến Tháng Mười của đạo diễn đàn anh Đặng Nhật,  trong đó có trường đoạn “Chợ Âm Dương” - trường đoạn khiến đạo diễn phải toát mồ hôi hột chống dỡ bởi phê phán của Lãnh đạo: Tuyên truyền cho mê tín dị đoan! May là lúc đó Thế đang có cuốn Địa chí Hà Bắc, anh dò tìm được lai lịch: Chợ Âm Dương (còn gọi là chợ Âm Phủ) là một chợ đặc biệt theo quan niệm là nơi người chết và người sống có thể gặp nhau, nước ta có vài chợ nhưng đặc biệt nhất là ở Bắc Ninh có 2 chợ âm dương là chợ Ó và chợ Chằm. Chợ Ó họp ở địa phận làng Ó, xã Võ Cường, thành phố Bắc Ninh. Tương truyền ngày xưa đó là bãi chiến trận và đã có rất nhiều người chết trong các cuộc giao tranh. Chợ Âm Dương chỉ họp duy nhất mỗi năm một lần vào đêm mùng 4 rạng mùng 5 Tết Nguyên Đán. Đây là chợ mà không có lều quán, không sử dụng đèn nến để thắp sáng. Nhiều người đi chợ thường mang theo một con gà đen được chăm sóc cẩn thận trước đó để làm vật tế thần… Thế vội đem ngay cuốn sách này cho ông Đặng Nhật làm “bảo bối” để hóa giải thành công các cuộc đấu tố tư tưởng của Xí nghiệp phim diễn ra sau đó. Và đạo diễn Đặng Nhật bắt đầu yêu quý nể trọng Thế, ông đã bênh vực tay đạo diễn trẻ bằng mọi cách - từ lúc ông làm Xưởng trưởng một xưởng phim tới khi làm Tổng thư ký Hội Điện ảnh.

Sau khi Thế mướt mồ hôi trán hoàn thành bộ phim nhựa đầu tay, anh được Sở Giáo dục Bắc Ninh mời lên đặt hàng làm một bộ phim tài liệu khoa học có tính chất phóng sự về Học vấn đất Kinh Bắc Xưa và Nay. Việc đầu tiên là Thế tìm đến ông Kỳ, trưởng nam của thi sĩ Hoàng Cầm - nhà nghiên cứu văn hóa quê gốc Song Hồ, Thuận Thành, Bắc Ninh. 

Qua một nhà thơ, phóng viên báo Bắc Giang, Thế được gặp ông lần đầu tại thư viện của thị xã Bắc Giang. Mới gặp, ông có vẻ lịch sự xã giao, thậm chí như hơi đề phòng - thói quen hình thành trong một hoàn cảnh gia đình đầy sóng gió đã ảnh hưởng sâu đậm tới cuộc đời ông...  Nhưng dần dà, cái vỏ ngoài ấy đã biến mất hẳn sau nửa giờ trò chuyện, khi ông hiểu rõ rằng: trước mặt ông là một "con mọt sách", đang muốn tìm hiểu về văn hóa vùng Kinh Bắc... Với tư cách là phó giám đốc thư viện, ông đã nhiệt tình tìm giúp anh những tài liệu cần thiết. Ông không mệt mỏi giải thích cho anh vài tồn nghi khoa học - như một nhà nghiên cứu thứ thiệt, và với nguồn cảm hứng của một nhà thơ về một vùng đất dày đặc trầm tích văn hóa & lịch sử... Ông mời Thế đến thăm nhà ông, một ngôi nhà nhỏ nằm trong hẻm dốc ở rìa thị xã. Vợ ông, một phụ nữ hiếu khách trong vẻ nhẫn nhịn lặng lẽ quen thuộc của người Kinh Bắc, chị chào Thế rồi xin phép quay đi, lúi húi với đàn gà đàn lợn...

