Mai An Nguyễn Anh Tuấn
12.
Thế nhảy xuống xe, ngước nhìn con dốc dài ngoằn ngoèo, trơn lầy, ướt nhão. Thấy cậu quay phim vẻ chần chừ ngại ngần, anh giật lấy máy quay rồi hối hả chạy lên. Trước mắt anh, hơn chục xe ô tô lớn nhỏ phải dừng lại trên đường cái. Mưa phùn. Không gian vùng núi cao biên giới cuối năm càng thêm lạnh lẽo. Chỉ một chiếc Lancruzơ là leo được lên một cách vất vả, còn lại là phải rời xe đi bộ... Khi chiếc Land Cruiser chuệnh choạng lướt qua, ống kính của anh chộp được gương mặt lạnh như tượng một người ngồi trên xe: ông Tổng giám đốc lừng danh của ngân hàng X. Trước đó chưa đầy nửa giờ, tại ủy ban xã, cũng gương mặt ấy nhưng tươi cười - cái tươi cười hớn hở của một người đi ban phát tài trợ biết chiếu cố đến sự sùng kính và biết ơn cao độ của nhân dân và cán bộ xã…
… anh và ngân hàng của anh đã vận động tài trợ hàng trăm tỉ đồng để xây dựng trường học ở huyện quê hương anh, tài trợ hàng trăm triệu đồng cho một nhà hát miền Trung, xây dựng miếu thờ các nghĩa sĩ Tây Sơn ở chùa Y, xây dựng Đàn tế trời ở tỉnh H… anh là người bảo trợ tổ chức hầu hết các hội nghị, hội thảo lớn… Những nhà lãnh đạo cấp cao ở Trung ương và địa phương về thắp hương trên bàn thờ ông bà cha mẹ anh, bởi ai cũng quý trọng tài năng, nhân cách của anh và quý trọng cái chữ hiếu rất đậm trong trái tim của anh… Lễ khánh thành khu tưởng niệm ở B.H, có tới 5 Bộ trưởng dự… Chỉ có những con người tài năng, có đạo đức, có văn hóa mới có những ứng xử văn hóa đẹp, chính vì vậy mà giá trị văn hóa trong doanh nhân Tổng ngân hàng X ngày càng cao, cho dù có ai đó có muốn phủ định cũng không thê nào phủ định được, bởi đã vàng mười thì không sợ gì lửa… (Tin chính thống cách đó hơn một tháng).
Những lời thống kê và ca ngợi đến líu lưỡi lộn xộn như chỉ sợ không nói hết được công lao của ông Tổng Giám đốc Ngân hàng X, dù sao cũng làm anh từng ngây ngất, và tự tin hơn, sau khi nhận ký cái hợp đồng làm phim tổng kết 10 năm An sinh xã hội của ngân hàng này hai tháng trước. Bởi, những người đi làm phim viết báo thuê như anh, nếu bên A của hợp đồng mà làm ăn đàng hoàng tử tế thì sẽ có cơ sở cảm xúc tốt mà ngợi ca, và lúc nhận tiền thanh lý hợp đồng sẽ vui vẻ, khỏi băn khoăn thậm chí tủi nhục như một vài trường hợp anh đã dính phải…
Lúc này, sau khi ghi lại những bàn chân quan khách lê bùn đất để nhích từng bước leo dốc, anh lại vội vàng chĩa máy quay vào đít chiếc ô tô đang như kẻ say rượu hùng dũng bất chấp các rãnh nước to vật và hố sâu hoắm khẳng định ưu việt của công nghệ và tư thế vượt trội của vị thủ lĩnh ngân hàng tầm lãnh chúa…
Chính ông này, thông qua một nhân viên quen biết Thế, đã mời anh tới ký một hợp đồng làm phim tài liệu truyền thống khá quy mô; đoàn phim phải đi tới nhiều địa phương toàn quốc và một số nước Đông Nam Á quay tư liệu.
Hành trình của đoàn làm phim về hoạt động An sinh xã hội của Ngân hàng X (theo chủ trương 30A Giảm nghèo bền vững của CP), đã kéo dài trong suốt hơn hai tháng trời, qua nhiều đường đất và không gian - từ Bắc vào Nam, hết lên rừng lại xuống biển, từ những Thủ đô của nước bạn tới các làng bản nghèo heo hút miền Trung, miền biên giới Tây Bắc Tổ quốc... Từ vùng bao la biển động tới miền trùng điệp núi cao mây phủ, những ngày ấy hầu như đều chìm trong một màu mưa trắng lạnh, hoặc sương mù dày đặc.
