Mai An Nguyễn Anh Tuấn
6.
Sau khi hai bố con mình xem bộ phim Nga Nghệ nhân và Margarita trên FB Lặng lẽ nước Nga, nhìn thấy hình ảnh của xã hội ta hôm nay và tâm trạng của nhiều văn nghệ sĩ - trí thức trung thực, bố đã viết cho con và các sinh viên của bố:
KHI NHÀ VĂN TRẢ THÙ
Bộ phim Nghệ nhân và Margarita được thực hiện từ cuốn tiểu thuyết cùng tên ra đời cách đây gần một thế kỉ, với hàng loạt nhân vật có nguyên mẫu thực được dựng lên nhằm cực tả bản chất xã hội Nga thời ấy - một xã hội bát nháo, lố lăng, bi - hài hỗn loạn ở những thập niên hai mươi, ba mươi của thế kỉ trước; bộ phim có thể nói đã bằng hình tượng điện ảnh sinh động thể hiện được một cách thấm thía những điều nhà văn M. Bulgakov gửi gắm - mà một trong những điều gửi gắm đó là Sự Trả Thù…
Hình bóng của nhân vật Nghệ nhân-nhà văn bị đày đọa chính là Bulgakov. Tác phẩm văn học cùng bộ phim là sự trả thù của một nhà văn tự gọi mình là “con sói văn học duy nhất trên văn đàn Nga”: “Người ta khuyên tôi nên nhuộm lông đi. Một lời khuyên vô nghĩa. Sói dù có nhuộm, có cắt lông đi thì nó vẫn không thể nào giống với chó cảnh nuôi nhà được”; “Người ta đối xử với tôi như đối với một con sói. Và đã nhiều năm nay người ta săn đuổi tôi như săn đuổi một con thú bị bắt nhốt vào trong khoảng sân rào kín theo các nguyên tắc của một cuộc đầu độc văn học”…
Trả thù cho nỗi đau của những người cầm bút trung thực bị cả một hệ thống tư tưởng thời đại đầy sự thù hận đã áp chế, thủ tiêu sáng tạo chân chính...
Trả thù cho nỗi uất hận của những trí thức thật sự ấp ủ những điều tốt đẹp cho cuộc đời mà bị ném vào nhà thương điên - y như vị bác sĩ tâm thần tử tế mà cuối cùng lại bị vu là tâm thần trong tác phẩm “Phòng số 6” bất hủ của văn hào Nga A. Tsekhov…
Trả thù hộ những nhà thơ, nhà văn ngây thơ rồi tỉnh ngộ bẽ bàng – những người từng véo von ca ngợi Lãnh tụ và cái chế độ xã hội đang mục ruỗng tận đáy và đã trở nên thù địch với chủ nghĩa nhân văn!
Nghệ nhân và Margarita là cái tát mạnh mẽ của Bulgakov dành cho giới văn chương - báo chí nông cạn, đạo đức giả, thích hưởng thụ; giới quan chức ngu ngốc, tham lam, độc ác; đám khán giả - dân chúng hư hỏng, trụy lạc… Xã hội ấy không còn bóng dáng tình thương và chân lí nữa, đã bị băng hoại về đạo đức, xói mòn về nhân cách, con người ngập ngụa trong sự giả dối và ganh ghét. Những người có phẩm chất, tài năng chỉ có thể được bình yên trong bệnh viện tâm thần!
Phim đã tái hiện được vẻ đẹp bên ngoài lẫn tâm hồn của Margarita - thần hộ mệnh của Nghệ nhân, hiện thân của tình yêu, cũng là thần hộ mệnh của nghệ thuật - người cùng anh vượt qua mọi thăng trầm, mọi cú đánh bất công giáng xuống đầu anh và mọi cuộc trả thù... Khi Margarita quyết định cùng Nghệ nhân giã từ cuộc đời, đi tìm cuộc sống ở một thế giới khác, sự sánh đôi của họ tới Măt Trăng khiến người xem giữ được niềm tin vào cuộc sống sau bao nỗi thất vọng cay đắng…
Bên cạnh sự “trả thù” ngoạn mục trên là sự Tha thứ - một chủ đề lớn của tiểu thuyết, mà các nhà làm phim cũng đã tái hiện được một cách khá thành công, bởi diễn xuất tuyệt vời của các diễn viên, nghệ thuật ghép - dựng cảnh” độc đáo, kỹ xảo công phu...
Tha thứ cho lỗi lầm và tội ác của một nhân vật Lịch sử - quan chưởng lý-kỵ sĩ Ponti Pilat, mà lỗi lầm lớn nhất là sự hèn nhát, yếu đuối: kết phim có cảnh “chiêu tuyết” cho nhân vật này là ông ta cùng Nghệ nhân và Margarita bay về phía Mặt Trăng - thế giới mộng mơ của Con người về những điều tốt đẹp…
Có thể nói thành công lớn nhất của bộ phim là đã diễn tả được giấc mơ đau đớn và tràn đầy hy vọng của nhà văn Bulgakov về những gì ông không tìm thấy trong đời thực, mà chỉ có thể tìm thấy trong thế giới mộng mị của bóng tối, với những Quái nhân song cũng là Thánh nhân đã thầm lặng giang tay cứu giúp người lương thiện, nâng đỡ những tài năng song cô đơn, cô độc, bị ruồng bỏ…
Tiểu thuyết Nghệ nhân và Margarita lần đầu được dịch sang tiếng Việt bởi nhà văn Đoàn Tử Huyến, đến nay đã được tái bản vài lần. Ở Nga khi công chiếu bộ phim truyền hình 10 tập Nghệ nhân và Margarita vào năm 2005 ngay lập tức thu hút hơn 40 triệu lượt người xem, tức 1/3 dân số Liên bang Nga. Đạo diễn của phim này là Vladimir Bortko - người đã từng chuyển thể thành công hai tác phẩm kinh điển của nền văn học Nga Trái tim chó của Bulgakov và Thằng ngốc của Dostoievsky (tại Việt Nam, phim Trái tim chó đã từng được phát sóng trên truyền hình Trung ương, song mới được một phần đầu thì bị cấm phát sóng tập tiếp theo).