Thế trân trọng mời ông cùng tham gia làm phim, và cũng để ông có thêm chút thu nhập. Ông hồ hởi nhận lời. Thế là, hai anh em và đồ nghề quay phim trên một chiếc xe máy phân khối lớn của Thế đã rong ruổi qua nhiều vùng quê Kinh Bắc... Hai người đã đi dọc sông Đuống - một chi lưu quan trọng của sông Cái, và theo dòng sông "Nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ" của thi sĩ Hoàng Cầm để đến với "cái nôi sinh thành dân tộc Việt Nam" như cố học giả Nguyễn Văn Huyên đã chứng minh trong luận văn tiến sĩ của mình, đến với vùng huyền thoại gắn với lai lịch dân tộc Việt: Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Phật bà Man nương, đến với Luy Lâu - trung tâm Phật giáo lớn nhất nước ta thời cổ đại… Hai người không chỉ một lần đứng nhìn bao quát cả một vùng non nước trải rộng đến chân trời - quê hương của nhiều danh nhân văn hoá kiệt xuất, là vùng học vấn khoa bảng hàng đầu đất nước, nơi góp phần minh chứng cho chân lý của nhà bác học Lê Quý Đôn - đốc đồng Kinh Bắc năm 1764: "Phi trí bất hưng" (Không có trí thức thì Quốc gia không thể hưng thịnh được).[69]

Kinh Bắc xưa có nhiều dòng họ cha truyền con nối đỗ đạt cao, đặc biệt có tới 102 vị đại khoa làm sứ thần (cả nước có 307 vị). Nhiều vị trở thành các nhà văn hoá, các tác giả tên tuổi - như Huyền Quang, Hàn Thuyên, Thái Thuận, Nguyễn Gia Thiều, Phạm Thái, Cao Bá Quát, v.v. Vùng đất này đã từng có nhiều người thầy dạy dỗ con em dân thường trở thành văn nhân, nhà khoa học nổi tiếng, và cũng từng có thày dạy vua và thái tử như: Lê Văn Thịnh, Nguyễn Cư Đạo… Hàng chục tiến sĩ, trạng nguyên người Kinh Bắc đã làm tế tửu Quốc Tử Giám (tương đương hiệu trưởng trường Đại học nay). Đến đâu ông Kỳ cũng nhiều có bạn bè quý trọng ông, tận tình giúp đỡ nhóm làm phim. Trong những ngày điền dã quay phim vất vả đó, ông đã chăm chút lo toan cho Thế như đối với một đứa em trai thân yêu. Có lần, anh muốn tìm một khung cửi dệt có "con cò mấp máy suốt năm canh" như nữ sĩ Hồ Xuân Hương miêu tả để quay phim - khi mà các khung cửi truyền thống đã bị dẹp bỏ, ông Kỳ đã cùng các bạn ông mò mẫm khắp làng để tìm cho ra một khung cửi có con cò gỗ phủ bụi ở một góc nhà, động viên gia đình khôi phục lại, lau chùi sạch sẽ, lại có người ngồi dệt; và con cò gỗ lại "mấp máy" hiển hiện những mảnh đời âm thầm làm lụng của bao người vợ, người mẹ, người em gái vùng Kinh Bắc cho chồng, cho con, cho anh dùi mài đèn sách... Hai người đã đến Văn Miếu Bắc Ninh rậm rịt cỏ dại, nơi có bảng vàng bia đá lưu danh thơm của nhiều vị khoa bảng đất Kinh Bắc xưa. Và ở một trong những tấm bia Kim bảng lưu phương, dưới ánh nến của học trò trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh, trước hàng chục em bé đeo khăn quàng đỏ đến thăm Văn Miếu, ông Kỳ đã nhiệt tình giảng giải cho các em (cho cả cụ thủ từ và Thế nữa) những hiểu biết cặn kẽ của ông về các tấm bia Kim bảng lưu phương, đọc vanh vách danh sách 10 vị đỗ ở khoa thi Minh kinh bác học đầu tiên ở nước ta mà người đứng đầu danh sách là thí sinh Lê Văn Thịnh - cũng là vị thái sư danh tiếng bị hàm oan suốt 900 năm!...