Sau khi cắt băng khánh thành cụm trường học tại UBND huyện, hơn hai chục người từ Hội nghị đã tới thăm một trường mới xây tại xã Nà Nghịu. Từ đường cái vào, một con suối hung dữ gầm réo bên dưới vực thẳm. Và rải rác mấy bản người Thái đen, người Kh’ mú tồi tàn xơ xác, lối đi ngập bùn và phân trâu phân ngựa... Máy quay đã nặng trĩu vai anh… Một vài địa điểm tài trợ không có ông Tổng ngân hàng X đi cùng, song ở đâu cũng in đậm dấu vết của ông và tên tuổi cái ngân hàng nổi tiếng mà một nhân viên đã cố gắng thể hiện một cách mẫn cán trong khi đi theo phục vụ (và giám sát) đoàn làm phim… Những cuộc bàn giao long trọng ở thủ đô nước bạn, sau đó là những cuộc chiêu đãi ngập tràn bia rượu của nơi nhận tài trợ mong được tri ân và hy vọng sẽ được nhận tiếp tài trợ lớn hơn… Một cuộc sinh nhật bất ngờ của Tổng ngân hàng X được tổ chức tại khách sạn 5 sao ngoài biên giới, hôm đó ông thức thâu đêm, hát say sưa các bài hát về tình hữu nghị hai nước như đắm chìm mãi trong kỷ niệm thời làm anh chiến sĩ tình nguyện giúp bạn diệt giặc, giờ là giúp bạn phát triển kinh tế…
Vợ, con trai, con gái ông tổng nhân hàng X là chủ những bất động sản trị giá tính bằng hàng ngàn tỉ. Chỉ tính riêng Tổ hợp Khách sạn - Thương mại - Căn hộ cao cấp T. H tại quê nhà do gia đình ông Tổng ngân hàng X đầu tư, giá trị đã xấp xỉ 3.000 tỉ đồng. Chưa kể hàng chục ngàn tỉ đồng rót sang Lào, đầu tư vào 60.000 héc ta đất trồng các loại trái cây để xuất cảng sang Trung Quốc… Ông ta và ngân hàng X đã tài trợ vài chục tỷ đồng để phá nát rừng nước ấy thu lãi cho mình hàng trăm, hàng ngàn tỷ đồng… (Tin vỉa hè)
…ông ngủ là xơi liền mấy phòng VIP. Chân dài cả dàn. Thích chửi ai là chửi thậm chí bạt tai đá đít mày tao chi tớ với cấp Bộ cấp tỉnh là chuyện thường. (Tin vỉa hè)
Một người nếu đã có sự xúc động chân thành trong những bài hát nhạc Đỏ về một thời đẹp như vậy thì những tin tức trên rõ ràng chỉ là mánh khóe của kẻ “ghen ăn tức ở”, hay của đối tượng cạnh tranh. Cần phải tin ở phát ngôn của những người có trách nhiệm:
Tháng 2 năm 201…, tin ông Tổng X bị bắt đột nhiên loang như dầu, thị trường chứng khoán lập tức trở thành hỗn loạn, chỉ sau một phiên giao dịch, 1,6 tỉ Mỹ kim vốn trên thị trường chứng khoán bốc hơi. Tổng cục An ninh lập tức tổ chức săn lùng và đến tháng 7 năm 201…, loan báo đã bắt ba kẻ tung tin đồn nhảm. Tháng 8 năm ngoái lại có tin ông Tổng X bị bắt, giá cổ phiếu các ngân hàng trên thị trường chứng khoán rớt xuống đáy, hai tỉ Mỹ kim bốc hơi... Lại thêm mấy kẻ tung tin đồn nhảm bị bắt… (Tin chính thống)
Đoạn đường hiểm trở gần ba cây số rồi cũng tới chỗ chấm dứt. Đứng thở một lát cho đỡ hụt hơi, bớt hoa mắt, anh lại chạy theo đoàn người đang lục tục vào trong hiện trường… Mặc dù những lớp học ở đây đã được kiên cố hóa sau khi xây dựng bằng vốn tài trợ An sinh xã hội của ngân hàng X, không còn cảnh gió lùa qua kẽ liếp ù ù, mái tranh trống huếch, bàn ghế long gẫy tồi tàn, ngổn ngang phân súc vật như ở không ít lớp học vùng cao vùng xa miền núi khác mà anh từng chứng kiến; nhưng cái khí lạnh mùa đông của núi rừng biên giới vẫn như thấm vào da thịt những em bé dân tộc co ro trong những quần áo không đủ ấm, lại tồi tàn, vá víu. Có em gái vừa viết bài vừa run rẩy đến tội nghiệp... Trong khi anh dán mắt vào vi-zơ, máy quay đã chộp được không ít những giọt lệ không cầm nổi của nhiều người trong đoàn… Một kẻ gần nửa đời người làm phim làm báo như anh đã quá quen thuộc, thậm chí chai sạn với những hội nghị lớn nhỏ, những diễn văn khai mạc, khánh thành cùng các nghi-lễ, khánh-tiết, lúc đó anh cũng phải rời vi-zơ để thấm nước mắt... Anh chợt nảy ý nghĩ: sau khi xót xa cho cảnh ngộ đáng thương của các em nhỏ, mọi người trong đoàn đã tự nói gì với mình? Ngôi trường thật khang trang, đẹp đẽ như trong mơ, bây giờ các em đã có rồi... Nhưng, còn biết bao nhu cầu khác của học hành, của đời sống... Và còn biết bao nơi xa xôi gian khổ khác cũng đang cần có một ngôi trường cho ra trường để thay thế cho các lớp học vách nứa mái tranh đang chực xổ tung ra giữa cơn gió ào ạt tựa dao cắt giữa mùa đông!... Phải chăng, với những giọt lệ chân thực kia, họ đã buộc phải tự hỏi lòng mình như thế?