7.
Con hỏi bố: “Vì sao nền Điện ảnh nước nhà chết lâm sàng thảm hại thế ạ? Đâu là nguyên nhân? Làm thế nào để cứu thoát nó khỏi “Hố thẳm” – chữ của một nhà thơ mà bố vài lần nhắc đến?” Để có thể hiểu thấu đáo, con phải đợi bố viết cả một cuốn tiểu thuyết mà bố ấp ủ nhiều năm nay (bật mí nhé: là “Âm Bản & Dương bản”); nhưng giờ đây, con chỉ cần đọc bài viết này của bố thì có thể giải tỏa được khá nhiều thắc mắc:
MỘT CUỘC TRAO ĐỔI NGẮN VỀ “NHÂN VẬT THỜI ĐẠI”
Vài cô cậu sinh viên (SV) đạo diễn năm cuối tìm đến cận tôi đề nghị làm giảng viên (GV) hướng dẫn thực hiện phim tốt nghiệp (TN), tôi chỉ dành được thời gian cho nhõn một cậu làm tốt nghiệp phim truyện khi SV này thắc mắc khá hay: “Hồi học phổ thông, em nhớ có thầy dạy văn đôi lần nói đến “nhân vật thời đại” rồi sau đó không bao giờ nhắc đến nữa; còn mấy năm học đại học vừa qua, cũng chẳng bao giờ được bất cứ thầy cô nào nói đến, vậy là sao ạ? Em nghĩ: khi xác định nhân vật chính trong phim truyện là phải tìm đến “nhân vật thời đại”, phải không thầy? Vậy em cần tìm loại nhân vật thời đại thế nào để phim TN được duyệt, được đánh giá tốt ạ?”.
Sau đây là cuộc trao đổi:
GV: Vấn đề này, trước nay người ta đã viết cả đống sách báo rồi, và chính nó là “thủ phạm” khiến không ít văn nghệ sĩ nước ta vướng vào vòng lao lý, mắc tội “yêu thư yêu ngôn” như người xưa nói, bởi các vị ấy đã phạm vào cốt lõi của cái gọi là phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa được tôn sùng và coi là bảo bối – trong đó có vấn đề trung tâm “Nhân vật thời đại”. Một thời gian dài, “Nhân vật thời đại” cần phải tập trung miêu tả là Công - Nông - Binh; nếu lấy nguyên mẫu là những tấm gương chiến đấu – lao động sản xuất được báo chí tuyên truyền rầm rộ thì càng “lý tưởng” đối với người sáng tác… Nhưng thực tế là, những tác phẩm mang tính phục vụ chính trị “đắc lực” và nhất thời đó hầu hết đã bị lãng quên, bị phủ bụi… Rồi, mấy thập kỷ gần đây, những “Nhân vật thời đại” kiểu đó biến mất dần dần… Nhân vật xả thân hy sinh cho Tổ quốc và Đồng bào giờ chỉ còn là hình ảnh trong các phim “cúng cụ” đắt tiền được trình chiếu trong các Đại lễ kỷ niệm rồi cất trang trọng vào kho. Còn ngoài đời, dành cho thanh thiếu niên hiện nay dường chỉ là các nhân vật thành đạt xài ô tô BMW, Lexus, có lâu đài đồ đạc dát vàng mà giới truyền thông quảng bá cổ vũ… Cạnh đó, sự yếu kém, thất bại của ngành Giáo dục đang bị thương mại hóa đã làm tê liệt dần tinh thần sáng tạo, ý thức phản biện trong thanh thiếu niên, tạo ra những thế hệ mê mải chạy theo thỏa mãn tiện nghi và sùng bái thần tượng nghệ thuật đại chúng nước ngoài… Bởi thế, câu hỏi: “nhân vật thời đại” thật sự là gì có khi còn là điều nhạy cảm, thậm chí bị cấm kỵ không văn bản!
SV: Thú thực là em thấy hoang mang quá… Em không hiểu nổi thầy ạ!
GV: Thế này em: Một thời kỳ dài, rất dài, “nhân vật anh hùng thời đại” (không phải theo kiểu của I. M. Lermontov) được hiểu là nhân vật thuộc tầng lớp Công - Nông - Binh, mà cốt lõi là “Bài nói chuyện tại Tọa đàm văn nghệ Diên An” của Mao, được bao bọc, trang điểm bằng các lý thuyết văn học và mỹ học của Mác - Ăng-ghen - Lê Nin, v.v. Công - Nông - Binh mang khát vọng & tư thế: “Mỗi con người lấp lánh một ngôi sao” như nhà thơ Tố Hữu định nghĩa và đòi hỏi, dù có cơ sở thực tế nhất định, song điều tai hại là đã mang trong nó mầm mống của sự kiêu ngạo, bất chấp quy luật khách quan Lịch sử, bất chấp nền tảng của Nhân văn, và nhất là nó sẽ đẻ ra tư tưởng thống trị Nhân dân khi sự phân liệt giàu nghèo ngày một rõ rệt của một xã hội tiêu thụ thắng thế!
SV: Nếu không xây dựng nhân vật của thời đại, thì văn học nghệ thuật nói chung, điện ảnh nói riêng còn có ý nghĩa gì, thưa thầy?