Một buổi sáng, hai người làm phim rời huyện Thuận Thành để sang huyện khác giữa khi các sân trường đang vắng lặng, chỉ còn văng vẳng tiếng giảng bài, đọc bài từ các phòng học lộng gió và thơm ngát hương đồng; trong khi đó, các mẹ các chị vẫn đang cặm cụi trên những mảnh vườn, thửa ruộng, chắt chiu từng nong tằm, hạt lúa, củ khoai... Những cô bé cậu bé rời trường học lại bắt tay phụ giúp cha mẹ chăn trâu, cắt cỏ, bóc sắn, học bài và mơ ước tới những chân trời xa. Hàng trăm năm nay, các tiến sĩ cử nhân của những vùng quê Kinh Bắc đã lớn lên như thế trong lời ru ngọt ngào, trong mồ hôi mặn đắng tần tảo nuôi con, nuôi em ăn học... Tâm lý coi trọng học vấn, coi trọng trí thức, coi trọng nhân tài đã hàng ngày được củng cố, trở nên bền chắc và cao quý. "Bạc đầy nong không bằng cong chữ" - "nhân bất học bất tri lý" (Người mà không học thì không biết được lẽ phải)... Ngay cả khi nền Hán học chính quy đã bộc lộ những mặt bảo thủ phản động, thì những truyền thống lành mạnh về giáo dục và học vấn vẫn được nhân dân trân trọng giữ gìn. Thời phong kiến, Nhà nước chỉ tổ chức chu đáo bậc học và các kỳ thi tuyển cao cấp, còn trên thực tế, do lòng hiếu học của nhân dân, các bậc sơ học và trung học hầu như do nhân dân ở các cấp làng xã lo liệu. Truyền thống hiếu học và nền học vấn "khai tâm" ấy đã đi vào tranh dân gian Đông Hồ với hình tượng "Thầy đồ cóc", "Tiến sĩ chuột vinh quy" thấm đượm tâm hồn trào lộng dân gian, đi vào tục thi đọc mục lục, tục kéo cờ chạy chữ, đi vào thế ứng xử: "Mồng một thì về quê cha/ Mồng hai quê mẹ, mồng ba quê thầy"... Theo chân ông Kỳ, những địa danh trở thành biểu tượng của lòng hiếu học cảm động đất Kinh Bắc đã găm vào tâm trí Thế trong nhiều năm tháng: Đại Mão, Mão Điền, Thanh Khương, Song Hồ, Kim Đôi, Vọng Nguyệt, Tam Sơn, v.v.

Thế học được ở ông Kỳ sự chu đáo tận tụy đối với công việc, nhất là công việc có liên quan đến tri thức sách vở. Ông tôn trọng sự chính xác của tư liệu, rất ghét sự đại khái qua loa. Đằng sau dòng chữ nhỏ li ti và chân phương của ông trên những trang viết là cả một tinh thần lao động say mê, căng thẳng... Hình như, đến thời kỳ được tiếp xúc với kho tư liệu sách vở và ngấm "men" của nó, ông đã lao vào cái thế giới mênh mông vừa kỳ vĩ huyền ảo vừa đẫm lệ máu ấy để bù đắp lại những năm tháng dài sau khi tốt nghiệp đại học ngoại ngữ ngồi ghế đá chờ việc, không dám gặp gỡ ai để tránh cái nhìn thương hại đối với con trai một người từng mắc án "Nhân văn Giai phẩm" và phải chịu án tù vì họa "văn tự"[70]... Nhưng cũng chính "văn tự" đã cứu sống cho ý nghĩa cuộc đời ông Kỳ, và ông đã coi tri thức như một thứ Tôn giáo mới!

Trong những ngày đi dọc ngang đất học vấn Kinh Bắc đó, ông đã kể cho anh nghe về mấy đề thi Tiến sĩ thời xưa. Ông giở sổ tay đọc một đoạn chép về cách dùng nhân tài trong luận văn Tiến sĩ của Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Trực tại khoa thi năm Nhâm Tuất (1442): "Tiến cử người quân tử, lui bỏ kẻ tiểu nhân, ấy là bản tâm của bậc Thánh nhân trị nước. Trị nước lấy nhân tài làm gốc, dùng người lấy chữ tín làm đầu. Bệ hạ muốn quân tử tiến, tiểu nhân lùi thì không gì bằng gần gũi bề tôi khí tiết, xử dụng kẻ sĩ chính trực...".

Trong bộ phim chân dung ông Kỳ, với những hình ảnh Thế ghi được về ông suốt thời gian làm phim học vấn Kinh Bắc, Thế có đoạn kết lời bình phim: “Dường như dưới suối vàng, nhà nghiên cứu văn hóa Hoàng Kỳ vẫn đang cặm cụi viết những dòng chữ đẹp dành cho cõi đời này: Hào kiệt thì đời nào cũng có, và dù bị kẻ tiểu nhân, lũ độc ác tìm cách hãm hại tiêu diệt, các bậc nhân tài bao giờ cũng được lòng dân che chở. Còn những người có trách nhiệm xây dựng một Quốc gia bền vững nếu không biết trọng thị những bậc nhân tài như thế, nếu không biết quý trọng những người dân dám xả thân để bảo vệ nhân tài, họa diệt vong của một Quốc gia ắt đang cận kề…”.