Trong ba lô của anh có các con số tài trợ cho chương trình giảm nghèo của ngân hàng này được thống kê khá chính xác và chi tiết; số tiền tài trợ quả là rất lớn (Không kể ở nước ngoài, hàng trăm triệu đồng tới hàng chục tỷ đồng cho mỗi huyện trong 10 huyện nghèo toàn quốc mà ngân hàng này nhận tài trợ), nhưng xét cho cùng, cũng chẳng thấm tháp gì so với những nhu cầu cấp bách của sự nghiệp Giảm nghèo! Và chúng sẽ là những con số chết chỉ dùng để báo cáo thành tích, để phô trương danh hiệu - nếu như… Nhưng, theo thói quen nghề nghiệp, anh bắt đầu tranh thủ phác thảo những lời bình bộ phim tương lai để làm sao lọt tai người đã chi tiền thuê anh: Khi có thêm một ngôi nhà tạm được xóa, thêm một lớp học kiên cố, thêm một cây cầu dân sinh được bắc qua suối, thêm một chiếc cặp phao cứu sinh, thêm một suất quà Tết... nghĩa là có thêm những nụ cười ấm áp, thêm những niềm vui trong trẻo, bớt đi những mảnh đời cơ nhỡ bất hạnh... - hơn thế, khát vọng chia sẻ và đồng cảm đối với cộng đồng xã hội sẽ được nhân lên không ngừng; cho tới khi thái độ sống ích kỷ, sự dửng dưng lạnh nhạt trước nỗi khổ đau của người khác sẽ không còn có đất để tồn tại giữa một không gian nhân quần mà lòng nhân ái được coi là lẽ sống đẹp đẽ nhất... Anh bỗng nhớ đến bộ phim tâm lý xã hội Mỹ Đáp đền tiếp nối: một chú bé ở một thành phố nọ sau khi hành động giúp đỡ bạn thành công, đã có sáng kiến phát động một phong trào: mỗi người cần giúp đỡ một người khác khi gặp khó khăn, hoạn nạn, coi đó là một sự đáp đền ân nghĩa cho cuộc đời rộng lớn, và cần nối tiếp sự giúp đỡ cứu trợ đó từ người này sang người kia... Nhưng các bậc phụ huynh và những quan chức thành phố không thèm để ý tới cái chuyện mà họ cho là lặt vặt, thậm chí là vô nghĩa ấy! Chỉ tới khi, cậu bé hy sinh tính mạng mình để cứu sống người bạn cùng lớp, thì sự xả thân của em đã tạo nên một chấn động tình cảm mạnh trong toàn thành phố, và phong trào do cậu bé khởi xướng được tiếp tục, trở thành một truyền thống đẹp của địa phương: phong trào "Đáp đền tiếp nối"...
Đang lan man cảm nghĩ, anh sực nhớ ra: trong tất cả những cảnh quay quan trọng vừa rồi không có ông Tổng ngân hàng X. Ông đi đâu vậy? Anh vừa tự hỏi xong, ông liền xuất hiện như có bùa chú. Ông đã kịp thay bộ quần áo nhớp nháp mồ hôi sau chặng đường phong ba bão táp, thử thách chút lòng dũng cảm của ông còn sót lại từ thời đạn bom ở nước bạn. Và ông cần lấy lại phong độ vương giả, đầu tiên bằng quần áo, trước hàng lô ống kính máy ảnh máy quay của các loại phóng viên trung ương, địa phương. Ông có thể bợp tai một Bộ trưởng (theo dân vỉa hè có thể đáng tin được), nhưng ông biết hạ cố lấy lòng một anh nhà báo quèn tỉnh lẻ một khi anh ta biết chộp được thời cơ may mắn ghi lại những giây phút xuất thần của ông bộc lộ trước công chúng như một người Yêu nước, Thương dân thực sự (theo một Fb, cũng là của dân vỉa hè). Anh cũng vô tình được lọt vào sự lựa chọn có tính chất quý tộc đó của vị thủ lãnh ngân hàng, bởi việc đầu tiên khi ông ta xuất hiện tại đây, là đến bắt tay anh thật chặt, và lắc mãi, khiến anh có đến mấy giây lâng lâng tự hào và mủi lòng: “Cám ơn nhà báo nhà làm phim đã quay được cảnh xe lên dốc nguy hiểm! Đời tôi hiếm thấy!” Hóa ra, ông không hề nhớ, và cũng chẳng thèm nhớ làm gì, kẻ ông vừa bắt tay ban ơn kia đã là người tham dự buổi sinh nhật của ông tháng trước tại một Khách sạn sang trọng ở Campuchia, cùng ông gõ thìa đũa hát một bài nhạc đỏ và nâng cốc rượu Wisky chúc mừng ông thêm tuổi mới trên nước bạn… Ma xui quỷ khiến, anh bất giác đáp lại một cách chẳng biết là tinh khôn hay dại dột: “Vâng, cám ơn anh! Nhưng theo tôi, cảnh đáng giá hơn nhiều là các đồng nghiệp của anh lúc nãy chảy nước mắt trước các em nhỏ dân tộc đang bị rét... Giá mà có anh…”.