GV: Tôi kể câu chuyện vui nhé: hồi tôi thi vào Điện ảnh được Ban Giám khảo (gồm các nhà điện ảnh nổi tiếng và các GS.TS. nghệ thuật học) hỏi một câu: “Theo anh, nhân vật chính của văn học nghệ thuật thời đại ta là gì?”. Với sự háo hức của người sắp bước vào nghề nghiệp mới mẻ hằng ao ước, tôi trả lời: “Thưa, nhân vật thời đại, theo một học giả Bungari, đó là người có trí tuệ của một nhà bác học, có trái tim của một chiến sĩ, và tâm hồn của một nhà thơ!”. Cả Ban Giám khảo ngẩn ra giây lát, nhìn nhau, chắc tự hỏi không hiểu kẻ “trái khoáy” này từ đâu ra, cớ sao không thèm nhắc tới Nhân vật Công – Nông – Binh mà tất cả các giáo trình Đại học văn chương, nghệ thuật lúc đó coi là Thần tượng, là hạt nhân tri thức mỹ học xã hội chủ nghĩa?
Còn bây giờ, các em làm nghệ thuật có may mắn hơn nhiều bọn tôi thời trước, bởi sự phát triển của đời sống đã góp phần thúc đẩy, mở rộng thêm nhiều về quan điểm mỹ học trong việc sáng tạo. Như nhà nghiên cứu Trần Đình Sử mới đây đã khẳng định: “Đặc biệt từ sau năm 1986, các nghị quyết của Đảng liên quan đến văn nghệ đều không nhắc đến chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, đồng thời khuyến khích tìm tòi phương pháp và phong cách khác nhau”. Tôi và một số đồng nghiệp còn gắn bó với nghề cũng đang le lói hy vọng, giữa bao thất vọng bầm dập, về sự xuất hiện một kiểu Nhân vật đích thực của thời đại nhằm tiếp tục thực hiện ngày một hiệu quả các sự nghiệp ngổn ngang của Quốc gia, và để chúng trở thành nguyên mẫu cho văn chương – nghệ thuật. Có như vậy, văn chương – nghệ thuật Việt Nam mới đáp ứng được yêu cầu thời đại, mới có thể mang được giá trị nhân văn toàn cầu vượt ra ngoài biên giới.
SV: Vâng, thế thì nhân vật cụ thể của “Nhân vật thời đại” hôm nay, em cần tìm ở đâu ạ?
GV: Một nhà thơ bị quy tội trong vụ “Nhân văn Giai phẩm” từng viết:
Những con người của chúng ta
Đang lờ mờ xuất hiện
Le lói hy vọng…
Vậy “Những con người của chúng ta” đó hiện giờ là ai, và đang ở đâu? Sự “lờ mờ xuất hiện” của nó từ hơn nửa thế kỷ trước làm cả xã hội “le lói hy vọng”, giờ đây càng thấy rõ là những con người cần mang phẩm chất mà Phan Tây Hồ tiên sinh đã mong mỏi, với phương châm "tự lực khai hóa" và tư tưởng dân quyền, nhằm Khai dân trí, Chấn dân khí, Hậu dân sinh! Đó là những phẩm chất, mà vì ủng hộ chúng thầy suýt bị “trượt vỏ chuối”; nhưng giờ đây lại thấy có ý nghĩa hơn bao giờ hết trong việc xây dựng Con Người mới, hình thành Nhân vật Thời đại: “Nhân vật thời đại”, đó là người có trí tuệ của một nhà bác học, có trái tim của một chiến sĩ, và tâm hồn của một nhà thơ”. Chỉ có điều: Trái tim chiến sĩ và Tâm hồn nhà thơ đó rất cần phải có tình yêu thương Đồng bào làm điểm tựa, làm gốc rễ cho mọi hành động. Đó cũng là thứ quý giá, cần thiết để các nhà Nhân văn Việt Nam ngày trước đã phải “le lói hy vọng…”.
Em hãy nhớ lại bức tranh của họa sĩ Lê Sa Long vẽ người mẹ ôm con trong cuộc “thiên di” lịch sử chống dịch – người mẹ mang bao nỗi đau tinh thần và thể chất để vượt qua mọi nghịch cảnh thiên tai nhân họa, biểu tượng cho cả một dân tộc vượt lên cảnh ngộ bi kịch tìm lối thoát cho quyền sống của mình, cũng là một kiểu “anh hùng văn hóa”, đã bảo vệ các Nhà bác học và Người chiến sĩ tương lai đó cho Dân tộc mình… Hay kiểu “nhân vật trong sạch một mình chống lại Mafia”, hoặc cao hơn, “Đan Cô móc trái tim làm đuốc soi đường cho đám đông mù lòa”, đã bắt đầu xuất hiện trong xã hội đang phủ bầu không khí u ám nước ta… Em nên tham khảo các phim thuộc dòng phim “ám ảnh” của điện ảnh Nga hiện đại được Bộ Văn hóa CHLB Nga tài trợ, đã được giới thiệu khá nhiều trên các FB “Khoảng lặng nước Nga”, “Thao thức phim Nga” của nhà điện ảnh Phan Bạch Yến. Bên ta, mấy năm rồi đã xuất hiện không ít “người hùng chống dịch Covid” là các y bác sĩ, có cả dân thường dựng những trạm cứu tế dọc đường cho người dân chạy dịch; hoặc những nhà khoa học, nhà văn, Đại biểu Quốc hội, luật sư đã dũng cảm, thống thiết lên tiếng bênh vực dân oan, đòi xét lại vụ án oan… Mẹ và chị tù nhân Hồ Duy Hải, bố tù nhân Nguyễn Văn Chưởng nhiều năm kiên trì kêu oan cho con em mình gây xúc động cho toàn xã hội, không đáng là “nhân vật thời đại” sao?… Hoặc em thử tìm hiểu sự kiện nóng bỏng về vụ án cô giáo Lê Thị Dung ở Hưng Nguyên - Nghệ An: một cô giáo đảng viên đã kiên cường chống lại sự đồi bại của ngành Giáo dục nơi ấy, bất chấp các thế lực nhóm xúm lại vùi dập mình, bảo vệ sự trong sạch của bản thân, thực đáng kính phục! Và mới đây nhất là nhân vật cô giáo Trần Thị Lịch ở Hưng Yên vì tố cáo những tiêu cực tại trường mình mà bị trù dập, bị lăng mạ, bị hành hung, rồi bị đuổi việc, nhưng cô vẫn không nản lòng nhụt chí, và được cả xã hội đồng tình ủng hộ… Đó là những ví dụ sáng rõ về “Nhân vật thời đại”, em có thể tham khảo rất tốt: các kiểu nhân vật này phù hợp tuyệt đối với Nghị quyết về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước: “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học”. Bản thân thầy cũng đang ấp ủ kiểu “nhân vật thời đại” từ nguyên mẫu là các nhà báo bạn thầy chống tham nhũng tiêu cực từng bị thế lực hắc ám trong Chính quyền xích tay…
Dĩ nhiên, nếu làm tác phẩm điện ảnh, hiện giờ sẽ chưa được Nhà nước ủng hộ & tài trợ đâu, song nếu là phim TN có tính chất thể nghiệm thì Ban Giám khảo chấm TN sẽ ủng hộ, và phim TN của em biết đâu có thể lại là sự khơi nguồn, là tiếng nói tiên phong cho một dòng phim “ám ảnh” cần được phát triển ở nước ta!