Trong đợt về Kinh Bắc dài ngày đó, Thế và ông Kỳ đã tới Đền thờ Thái sư Lê Văn Thịnh trên núi Thiên Thai, tại thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình. Thế đã sững sờ kinh ngạc, và xúc động tận đáy lòng khi lần đầu tiên được thấy một con thủy quái bằng đá nguyên khối tạc hình một con rồng lớn trong tư thế "miệng cắn thân, chân xé mình" toát lên nỗi đau đớn, phẫn uất được tìm thấy dưới chân đền thờ Thái sư, sau nhiều thế kỷ bị chôn vùi trong lòng đất và sự quên lãng… Thế thắc mắc với ông Kỳ, cũng là lời thắc mắc của khán giả đối với Thế mà anh sẽ tự đặt ra khi làm bộ phim tài liệu “Vụ án hồ Mù Sương” mấy năm sau: Con rồng đá đó biểu tượng cho ai, nó muốn diễn tả nỗi niềm gì của ngươì nghệ nhân dân gian? Nó có liên quan gì đến vụ án hồ Dâm Đàm (Mù Sương)? Đâu là sự thật đằng sau sương mù hồ Tây và sương mù của lịch sử?

Ngôi đền ở sườn núi Thiên Thai vốn là nhà học của Thái sư thuở thiếu thời. Dân gian vẫn gọi là đền thờ Quan Trạng. Tại đây, Thế được ông thủ đền thận trọng mở hòm bọc lụa cho quay phim bản Ngọc phả cùng các đạo sắc phong. Ngọc phả do sử thần Nguyễn Bính, quan Hàn lâm viện Đông các đại học sĩ biên soạn vào năm 1572, tuy còn ảnh hưởng về cách nghĩ truyền thống như: Lê Văn Thịnh hóa hổ, bởi ông sinh năm Canh Dần - năm hổ, bình sinh lại có dáng ngồi như hổ, nhưng đã cho thấy tấm lòng trung quân ái quốc của vị đại công thần, phủ nhận hùng hồn cái tội âm mưu giết vua đoạt ngôi từng chụp xuống đầu ông trước đó 5 thế kỷ! Các vua hai triều Lê - Nguyễn đã ban 10 đạo sắc phong, cho nhân dân Bảo Tháp quê hương Lê Văn Thịnh dựng đình và lập đền, thờ ông làm thần hoàng làng. Mười làng thuộc các xã Đông Cứu, xã Đại Lai, xã Song Giang, xã Giang Sơn - những nơi ông dạy học xưa kia cũng đều tôn ông làm phúc thần, thờ thành hoàng làng, và hàng năm cùng nhau mở lễ hội chung ở Bảo Tháp gọi là hội Thập đình vào ngày 7 tháng giêng Âm lịch... Tại quê mẹ ông thuộc xã Cách Bi, huyện Quế Võ, ông cũng được tôn thờ thành hoàng làng, có lễ hội tưởng nhớ hàng năm. Giới chính thống của các triều đại có thể sai, chứ dân gian bao giờ cũng sáng tỏ minh triết, công tội bao giờ cũng phân minh và độ lượng. Ngay lúc sương mù nhấn chìm chính sử, thì người dân vẫn lặng lẽ trong sương mù làm những việc minh oan và đền bù cho người chân chính. Theo ông Kỳ, chuyện hóa hổ thật ra là xuất phát từ các đạo sĩ bắt nguồn từ thời Đường Trung Quốc truyền sang Việt Nam, và bên cạnh vụ hóa hổ Lê Văn Thịnh còn có vụ hóa hổ Lý Thần Tông. Hoàn toàn huyễn hoặc và thần bí! Vậy mà nó lại có sức sống dai dẳng trong suốt bao thế kỷ! Sau những thành công lớn lao của Lê Văn Thịnh cùng với tiếng tăm lẫy lừng mà ông đạt được, hẳn Lê Văn Thịnh đã trở thành một mối lo âu đối với  triều đình bấy giờ. Vua thì sợ Lê Văn Thịnh ngày kia có thể làm nguy hại ngôi báu của mình; quan thì sợ Lê Văn Thịnh có biệt tài, quyền uy to lớn có thể làm phương hại đến địa vị mà họ đang hưởng. Phải chăng, vì thế họ đã dựng nên "sự kiện hồ Dâm Đàm" để loại trừ một đối thủ đáng ngại? Lê văn Thịnh không phải chỉ có kẻ thù là giặc bên ngoài, bên trong, ông còn có cả kẻ thù tư tưởng. Vụ án hoá hổ chỉ là một màn kịch phản ánh cuộc xung đột giữa hai hệ tư tưởng một bên là Nho giáo mà Lê Văn Thịnh là người đại diện, và một bên khác do những người sùng Phật giáo ủng hộ. Đó cũng là tấn bi kịch của một bên là vị thái sư hết lòng cống hiến tài năng nhiệt huyết cho sự nghiệp quốc gia, một bên là hoàng tộc cùng đám quan lại quý tộc chỉ quanh quẩn với quyền lợi của chính mình! Việc quan thái sư Lê Văn Thịnh đi theo con đường Nho giáo để quản lý đất nước vấp phải tinh thần Phật giáo pha màu sắc ma thuật của đạo giáo đang bắt đầu lộng hành và áp đảo trong xã hội.