Một thoáng nhíu mày. Một vệt mây đen lướt qua cái nhìn sắc như dao cạo. Như muốn ném ra một lời đánh giá tàn nhẫn: Nhảm nhí! Vớ vẩn! Ông quay ngoắt đi, vẫy tay ra hiệu. Các nhân viên của ông lễ mê khuân ra các túi quà. Ông tự tay phân phát quà cho các em nhỏ, từ tay các nhân viên khúm núm bưng tới trước ông, ông làm điều đó một cách kiên nhẫn, chậm chạp, với nụ cười nhân hậu của một người cha, người ông, dưới sự chứng kiến của các ống kính và mọi người có mặt mà ông tin chắc là không có gì được bỏ sót. Sau cùng, ông đứng giữa các em nhỏ xếp hàng để chụp ảnh tập thể. Nghĩ thế nào, ông bế xốc một bé gái mặc váy cóm Thái rách rưới lên để chụp ảnh, pô chót đó, ông đề nghị chụp lại mấy lần. Bức hình này chắc chắn sẽ được in vào tập san của Ngân hàng X dịp tết Âm lịch tới, và làm tư liệu lịch sử quý giá của hoạt động Ngân hàng X trải qua những giai đoạn cách mạng gian khó của ngành tài chính - ngân hàng…
Lúc vào nhà vệ sinh của trường còn mới cóng sực vùi vôi, Thế chợt nhìn thấy ông đang rửa tay rất kỹ bằng xà phòng Lux do trợ lý mang theo, vẻ mặt chăm chú và có vẻ ghê tởm điều gì đó… Lúc ông quay ra, ông đã thay bộ quần áo khác, chắc để thoát hẳn khỏi sự lấn cấn lo nghĩ về độ an toàn vệ sinh sau khi buộc phải bế em bé bẩn thỉu cho chương trình truyền thông. Ông lầm lì bước ra xe cùng bầu đoàn của ông, với gương mặt của một vĩ nhân đang tiếp tục lo đến những việc trọng đại của quốc gia, quốc tế đang chờ đợi ông, chẳng hơi đâu đếm xỉa đến sự ngưỡng mộ sùng kính của thầy cô giáo, nhân viên trường và các em học trò nhếch nhác lạnh cóng vùng cao Sốp Cộp đang xếp hai hàng tiễn ông…
13.
Sốp Cộp là địa điểm quay cuối cùng. Còn ở những địa điểm khác, người được ông Tổng cử đi theo giúp đỡ (và giám sát đoàn làm phim) là một cô gái xinh đẹp, có học thức, làm Phó phòng Thông tin - Tuyên truyền của Ngân hàng này. Nói chuyện, được biết cô ta học ở khoa Thư viện - trường Đại học Văn hóa ra, rất hay chép thơ, anh thấy tạm yên lòng; bởi người giám sát, đỡ đần công việc như thế không xa lạ với nghề nghiệp của mình, và thời gian làm phim chắc cũng sẽ bớt vất vả lầm lụi vì có “bóng hồng” bên cạnh tỏ ra yêu thích văn chương nghệ thuật… Và cô gái ấy đã ngắt tặng anh một bông hoa nhài khi quay tư liệu tại một ngôi chùa quê, sau đó bắt anh kể về thân phận hoa nhài (còn gọi là hoa Lài ta), để rồi một chuyện khá đau lòng, khá nhục nhã xảy ra sau đó không lâu…
Trong một đêm ở vệ cỏ làng quê nghèo miền trung, anh đã kể cho cô ta: Có một câu truyền miệng tự bao đời nay: Ngát thơm hoa sói hoa nhài/ Khôn khéo thợ thầy Kẻ Chợ. Nhưng nhiều người Hà Nội cũ trong thưở thơ ấu hẳn đã có lần phải thắc mắc: trong những gói hoa cúng mà các cô gánh hàng hoa lặn lội từ các làng hoa ra đem treo nơi cửa Phật, cửa nhà (rồi lần sau mới lấy tiền), tại sao không có hoa nhài? Tại sao trên mái tóc những cô gái thường cài hoa bưởi, hoa nhài, hoa ngâu, và trong chén trà buổi sớm của người cha đáng kính vẫn thường ngan ngát hương nhài, hương sen, thế nhưng riêng hoa nhài lại bị mang một một cái "án" không tuyên dai dẳng trong tiềm thức nhiều tầng lớp người, trong định kiến toàn xã hội, khiến hoa chỉ biết lặng lẽ nâng vạt áo nâu sồng gạt lệ khóc thầm qua nhiều thế kỷ?...