SV: Em toát cả mồ hôi hột đây này! Nhưng em cũng cám ơn thầy rất nhiều!
8.
Con gái à, con chuẩn bị bước vào con đường làm phim chông gai, con cần biết đến nỗi cay đắng mới này của một người làm phim độc lập như bố, để biết cách tránh phần nào những cạm bẫy của một nghề không được bảo hiểm.
Sau khi đọc stt. CAY ĐẮNG của nhà giáo TH, bố cũng chợt thấy cay đắng, nẫu lòng, và tự lý giải thêm: vì sao mình đã lặng lẽ “chia tay” với dòng họ Trịnh trong một dự án phim lớn…
Ở stt. trên, nhà giáo TH phản ánh một sự thật đau lòng: “20 quan lớn thuộc Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa vừa được gọi tên trong “án” kỷ luật của Trung ương vì những vi phạm “gây hậu quả rất nghiêm trọng, thiệt hại rất lớn về tiền, tài sản Nhà nước”, kéo dài suốt từ 2010 đến 2021, tức hơn 10 năm. Trong vụ này, có đến 2 nguyên Bí thư tỉnh dính chàm vì nhiều sai phạm, trong đó có việc liên quan đến FLC và AIC”. Một nhà báo viết: “Theo báo chí, cả 7 dự án FLC ở Thanh Hóa đều “có vấn đề”. Chỉ điểm qua một việc “vặt” trong số ấy thôi: “khi chưa có tập đoàn FLC về xây dựng, dọc bãi biển Sầm Sơn là nơi mưu sinh qua bao nhiêu thế hệ. Đến nay khi FLC xây dựng xong thì người dân không được vào bãi biển để đánh bắt cá, cào ngao, mặc dù phần bãi biển trên không thuộc quản lý của tập đoàn” (https://vietnamnet.vn/dan-tu-tap-truoc-ubnd-tinh-doi-flc-tra-lai-bai-bien-289646.html).
Bố từng được tham dự và quay nhiều tư liệu quý về lễ tế trang trọng kỷ niệm 445 năm ngày mất Thái vương Trịnh Kiểm ở Phủ Trịnh, gần Nghè Vẹt ở xã Vĩnh Hùng, Vĩnh Lộc, Thanh Hoá - ngôi nghè độc đáo, lạ lùng hàng đầu trong số hàng nghìn đình - nghè ở Việt Nam. Sau đó, được mời tham dự lễ “Hô thần nhập tượng” chúa Trịnh Tùng tại một đền thờ khang trang của tư nhân dòng họ tại Hải Dương… Được biết bố là người làm phim có tìm hiểu về các chúa Trịnh, lại đang có dự án Điện ảnh liên quan tới Phủ Chúa và các nhân vật lịch sử khét tiếng thời “lưỡng đầu chế”, một số người dòng họ đã trân trọng mời bố làm phim chân dung về Bình An vương Trịnh Tùng. Bố có nói: “Theo lẽ thường, nếu là phim đặt hàng thì tôi sẵn sàng thực hiện - nhất là với đề tài tôi yêu thích. Song, với riêng về chúa Trịnh Tùng, tôi đề nghị dòng họ cần tổ chức một Hội thảo khoa học đã, tôi mới có thể làm phim…”.