Thế nói với ông Kỳ: Nhưng em thấy sử sách, ngay cả kẻ thù của Lê Văn Thịnh ở trong triều, cũng không thấy viết một dòng nào phủ định tài năng và công lao của ông. Lý Nhân Tông muốn minh oan cho ông, nhưng ông đã qua đời. Triều đình phong kiến các thời sau đã cho soạn thần tích về công trạng của ông và nhiều lần ban sắc phong… Sau vụ án, tên tuổi ông vẫn được khắc trên bia đá bảng vàng ở Văn Miếu tỉnh Bắc Ninh. Những tác gia lớn như Ngô Sĩ Liên, Phan Huy Chú, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Sĩ, v.v đều ghi rõ Lê Văn Thịnh là người đỗ đầu khoa thi Minh kinh bác sĩ đầu tiên, và có công lớn trong việc đòi đất cho quốc gia. Em mấy lần giở bộ sách Đại Việt thông sử của nhà bác học Lê Quý Đôn, thấy trong các quyển viết về những kẻ nghịch thần không hề nói tới Lê Văn Thịnh!

Ông Kỳ gật đầu: “Và anh cho là các cụ ấy cũng có cảm nghĩ gần với nhà văn Nguyên Ngọc về con rồng đá kia: "Hai tai rồng được tạc rất rõ, bên tai phải rỗng, thông, tai trái lại bịt kín. Dường như từ nghìn năm trước, con người tài ba xuất chúng mà số phận đau thương đó đã dự liệu được bao tiếng thị phi của các thế hệ nối tiếp người đời, ông muốn chỉ nghe một nửa, một nửa khinh bỉ gạt ra ngoài tai...". Còn trong dân gian, từ xa xưa người dân đã có cách nhìn nhận trái ngược hẳn so với các sử gia chính thống về vụ án hồ Dâm Đàm. Anh em mình sang bên Đình Tổ sẽ rõ thêm”. Hai người làm phim đã tới chùa Bút Tháp nổi tiếng ở thôn Đình Tổ, xã Đình Tổ - huyện Thuận Thành, cạnh chùa có ngôi Đình hiện còn lưu giữ 11 sắc phong của các triều đình phong kiến, cùng nhiều đại tự, câu đối đánh giá công lao của Lê Văn Thịnh, như: "Tiền triều lương sứ " - "Khai quốc trạng nguyên", đặc biệt là vế đối: "Nam thiên hiển thánh như trường vân, như tinh, như nhật, ức niên linh tích trấn liên đàm" (Trời Nam thánh hiện tựa mây dài, tựa sao sáng, tựa mặt trời, vạn năm linh hồn lưu lại chốn hồ sen). Ở nơi Lê Văn Thịnh dừng chân trên đường về quê cha rồi mất, Thế đã được người dân Đình Tổ xúc động kể cho nghe về sự kiện này. Xưa kia, đây là làng Điềng, sau được đổi tên là Đình Tổ để ghi nhớ về Lê Văn Thịnh. Bên dấu vết còn lại của sông Dâu xưa, anh bồi hồi nghĩ tới tấm lòng người dân Đình Tổ đã chăm sóc Lê Văn Thịnh trong giờ phút cuối đời, và mãi mãi trông coi phần mộ của ông như một vị đại ân đại đức... Ông Kỳ và Thế nhìn nhau như cùng đặt một câu hỏi: Nhưng đến bao giờ mới có được một ngôi trường, một đường phố, một nhà văn hóa... mang tên Lê Văn Thịnh? Thế nói với ông: “Anh à, cho đến già nửa sau thế kỷ 20 - dựa trên những sử liệu và dư luận sẵn có, một tác giả viết kịch hát có uy tín đã dựng lên một nhân vật gian thần ác độc, nhiều mưu mô thâm hiểm và nhiều tội lỗi khủng khiếp, nhân vật đó mang tên: Thái sư Lê Văn Thịnh! Vở chèo này đã được trình diễn ở nhiều nhà hát, nhiều chiếu chèo trên toàn quốc, được khán giả say mê hoan nghênh rầm rộ, và được giải thưởng Hội diễn không ít lần! Và em đang có trong tay cả chục cuốn sách thời nay viết về đền miếu, thành hoàng làng cũng cố tình "lờ" đi tên tuổi Lê Văn Thịnh - dù ông được thờ làm phúc thần ở không ít nơi!”. Ông Kỳ thở dài. Rồi trầm tư: “Đó cũng có thể coi là một trong những điềm báo hiệu cho sự suy đồi về văn hóa, dẫn đến suy đồi về đạo đức của xã hội ta sẽ tới lúc tràn lan khó bề cứu chữa…”. Ngờ đâu, đó lại là lời trăng trối mang tính tiên tri của một nhà nghiên cứu văn hóa nhiều tâm huyết…