Thật đáng tiếc cho một tâm hồn vĩ đại như thi hào Nguyễn Trãi, vốn nặng tình yêu Dân trọng Dân, nhưng chỉ vì từng là môn sinh nơi cửa Khổng sân Trình, hoặc chỉ vì định kiến chung áp đảo, lại thiếu chút ít thông tin về đời sống mà có ấn tượng không đẹp về hoa nhài:
Môi son bén phấn dây dây
Đêm nguyệt đưa xuân một nguyệt hay
Mấy kẻ hồng nhan thì bạc phận
Hồng nhan kia chớ cậy mình thay
(Trong phần Môn hoa mộc của Quốc âm thi tập)
Nói "môi son bén phấn" là vì hoa nhài từ trước vẫn tượng trưng cho kỹ nữ, gái làng chơi; và hoa chỉ ban đêm mới thơm nên còn được gọi là Dạ lai hương (đêm nguyệt đưa xuân), rất dễ liên tưởng tới nghề nghiệp của "gái lầu xanh" (mà một cô gái mười phân vẹn mười như nàng Kiều của cụ Nguyễn Du cũng có thể rơi vào bởi cái xã hội đảo điên ăn thịt người!). Anh bảo cô: riêng anh thì tin chắc rằng: nếu không mắc phải họa tru di tam tộc, có thêm một thời gian nữa sống nơi thôn dã lương dân, một trái tim nhạy cảm và thanh cao như Nguyễn Trãi sẽ có cách nhìn hoàn toàn thay đổi về một loài hoa rất gần với nhân cách của cụ, hơn mọi thứ hoa nào khác mà cụ đã ca ngợi, như Mai, Đào, Cúc, Hòe, Mộc… Trong thời đại này, hoa nhài thậm chí còn thoát khỏi sự trầm luân lặng lẽ của mình để bước vào đời sống chính trị, sự thanh khiết và dịu nhẹ của nó được gắn với một phương thức cách mạng "Bất bạo động". Mới nhất, cuộc cách mạng ở Tunisie và Ai Cập được gọi là "Cuộc cách mạng Hoa Nhài" - nghĩa là người dân đòi quyền sống, đòi công lý và hiến pháp một cách hòa bình thuần khiết theo tinh thần của Thánh Gandhi! Anh còn đọc và phân tích cho cô ta nghe bài thơ “Hoa nhài” vừa lạ, vừa hay đến thấm thía của một nhà nhà thơ đàn anh; rồi tóm tắt cho cô ta cả một tiểu luận rất lý thú của một nhà thơ kiêm nghệ sĩ của hoa và cây cảnh, một người Hà Nội tài hoa: Từ ngàn xưa, từ các vương tôn công tử, các học giả, sĩ phu khắp chốn cung đình đến người dân nơi thôn dã ai ai cũng biết sử dụng hoa nhài để ướp trà... Ở đâu, nhài cũng sống giản dị, chẳng đòi hỏi gì, chỉ cần có đất, nước và khí trời. Một cuộc sống thầm lặng nép mình nơi bờ rào, ven lối đi, hoặc vạt đất thừa dưới ô cửa sổ, lầm lũi như hoa ngàn cỏ nội. Nhài cần mẫn như con tằm rút ruột nhả tơ, chắt chiu từng sợi nắng, giọt mưa, để rồi cống hiến bao hương sắc cho đời… Phương ngôn mình có câu nói rất đẹp: "Ân trả nghĩa đền". Vậy mà thế gian nỡ phũ phàng cay độc, gán cho Nhài là loài hoa "Con đĩ". Vậy nên từ xa xưa cho đến nay có bao giờ Nhài được người đời dùng làm hoa cúng. Nếu đem so sánh với đĩa hoa mà con người dâng cúng thần linh, thì Nhài đâu có điểm gì thua kém? Thậm chí còn hơn hẳn nhiều loài bởi vẻ đẹp và mùi hương! Trớ trêu thay, Nhài chỉ "can tội" trót nở và thơm về đêm để ướp tẩm giấc ngủ con người thêm đằm. Nỗi oan khiên của Nhài ai tỏ? Quả là "Hồng nhan đa mệnh bạc”…
Thế nhưng, một tai họa - nếu có thể gọi là “tai họa” đối với anh cũng bắt đầu từ đấy… Cô gái sau khi nghe anh kể chuyện và đọc thơ văn về Hoa nhài, đã báo cáo về Lãnh đạo thế nào đó mà một tuần sau, khi anh đang cho quay nốt các tư liệu cho phim ở một huyện miền núi thuộc loại nghèo nhất nước, anh nhận được một lá thư có cộp dấu Tổng C.ty này và chữ ký của ông Tổng giám đốc:
Đạo diễn Thế thân mến!
Xin được nói thẳng chẳng vòng vo: chúng tôi mời anh làm phim cho Tổng C.ty là vì tin tưởng ở tay nghề của anh, mà qua một số chương trình anh thực hiện đã chứng tỏ. Nhưng có điều này, chúng tôi cần nói rõ: qua một số tin tức phản ánh của vài nhân viên, chúng tôi cảm thấy lo lắng, quan ngại, vì anh đã tỏ ra hứng thú với những câu chuyện thơ văn tầm phào, lại có liên quan tới gái làng chơi, dẫn đến lơ là đối với công việc anh đã ký trong Hợp đồng. Hơn thế, anh đã nói xấu anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi. Và nguy hiểm hơn, anh đã nói tới "Cuộc cách mạng Hoa Nhài" vớ vẩn nào đó, tất cả những điều này đã làm ảnh hưởng tới tư tưởng nghiêm túc và tư cách đứng đắn của đội ngũ nhân viên chúng tôi…
Tôi có đủ chứng cứ trong tay. Với tình thân, tôi xin khuyên anh nên chấm dứt những câu chuyện như thế để tập trung cho công việc, và để anh khỏi vướng vào những mắc mớ chính trị không cần thiết... Chẳng giấu gì anh, cái Hợp đồng này, các nhân viên của tôi & không ít người thân quen của gia đình tôi đã “nhắm” từ lâu, đã “xí” nhiều lần, nhưng tôi đã dành cho anh! Thế nhé? Chúc vui, khỏe, thành công.