Sau khi giải thích cho họ lý do cốt tử, bố có “xi-nê mồm” một truyện phim của mình về “bà chúa Kim Cương” Trịnh Thị Ngọc Trúc, mà thời thiếu niên của nàng được sự dạy dỗ chu đáo của cha, và đặc biệt là người ông Trịnh Tùng, về thơ văn, hội họa, âm luật, kiến trúc… Phim bắt đầu vào lúc nhân vật chúa Trịnh Tùng đã cởi bỏ giáp binh, rời gươm giáo và dạy cháu gái là Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Trúc. Tôi có miêu tả một trường đoạn phim: Người ông đầu bạc trắng vén cánh tay áo lên, chỉ cho cháu gái những vết sẹo ngang dọc và bảo: “Để có được giang sơn này, ông và nhiều chiến binh dưới quyền ông đã phải đổ máu; nhưng để giang sơn trường tồn và tươi đẹp, thì lại cần tới người có văn hóa, cháu ạ. Ông sẽ dạy cháu…” Bố còn đưa một họa sĩ thiết kế phim truyện về Vĩnh Lộc, bàn về xây dựng bối cảnh phim - trong đó sẽ dựng lại Phủ Chúa ở Thăng Long đã bị đốt cháy hết thời vua Lê Chiêu Thống…
Bố đã được giới thiệu đến một vài đại gia dòng họ Trịnh, trong đó có đại gia danh nổi như cồn bởi các dự án - trong đó có một dự án lộng lẫy dọc bãi biển miền trung và đẫm nước mắt của ngư dân vùng đó… Thực đáng quý trọng khi các đại gia này mong muốn tôn vinh cha ông mình một cách xứng đáng, bằng phim ảnh, và bày tỏ tinh thần đầu tư không kém thậm chí hơn là xây các lăng mộ lớn của dòng họ, và bảo bố hãy yên tâm là bên trên họ có những thế lực chính trị rất đáng tin cậy… Nhưng, khi tiếp xúc với họ vài ba lần nữa, bố đã nghe thấy, nhìn thấy hình bóng những nông dân ngư dân mất đất, mất bãi biển than khóc, cùng những “thiên thần thổ địa hiện lên vái lạy rối rít”… Thế là người làm phim “không bằng mọi giá” là bố cứ thế lặng lẽ rời xa họ…
Cho tới hôm nay, trước những tin tức rõ ràng, cụ thể về “Lợi ích nhóm” được phanh phui - như tin của nhà giáo người xứ Thanh, bố bỗng toát mồ hôi hột… Quả là, nếu cứ đâm đầu làm phim bằng mọi giá, bố sẽ không ngồi đây để viết những dòng này cho con, trong nước mắt cay xè bởi cay đắng và thương xót cho bao nông dân, ngư dân đã/ đang bị tước đoạt sinh kế…
9.
Con vào nghề làm phim, rất cần xem hai bộ phim Ấn Độ hiện đại liên quan tới nghệ thuật điện ảnh: phim: Rang De Basanti sản xuất năm 2006 (Hãy tô màu nghệ cho tôi - nguyên gốc tiếng Hindi có nghĩa: Hãy vẽ tôi bằng màu sắc mùa xuân) của đạo diễn Rakeysh Omprakash Mehra, bộ phim đã phá vỡ toàn bộ các kỷ lục phòng chiếu trong lịch sử điện ảnh Ấn Độ và sau đó chiến thắng nhiều giải thưởng quốc tế quan trọng; và bộ phim The Last Film Show sản xuất năm 2021 (Buổi chiếu phim cuối cùng) của đạo diễn Pan Nalin – hai phim giúp khán giả Việt có thể tìm thấy dân tộc mình trên con đường đẫm máu đến với Tự do & Dân chủ và đồng thời tìm đến với Nghệ thuật thứ Bảy như một phương tiện hữu hiệu bậc nhất để tuyên truyền và giáo dục dân chúng.
The Last Film Show là bộ phim bán tiểu sử giúp ta nhớ đến bộ phim kinh điển Ý Cinema Paradiso (Rạp chiếu bóng Thiên đường): Phim kể về một cậu bé nông thôn Ấn Độ lần đầu tiên đến rạp chiếu phim và yêu thích nó, cậu đã chống lại mong muốn của cha mình, quyết định trốn học và quay lại rạp chiếu phim nhiều lần, nơi cậu kết bạn với người vận hành máy chiếu để theo đuổi ước mơ trở thành nhà làm phim…
Còn trong phim Rang De Basanti, chúng ta đã thấy hình ảnh của những “nhà làm phim thực thụ” đó dưới hình ảnh của những nhà đấu tranh cho một nước Ấn Độ mới đang chật vật vươn tới những giá trị nhân bản toàn cầu, nhưng báo chí nước ta chỉ dám giới thiệu về các Giải thưởng cho phim này mà lờ đi “vấn đề nhạy cảm”: Câu chuyện phim kể về nữ đạo diễn Sue - một nhà làm phim trẻ người Anh mong muốn làm bộ phim về những chiến binh tự do trong phong trào độc lập Ấn Độ, dựa trên quyển nhật ký của ông nội cô - một cựu sĩ quan của quân đội Anh tại Ấn Độ. Khi dự án phim bị từ chối ở trong nước, Sue đến Ấn Độ, tìm được năm thanh niên phù hợp tham gia diễn xuất trong phim của mình. Trong quá trình quay phim, các thanh niên Ấn dần dần nhận ra rằng cuộc sống của họ khá giống với các nhân vật thế hệ cha ông trong bộ phim của Sue. Làm phim cùng Sue, họ có dịp nhận ra rằng: họ đã thấy phẫn nộ tận đáy lòng trước sự thối nát của chính quyền, rồi họ tình nguyện hy sinh bản thân mình để đông đảo dân chúng hiểu được sự thật bẩn thỉu trong hệ thống quản lý Nhà nước. Chàng thanh niên Karen, con của một quan chức lớn, khi biết cha mình đã dính máu trong vụ giết chết bạn mình là phi công Ajay nhưng lại nhẫn tâm bảo vệ danh dự tên Bộ trưởng quốc phòng tham nhũng bằng cách bôi nhọ bạn mình, anh đã bắn chết người cha tội lỗi, sau đó cùng cả nhóm chiếm đoạt Đài phát thanh để tố cáo với đông đảo dân chúng về những sự thật khủng khiếp trong Chính quyền, mong vài tia lửa nhỏ sẽ bùng lên thành bão táp… Kết phim thực bi thảm: cả 5 anh thanh niên nằm trong vũng máu bị vây bắt tận diệt, song nụ cười của họ trước khi chết đã tạo nên một bức thông điệp đầy rung cảm, mạnh mẽ không kém “Thơ Dâng” của thi hào R. Tagore trước kia, đó là: Khát vọng cho một đất nước Ấn Độ thực sự Tự do - Dân chủ không bao giờ bị giết chết…
Bộ phim Rang De Basanti quả là một phim chính trị được thực hiện một cách đầy nghệ thuật, giàu cảm hứng lãng mạn, với những số phận sinh động cho thấy hình ảnh chân thực của tầng lớp trí thức mới Ấn Độ đã là ngọn cờ đầu của sự nghiệp giành Tự do - Dân chủ, một sự nghiệp không kém gian nan thậm chí vất vả hơn ông cha họ thời giành Độc lập dân tộc… Nhà làm phim người Anh trẻ tuổi và các cộng sự Ấn Độ đã thực hiện được cái điều mà nữ đạo diễn Yamina Bachir người Algéri đã tâm niệm, khiến một tác phẩm điện ảnh có thể đi vào Con đường lớn của Nghệ thuật nhân loại: “Cái quan trọng nhất trong sáng tác là làm sao, ở mức độ có thể, biểu hiện được sự lương thiện, sự không nhân nhượng trước cái ác!”.