Và cũng chiếc xe máy phân khối lớn của Thế từng chở ông Kỳ sau đó lại chở đạo diễn Huy tiếp tục rong ruổi qua nhiều vùng quê Kinh Bắc nữa - theo chân lão thi sĩ Hoàng Cầm để làm phim chân dung về ông - không theo sự đặt hàng nào mà theo nhu cầu của đạo diễn Huy và bản thân anh… Thế nhớ một lần đi với ông Kỳ, có hỏi ông về câu thơ: “Anh trẩy chùa Hương phía xót thương”, ông liền đọc thêm câu: “Em trẩy chùa Hương phía giải oan” của cha mình, rồi bảo: “Em tinh đấy! Theo anh, đó là câu thơ nói được con người cụ nhà anh rõ nhất…”

Thế cứ ngẫm nghĩ mãi về câu nói trên của ông Kỳ, cùng cái cảm xúc mới mẻ gợi trong anh như một góc nhìn riêng về thơ Hoàng Cầm và con người ông cho bộ phim chân dung. Thế bảo đạo diễn Huy: Theo em, toàn bộ thơ, truyện thơ, kịch, văn xuôi cụ Cầm đã được viết ra từ “phía xót thương” này; những tìm tòi về chữ nghĩa, thi tứ, hình tượng thơ, các thi pháp ẩn ngữ, mỹ cảm tâm linh hóa, v.v, của ông chắc chắn đều có cái nền của “phía xót thương”… Xót thương cho thân phận của người phụ nữ chị hai quan họ, nguyên mẫu của mẹ nhà thơ suốt mười năm trời bị chồng xa lánh hắt hủi chỉ vì mê hát (Tôi người làng quan họ); xót thương cho đôi trai gái “luyện giọng từ năm cùng chín tuổi” yêu nhau mà “biết bao giờ nên vợ nên chồng”, để rồi “Em đã chết mòn sau cánh cổng/ Tình chúng ta vỡ như bong bóng” (Khi mùa xuân trở về); xót thương cho cô vợ anh bộ đội Việt Minh sống trong vùng địch hậu - người mẹ trẻ “nước mắt nhiều hơn sữa/ Ngực lép con nhay đã rã rời” (Tâm sự đêm giao thừa); xót thương cho đứa bé “lủi thủi tìm miếng ăn” bởi “bố cường hào nợ máu”, mẹ bỏ con vào Nam, lại xót thương cho chị bần nông cốt cán “bị đình chỉ công tác” chỉ vì “Nhìn đứa trẻ mồ côi/ Cố tìm vết thù địch/ Chỉ thấy một con người” (Em bé lên sáu tuổi); xót thương cho sông Lô mà thi sĩ hóa thân thành “em là em bé sông Lô”, cho sông Đuống “mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên” trong nỗi “nhớ tiếc, sao xót xa như rụng bàn tay”…