Anh như bị búa giáng thẳng vào đầu. Cô ta yêu thơ văn thật hay vờ vịt? Lúc cô ta nghe anh nói chuyện về thơ, về hoa nhài thì hào hứng lắm, lại giở sổ tay ra ghi chép nữa, khó nghĩ là giả vờ! Nhưng lá thư kia là có thực… Thì ra, cô gái đáng yêu kia đã ghi âm từng lời của anh, như một thám tử lành nghề, để tâng công lãnh đạo. Hóa ra, anh là kẻ thực ngây thơ, cả tin. Thế là, đây là một sự cảnh cáo, một sự đe dọa theo cách lịch sự. Nếu khi vừa ký hợp đồng, nghe những lời như thế, anh sẽ xé tan nó trước mặt ông ta. Nhưng anh đã trót nhận tiền tạm ứng theo tổng kinh phí hợp đồng, và đã chi tiêu gần hết cho phim. Anh chỉ còn cách là nuốt nhục, lại phải làm như cái thư đó là một sự quan tâm chu đáo của ông chủ đối với người làm thuê. Đúng là anh đang ở thân phận kẻ làm phim thuê, viết thuê, cần biết cẩn trọng hơn trước “mồm chó vó ngựa”, trước “kẻ sang có gang có thép”, để bảo vệ “niêu cơm” của gia đình anh và tương lai chính trị của các con gái anh…
Và thế là, thứ hoa hiền lành đáng thương là hoa nhài từng chịu sự oan ức bao thế kỷ, không may dính phải một kẻ nghệ sĩ - nhà báo hạng bét như anh lại phải gánh thêm nỗi oan ức mới… Hy vọng cô gái từng vờ yêu anh để làm thám tử cho Tổng giám đốc của cô không đọc tới câu chuyện này, để may ra còn giữ được chút kỷ niệm đẹp về một kẻ từng làm thuê tận tụy cho Tổng Công ty của cô…
Lúc đem phim đã hoàn thành tới để ông duyệt lần cuối và thanh lý hợp đồng còn nhục hơn… Tới Tổng Công ty thì nhân viên chỉ dẫn anh tìm đến một Khách sạn lớn nằm giữa phố cổ Hà thành, nơi có ba phòng Vip dành riêng cho ông. Anh phải chầu chực ngoài sảnh Khách sạn hai tiếng liền; tới khi ông bước ra vẻ phờ phạc sau những trận “mây mưa đánh đổ đá vàng”[103] với mấy ả chân dài, thấy kẻ làm thuê cho công việc hệ trọng của ông thì ông muốn tỏ ra lịch sự, như muốn chia sẻ cảm xúc mây mưa vừa qua của mình bằng cách “hoan nghênh thành tích của nhà báo đạo diễn” (theo thói quen đọc diễn văn hội nghị các loại của ông), và ngợi khen: “phim rất hay, rất nhiều cảnh đẹp và quý” (mà ông chưa hề lướt xem qua, chắc chỉ nghe báo cáo của cấp dưới đã duyệt phim trước ông)… Có lẽ đó là lần đầu tiên và cũng là lần chót Thế phải biết ơn mấy ả chân dài tuy không cô nào thuộc “quyền sở hữu” của anh nhưng lại giúp anh thoát sự xăm soi vặn vẹo của người thuê anh về nội dung - tư tưởng bộ phim dịch vụ, và cũng giúp ông ta quên béng đi lời cảnh báo nồng nhiệt hôm nào của chính mình đối với tay làm thuê thuộc tầng lớp dưới đáy xã hội…
14.
Trong số các địa điểm quay phim tại mấy nước Đông Nam Á giai đoạn phục vụ ông Tổng Giám đốc Ngân hàng X, có vài địa điểm không nằm trong Hợp đồng song lại rất có ý nghĩa đối với Thế - đặc biệt là một ngôi trường từng trở thành nhà tù nằm trên ngọn đồi mang tên Độc Dược…
TỘI ÁC HỒN NHIÊN
Những đàn bồ câu hồn nhiên bay lượn và đậu yên bình cũng hồn nhiên như thế trước Hoàng cung dát vàng
Những con rắn thần Naga hồn nhiên rời bỏ chốn linh thiêng kiêng kỵ để hòa nhập với cộng đồng người nơi mỗi góc phố, công viên
Những anh xe lôi hồn nhiên nằm ngủ trong khoang xe đợi khách
Những em bé đi học về hồn nhiên chạy qua cầu đảo Kim Cương[104]
Nhà sư áo vàng chậm rãi hồn nhiên khất thực giữa đám người du lịch tò mò
Những tượng Phật, những tháp chùa hồn nhiên bắt nắng trời và bụi trần gian...