Hy vọng phim Rang De Basanti sẽ đến rộng rãi với dân Việt ta, trước hết là một bài học nghề nghiệp lý thú và cần thiết với các nhà làm phim Việt!.
10.
Trong một lần Thế tới thăm ông bạn vong niên, đúng lúc ông ấy nói với cháu gái về Hướng Nghiệp ngày cháu chuẩn bị Tốt nghiệp Phổ thông Trung học.
Thấy anh đến, ông mừng như bắt được của, bởi có được đồng minh để lời dạy cháu ông có thêm sức nặng.
Cháu ông mê viết văn, mơ ước trở thành nhà thơ nhà văn, nhà biên kịch điện ảnh. Thế như một chứng nhân bất đắc dĩ cho cái khẳng định mà ông coi là chân lý cần thông não cháu gái:
- Thời buổi này không phải là thời buổi của văn chương nghệ thuật, hiểu chưa? Bởi mọi thứ cháu viết ra hay định viết đều có một thế lực sẵn sàng “thổi còi việt vị” khiến cháu có thể thân bại danh liệt khi chưa kịp có “Danh gì với núi sông”… Bên dưới, bên cạnh lực lượng nòng cốt nói trên lại là một lực lượng hùng hậu được coi là “âm binh” được trao quyền ném ra đủ loại rác văn hóa, chửi bới thượng vàng hạ cám mà thiên hạ vẫn gọi đùa là “mồm chó vó ngựa” để tìm cách tránh đi… Thế là cái gọi là đời sống văn nghệ ấy nảy nòi nhan nhản loại “giặc già thơ phú lăng nhăng” như một bạn quý của ông từng nói, nhưng “lăng nhăng” thì còn đỡ, còn nguy hiểm độc hại chính là thứ văn nghệ Nịnh hót, Bợ đỡ, Xu thời, thứ văn nghệ cam tâm làm nô lệ cho vài kẻ độc ác trong thế lực Thần quyền để kiếm bơ thừa sữa cặn, sẵn sàng đổi trắng thay đen, sẵn sàng giết chết mọi ánh sáng của khát vọng Nhân bản toàn cầu nhưng lại đe dọa sự tồn vong của những thứ người ta cố tình níu giữ… Vậy mà người ta còn vẽ ra “huyền thoại” của giải Nobel, giải Oscar tại nước Việt như trò leo cột mỡ làm trò cười cho dân trí thức thật sự… - Ông chỉ tay vào Thế, hăng hái tiếp - Đây này, nhỡn tiền là người bạn trẻ của ông đây, làm phim và dạy nghề hàng chục năm nay, nhưng bị ném tận dưới đáy làng nghề, chỉ vì không chịu quan hệ, không đi theo định hướng một cách máy móc, nô lệ… Ông ấy đau đáu, ôm ấp bao kịch bản phim, nhưng để làm ra một bộ phim tử tế cho người xem, không xấu hổ với chính bản thân, lại là nỗi vất vả của những đạo diễn không phe cánh, giữ chữ tín trong nghề, mà như mọi người gọi là những “hiệp sĩ cô độc”. Ông có lần bảo: “Những kẻ làm điện ảnh như ông ở xứ này đúng là “sinh nhầm Địa lý” (một kiểu "đầu thai nhầm thế kỷ")…
Anh toát mồ hôi hột, liền nhẹ bảo ông ta:
- Thôi bác, diễn văn của bác hấp dẫn đó, để dành cho một nhân vật của em, nhưng không phù hợp với cháu gái đâu! - Và mặc ông bạn tự ái, anh quay sang cháu gái - Cháu à, ông trẻ hiểu nỗi bức xúc của ông nội cháu… Những điều ông nói không xa sự thật đâu, nhưng chưa đến mức độ đó… Nếu cháu yêu thích viết kịch bản điện ảnh, ông trẻ sẽ cho cháu một số tài liệu cần thiết về lý luận Biên kịch của Nga, Pháp, Mỹ, cùng một vài kịch bản điện ảnh có giá trị, và cung cấp đường Link vài phim kinh điển thế giới… Ông trẻ xin nhắc lại với cháu đôi câu trả lời phỏng vấn trên một tờ báo chính thống mấy năm trước: “Văn chương là hồn vía của điện ảnh”, nhé.