Có lần, Thế nói với ông Hoàng Cầm về ý đồ xây dựng một phim điện ảnh về số phận của các liền anh liền chị quan họ quê hương ông, mắt ông sáng lên và hào hứng đọc cho anh nghe mấy bài liền từ bản thảo Tiếng hát quan họ. Cặp mắt ông như rớm lệ trước những số phận quan họ ở “Chân trời tua tủa mảnh chai”, rồi nhẹ nhàng nói với anh: “Cháu ạ, cội nguồn của tiếng hát quan họ là Tình thương đấy…”. Mấy lần quay phim ông nói chuyện ở các trường học ở Thuận Thành, Thế hiểu: cái thông điệp chủ yếu ông gửi gắm tới thầy và trò qua thơ – văn chỉ là nỗi xót thương, sự đồng cảm, tình yêu thương giữa con người với con người. Tập bản thảo có tranh vẽ của tác giả mà nhà thơ Hoàng Cầm đã yêu quý, tin cậy tặng cho Thế, cũng nồng ấm sự gửi gắm này…

Mấy năm sau, trước Đêm ra mắt Về Kinh Bắc, 100 năm Hoàng Cầm, Thế có đọc lại bài viết của nhà thơ Hoàng Hưng nói về Lễ kỷ niệm này, có đoạn: “Con người Hoàng Cầm cũng là một bí mật cần được khám phá của sự dung hợp giữa tính duy cảm và lí trí, tính đại chúng và tính tinh hoa, tính truyền thống và tính sáng tạo, con người chiến sĩ và con người nghệ sĩ… Đó cũng là một bí mật của thành công nghệ thuật trong thời kì bước vào nghệ thuật hiện đại của Việt Nam”[71]. Thế muốn thêm - mà thực ra chỉ là những điều mà nhà thơ có số phận long đong gắn với ông Hoàng Cầm và tập “Về Kinh Bắc” chưa tiện nói: Hơn ai hết, Thơ ca Hoàng Cầm là sự trả nợ/ nói hộ/ nói thay/ nói tiếp cho một thế hệ thi sĩ Việt sống trong thời đại sắt máu muốn nói lên tiếng nói của Tự do, của Bản thể người, với bản chất của khát vọng Thi ca & sứ mệnh Thi ca là mong mỏi cho Con người được Người hơn; dù có phải đối mặt với bao đe dọa về tính mệnh lẫn sinh mệnh Thơ ca, dù có lúc phải hạ mình nhẫn nhục, phải vờ hèn hạ để đợi dịp bật ra sự thật của Tình yêu và lòng Căm giận tự đáy lòng mình… Tình yêu và Lòng căm giận đó được viết ra bằng “ngôn ngữ của vết thương”[72], có sự bảo đảm bởi một trái tim luôn hướng về “phía xót thương”… Dù cái Tình thương có khả năng cứu giúp tâm hồn con người đó đang bị xua đuổi, bị lợi dụng… Song những điều như thế chưa thể nói được ở bất kỳ loại phim nào trong giai đoạn này. Những cảnh quay cùng những ý tưởng cho bộ phim chân dung thi sĩ Hoàng Cầm đành nhét kỹ trong các “kho Âm bản” lưu trữ tư liệu và cảm xúc của Thế.

[68] Thơ Chế Lan Viên.

[69] Ông nội cụ Lê Quý Đôn là Thượng thư Bộ Công, quê gốc ở huyện Đông Ngàn (huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh nay) đã đưa gia đình về lập nghiệp ở huyện Duyên Hà (nay là Hưng Hà, Thái Bình), ở đó còn tấm bia ghi rõ: Họ Lê trước đây/ Vốn từ Kinh Bắc/ Chuyển đến Duyên Hà/ Nối đời đại đức.

[70]  http://www.songtho.net/.../ba-muoi-nam-ve-kinh-bac...

[71]http://vanviet.info/audio-van-viet/ra-mat-sch-hong-cam-ve-kinh-bac-ki-niem-100-nh-tho-hong-cam/

[72] Chu Văn Sơn, trong  sách: Hoàng Cầm - Về Kinh Bắc.