Ở đâu tôi cũng bắt gặp cái hồn nhiên của sự sống, nhiều và thường xuyên đến độ khiến tôi quên rằng chúng cần thiết làm sao trong cái cuộc đời nhiều lo toan trắc trở
Cho tới khi tôi bước vào nhà tù cũ Toul Sleng...
Bên những lan can trường học trên đồi Độc Dược[105] còn dây thép gai chằng chịt như chưa hết sức mạnh đe dọa bất cứ kẻ nào hồn nhiên đòi tự do và công lý
Trong những căn phòng vốn dành cho thầy giảng và trò học là những ngăn xà lim xây vội nham nhở nhưng lại có đủ khả năng bóp nghẹt mọi tia sáng của nhân tính hồn nhiên
Tôi bỗng giật mình:
Thì ra Tội ác cũng mang cả khuôn mặt hồn nhiên!
Kẻ Ác hồn nhiên lấy Thánh đường của Giáo dục làm nơi hành hạ con người, hồn nhiên cướp đi sự hồn nhiên của trẻ thơ và hồn nhiên biến cái hồn nhiên đáng yêu thành nỗi kinh hoàng, thành máu chảy và đầu lâu lăn lóc...
Tôi chợt hoang mang sợ hãi:
Còn những điều sỉ nhục và hạ thấp Con Người nào đang mang vỏ bọc Hồn Nhiên?
Vụ làm phim theo hợp đồng để kiếm sống thuần túy nọ, tuy giúp Thế tích lũy thêm nhiều điều bổ ích cho điện ảnh, song ấn tượng nặng nề bởi lá thư kia ám ảnh anh tới độ anh phải tự thề: “Kiếp sau xin chớ làm người - Làm con chim hót giữa trời Tự do”… Và chẳng ngờ, lời tự thề mượn khí khái ngông nghênh của cụ Nguyễn Công Trứ đó lại đến với Thế vào giáp Tết: Anh đang ngồi viết nốt một kịch bản phim, dù biết rằng sẽ chẳng hãng nào dám sản xuất, mà có sản xuất ra phim sẽ chẳng được duyệt để phát hành, thì được đọc bài viết của một người anh lớn vốn ở cùng ngành trước đây, nói về một người bạn mà Thế hằng quý trọng vừa rời khỏi “cõi tạm”. Anh bất giác ứa nước mắt thương người bạn xấu số, và thương mình… Không ngờ, kịch bản phim Thế đang viết lại dính dáng đến số phận bạn anh… Phim nói về một người diễn viên có “số má” và địa vị, dù chỉ là cái địa vị “Bật Mã ôn” - trong những ngày cuối bệnh trọng, chắc anh đã phải ân hận đến độ đau đớn. Vì anh đã bị “ma đưa lối quỷ dẫn đường”, trong một lần bị thôi miên hay sao ấy trót nghe lời xúi giục, dụ dỗ (và cả đe dọa nữa), đã lên truyền thông Quốc gia để nói những điều trái với lương tâm mình (phê phán những người chống lại đường Lưỡi Bò đểu cáng), dù biết chắc rằng sau đó sẽ bị dư luận tử tế “ném đá”… Bạn anh không còn dịp nào nữa để có thể làm được cái việc như Galileo Galilei ngang nhiên nói với mọi người: “Dù sao trái đất vẫn quay”, sau khi buộc phải tạm phản bội chân lý để thoát lửa thiêu của tòa án Thiên chúa giáo trung cổ… Thế chợt nhớ đến bộ phim kinh điển Mỹ Citizen Kane (Công dân Kên) của đạo diễn Orson Welles, kể về ông trùm báo chí Charles Foster Kane, ở đầu phim là cảnh Charles trước khi trút hơi thở cuối cùng chỉ kịp thốt lên một từ "Rosebud" (cánh hoa), khiến một anh phóng viên phải tò mò, và cả bộ phim là hành trình của anh ta tìm ý nghĩa của từ đó…
Thế bỗng nghĩ rằng, trong những giờ phút cuối đời, bạn anh chắc nhớ đến câu thơ của cụ Uy Viễn tướng công:
Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
Chắc Thế không phải mất nhiều thời gian như anh chàng phóng viên Mỹ nọ để có thể “giải mã” lời trăng trối ấy của bạn anh. Bởi nếu anh ở cương vị bạn, trong “Phút bi tráng cuối cùng” đó (tên một cuốn tiểu thuyết nước ngoài), anh cũng sẽ nghĩ như thế, nói như thế: Kiếp sau đừng có làm cái nghề có dính dáng đến chữ nghĩa hoặc đóng phim đóng kịch nữa, để khỏi phải nói phải viết phải diễn những gì mình không muốn, mà sẽ làm một công dân bình thường, vô danh tiểu tốt, nhưng có trái tim ngay thẳng, tư cách như cây thông cây tùng, suốt đời không phải cúi mình bợ đỡ kẻ có quyền có tiền, chạy chọt những thứ hư danh trong miền “Sinh ký”- Cõi tạm… Ý nghĩ này Thế coi như thay cho nén nhang muộn của anh trước hương hồn bạn khi Xuân mới về...