Khi cô Phóng viên hỏi về những “đạo diễn Việt bạc tỷ”, ông trẻ cho rằng:
- Thế hệ đạo diễn “bạc tỉ” đó – một số không ít là sản phẩm đặc sệt của công nghệ điện ảnh Mỹ, nghĩa là điện ảnh thương mại chuyên sản xuất loại “phim chợ” (kể cả phim “bom tấn”), họ được đào tạo khá bài bản các thủ pháp của nền công nghệ ấy mà mục tiêu lớn nhất (nếu không muốn nói duy nhất) là câu khách đến rạp thật nhiều. Thế nhưng, điều đáng buồn nhất là họ không học được ở nghệ thuật điện ảnh Mỹ những giá trị lớn vượt khỏi thương mại. Ngoài điện ảnh Mỹ ra, còn những nền điện ảnh lớn khác như Pháp, Italia, Nga… với những giá trị kinh điển quý giá, thì thế hệ đạo diễn vừa nói (cùng những thành phần khác của điện ảnh như biên kịch, quay phim, thiết kế mỹ thuật, âm thanh…) đã không có điều kiện hấp thu!
Tại trường Đại học Sân khấu-Điện ảnh Hà Nội hiện giờ mà tôi có tham gia giảng dạy, các giáo trình điện ảnh Mỹ chỉ được coi là một trong những loại tài liệu để tham khảo, và các sinh viên điện ảnh và truyền hình của ta ít có nguy cơ bị rơi vào cái hố thương mại kinh khủng của điện ảnh Mỹ; nhưng đồng thời, bởi điều kiện vật chất quá thiếu thốn lạc hậu, họ lại thua kém rất xa các vị được đào tạo ở Hollywood về những kỹ năng thực hành nghề nghiệp!
Trong khi đó, những chính sách vĩ mô về đào tạo các thế hệ điện ảnh tiếp nối (mà việc rất quan trọng là cử sinh viên ra nước ngoài học tập, như bài học điện ảnh Hàn Quốc) thì thường chỉ tồn tại trên các chỉ thị, nghị quyết, trong các hội thảo hội nghị nhàm chán!
Với những “thế hệ đạo diễn bạc tỉ” nói trên, cùng với phim ngoại nhập “loại ba” tràn lan và sự làm ngơ của các cấp lãnh đạo văn hóa – điện ảnh, phim Việt đã, đang và sẽ làm khán giả bội thực bởi thứ phim thương mại – giải trí thuần túy; đó sẽ là một trong những “thảm họa” lớn nhất của phim Việt (theo một cách nói quen thuộc gần đây của công luận); thế nhưng họ đang có ảnh hưởng rất mạnh, là cái đích, là mẫu hình phải vươn tới của nhiều người làm phim trẻ, nhiều sinh viên điện ảnh!
Người làm phim tử tế thì tơi tả tìm kinh phí để thực hiện ý đồ sáng tác, kẻ cơ hội thì nhăm nhăm đục khoét, còn một số người có trách nhiệm trong ngành văn hóa nói chung và điện ảnh nói riêng thì tham lam, thiển cận… Quả thực là cũng đã quá mệt mỏi, chán nản…
Nhưng cháu à, dù có rơi vào cảnh ngộ như ông nội cháu nói là “Sinh nhầm địa lý”, song những người làm phim độc lập còn tâm huyết với điện ảnh nước nhà chẳng lấy làm điều, vẫn âm thầm lặng lẽ lao động, mặc kệ những người chỉ nhăm nhăm cái đích Nobel, Oscar bằng mọi giá… Và tình hình kinh doanh phim ảnh hiện nay đang khởi sắc nhiều, sáng sủa hơn nhiều so với năm ông trẻ trả lời Phỏng vấn trên.
Và sau khi ông nội cháu dội nước lạnh vào khát vọng của cháu để thử thách tình yêu văn chương - điện ảnh của cháu, ông trẻ chỉ biết tâm sự với cháu điều này:
Nhà văn Nga Paustovsky đã từng nói: “Sự tiếp nhận cuộc đời một cách thi vị là món quà vĩ đại nhất mà tuổi thơ đã cho ta. Nếu sau nhiều năm tháng, người ta vẫn giữ được món quà quý đó, người ta sẽ trở thành nhà thơ, nhà văn…” (nhà văn Vũ Thư Hiên dịch).
Ông trẻ đã xin phép Paustovsky bổ sung: Nếu sau nhiều năm tháng, người ta vẫn giữ được món quà quý đó, người ta cũng có thể trở thành cả nhà điện ảnh nữa! Người nghệ sĩ ngôn từ và người nghệ sĩ nói chung đều cần có phẩm chất tâm hồn như nhau, mà điều quan trọng nhất là tình yêu sâu xa đối với con người, với thiên nhiên, chúng chứa sẵn trong văn chương Đông Tây Kim Cổ… Văn chương bao giờ cũng là cái gốc, là cái hồn vía của điện ảnh… Nếu văn học rời xa điện ảnh, điện ảnh chỉ còn là sản phẩm thương mại thuần túy nhằm “móc túi” loại khán giả vốn sùng bái nghệ thuật Pop Art và không thể thưởng thức nổi âm nhạc không lời của Chopin, Mozart, Schubert… Một nền điện ảnh dân tộc xứng đáng để có thể xuất hiện trên bản đồ điện ảnh thế giới, bắt buộc phải lấy Giá trị – Thước đo của văn học làm cơ sở gốc, làm trọng tài chính cho mình. Có thế, tác phẩm điện ảnh mới đạt được cái tiêu chuẩn Triết - Mỹ mà nhà Ký hiệu học người Nga I.M. Lotman đã từng nêu ra từ giữa thế kỷ trước: “Con người có kết cấu trên màn ảnh phức tạp sẽ làm cho con người ngồi trong rạp về mặt trí tuệ và xúc cảm cũng phức tạp hơn (ngược lại, một kết cấu nguyên thủy thì tạo ra một khán giả nguyên thủy). Chỗ đó là sức mạnh của nghệ thuật điện ảnh, cũng chính là trách nhiệm của nó”.[112]
Cố gắng lên cháu gái! Không ai có thể chọn nơi sinh cho mình, nên dù có “sinh nhầm địa lý” thì cũng đừng coi là định mệnh không thể thay đổi! Còn để tránh “mồm chó vó ngựa”, thì có bài học hết sức thấm thía của các nhà điện ảnh đất nước Ba Tư, ông trẻ có dịp tâm sự sau với cháu!
11.
Bố biết con và các bạn đang học nghề điện ảnh của con dạo này thường dõi theo từng bước chân của Hành giả Minh Thành, bố rất vui, và viết đoạn cảm ngôn này trên FB dành cho các con đây:
VỊ HÀNH GIẢ BÁO TRƯỚC ĐỜI LÀ GIẤC MỘNG
Một tháng qua, sự xuất hiện của hành giả Minh Thành cùng sự "biến mất" khá bí hiểm của ông cùng các vị đồng tu đã tựa một tiếng sét giữa trời quang, hay như một vệt sao chổi vụt qua bầu trời, và báo trước cho không ít người cái điều đã nằm sâu trong triết lý Phật giáo mà sư Vạn Hạnh đã đúc kết: “Thân như bóng chớp có rồi không” (Thân như điện ảnh hữu hoàn vô), hoặc như tên một tác phẩm lớn của nhà viết kịch người Tây Ban Nha P. Calderón: Đời là giấc mộng[113]…
Trong kiệt tác sân khấu này, thái tử Ba Lan là Sidismông bị cha là quốc vương Badaliô tước bỏ quyền thế tập, trói trong ngục kín chỉ vì lo sợ trời sẽ thực hiện lời tiên tri là: vua cha sẽ bị con trai đánh bại và phải quỳ lạy trước chân con trai mình… Quốc vương đã tạo ra một màn kịch cho thái tử được tôn vinh như chàng đáng được hưởng, sau đó tước bỏ để chàng thấy đó chỉ là giấc mộng… Nhưng một số quần thần trung thực và dân chúng cả kinh thành đã ủng hộ, chống lại quốc vương, giúp chàng lấy lại cương vị thái tử; và khi giấc mộng trở thành hiện thực, thì thái tử đã quỳ xuống dưới chân vua cha… Lúc đó, quốc vương mới vỡ lẽ rằng, chính ông ta bao lâu nay đã sống trong một giấc mộng kinh hoàng của lời tiên tri ác độc, do những kẻ xấu bày ra, khiến ông đày đọa và suýt nữa giết hại người con trai trung hậu dũng cảm… Sidismông, trong giấc mộng đẹp ảo tưởng hay đối diện với hiện thực nghiệt ngã tạo ra bởi lũ người hiểm độc, bao giờ chàng cũng giữ gìn phẩm chất tốt đẹp vốn có mà thần dân tương lai của chàng đang mong đợi, vì thế chàng có đủ sức mạnh chiến thắng mọi thế lực đen tối, mọi âm mưu bẩn thỉu, và cứu vớt được người cha ra khỏi vũng lầy của ảo tưởng, lầm lẫn…
Nhớ lại vở kịch kinh điển Đời là giấc mộng trên, tôi bỗng hình dung vị hành giả Minh Thành suốt sáu năm qua đã đội mưa nắng bước đi trong một “Giấc mộng”, với niềm tin trong trẻo nguyên thủy rằng: tu tập của ông sẽ giúp ông đạt tới Giác ngộ tối cao, gạt bỏ hết Tham - Sân - Si, và vươn tới Bản nguyên của cuộc đời tựa giọt sương mai đọng trên ngọn cỏ; từ đó, ông sẽ có năng lượng của tự nhiên đem tới sự an lạc cho muôn nhà… Điều ông không thể ngờ, không lường trước được, là đã giúp biết bao Phật tử, và cả không ít vị tăng lữ cao cấp chợt tỉnh ngộ, được thoát ra sự mộng mị ma quái của một số người mượn cửa Phật và áo tu hành với mục đích kinh doanh trục lợi cá nhân…
“Giấc mộng” của ông đã thức tỉnh được biết bao niềm khao khát với điều Thiện, điều Hạnh tưởng bị ngủ quên, bị vùi lấp trong đáy hồn hàng triệu người lao động trong cuộc đời đầy cam go tủi nhục, lắm khi phải nuốt nước mắt nhẫn nhịn trước những bất công, đè nén, cướp bóc của lũ cẩu quan ngày một mọc ra nhiều như nấm độc…
Nếu cuộc sống không có những người coi “Đời là giấc mộng”, “Thân như bóng chớp có rồi không”, hoặc mỗi người không có đôi lúc được sống trong cái tâm thế ấy – như một phép di dưỡng tinh thần mà ông cha ta đã ứng dụng từ xa xưa – thì cõi đời này sẽ chìm đắm trong vật dục trần trụi tối tăm không một kẽ hở nào cho vẻ đẹp tinh thần, cho rung động thầm kín của con tim… Và có thể nói đó cũng thái độ "vô vi" (cứ thuận theo tự nhiên mà làm) của Lão Tử - người đã giúp cho cả một dân tộc tồn tại được mấy ngàn năm vật lộn với đời sống mà không có nhiều người mắc bệnh điên, bệnh thần kinh suy nhược, bệnh đứt gân máu như người phương Tây - theo cách nói của Lâm Ngữ Đường.
Tôi tin, những ngày qua, dõi theo bước chân của vị hành giả đã coi “Đời là giấc mộng” ấy, rất nhiều người trong chúng ta phải chợt tỉnh cơn ác mộng…
[112] I.M. Lotman: Ký hiệu học và mỹ học Điện ảnh (Bạch Bích dịch). Viện Nghệ thuật & Lưu trữ Điện ảnh Việt Nam xuất bản, Hà Nội 1997.
[113] Đời là giấc mộng (La vida es sueño), xuất bản năm 1635 - vở kịch Baroque vĩ đại nhất của nhà viết kịch Tây Ban Nha Pedro Calderón de la Barca.