15.
Nhưng anh bạn diễn viên vừa qua đời của Thế dù sao cũng có số phận đỡ nặng nhọc hơn diễn viên Hà Sơn, người gắn với bước đầu sự nghiệp làm phim truyện của anh. Thế bồi hồi nhớ lại…
Một trại giam ở Bắc Giang. Người đại úy quản giáo dẫn một tù nhân đàn ông còn trẻ đi từ phòng giam tử tù về phía cổng trại. Khi đi qua một khu phòng giam nữ, kẻ đang đi tới những khảnh khắc cuối cuộc đời chợt dừng lại, hất mặt về phía có một người đàn bà tì mặt qua chấn song đang gào khóc nức nở, và anh ta hét lên như cố biểu lộ vẻ yêng hùng: "Im ngay! Đừng có khóc! Vớ vẩn!".
Đó không phải là một cảnh dàn dựng để quay, mặc dù cảnh ngộ đó cũng lọt vào ống kính máy quay một cách vô tình, khi đoàn làm phim "Công lý" của Hãng VFC đang thực hiện một cảnh quay ngoại. Một cán bộ trại giam cho Thế biết: cả hai người đó đều bị án tử hình vì buôn lậu ma túy, nhưng người phụ nữ được giảm án chung thân bởi còn có con nhỏ. Cả đoàn phim lặng người khi chứng kiến cuộc chia ly lần cuối của đôi vợ chồng tội phạm. Lúc đó, diễn viên chính của phim đang trong trang phục tù nhân bỗng lặng lẽ rời xa mọi người, lảo đảo đến tựa người vào một gốc cây và ngồi sụp xuống như bị kiệt sức. Thế chạy vội đến anh, định hỏi han, thì anh từ từ ngẩng đầu lên. Một đôi mắt đỏ ngầu, với những tia lửa như sẵn sàng thiêu đốt tất cả, nhưng đau đớn làm sao, hoang mang và đơn độc làm sao! Cho đến tận bây giờ, Thế vẫn chưa hết cảm giác bàng hoàng và cũng không thể lý giải nổi về ánh mắt đó...
Ánh mắt của diễn viên Hà Sơn!
Thế im lặng ngồi xuống cạnh Sơn. Thế tránh ánh mắt của anh, và cũng tránh nhìn thêm cảnh "chia ly" thê thảm kia. Suốt nửa giờ đồng hồ, cả đoàn phim như bị tê liệt, còn Thế thì cố chờ nghe một điều gì đó từ chính Sơn thốt ra - chỉ để mong anh ta được nhẹ nhõm hơn, cho tới khi trợ lý đạo diễn nhắc cả đoàn tiếp tục tiến độ quay cho hết bối cảnh ngoại trong trại giam...
Tối hôm đó, không có lịch quay, Thế sang gõ cửa phòng Sơn tại nhà nghỉ của Ủy ban Tỉnh, vác theo chai rượu làng Vân do anh bạn nhà văn ở Bắc Giang cho. Phòng Sơn có một dám diễn viên trẻ và những người làm ánh sáng, phụ quay đang đánh tá lả, còn anh thì nằm dài trên giường mình. Thấy Thế, anh mừng rỡ ngồi dậy... Suốt hơn hai chục năm Thế không có liên lạc gì với anh sau hai lần cộng tác làm phim; và từ ngày anh trở lại với nghề diễn, tên tuổi lại được nhắc tới qua hơn chục phim thì Thế mới lại mời anh tham gia phim của mình - đó là lần cộng tác thứ ba. Hà Sơn có lý lịch vai diễn thật dày dặn, cả sân khấu lẫn phim điện ảnh, phim truyền hình, cả phim ngắn tập lẫn phim nhiều tập, nhập vào nhiều loại tính cách, nhiều cương vị xã hội. Nhưng, Sơn tâm sự, vai diễn mà anh tâm đắc nhất, để lại nhiều dấu ấn nghề nghiệp cho anh nhất chính là vai người kỹ sư trong bộ phim nhựa đen trắng "Sau cánh cửa" - đó là vai diễn đầu tiên trong điện ảnh của Hà Sơn. Lúc đó, Thế mới "chân ướt chân ráo" vào nghề, làm phó cho đạo diễn Thái. Thế có nhiệm vụ tìm diễn viên, và khi đưa Sơn tới Xí nghiệp phim truyện để chụp ảnh thử vai, thì các thành phần chủ chốt trong đoàn làm phim thấy ngay đó là diễn viên cần tìm cho nhân vật chính! Thế rồi, chẳng hiểu có phải là định mệnh không, số phận của nhân vật chính trong bộ phim đã "ám" vào anh: người kỹ sư vì quá trung thực thẳng thắn nên cuộc đời gặp bao nỗi bất hạnh, bị vợ bỏ, sống đơn độc với cảnh "gà trống nuôi con"... Và sau mấy năm cởi áo sọc trong trại giam thật, giờ đây anh lại khoác nó vào để diễn xuất. Cảnh quay Hà Sơn cầm bát cơm của tử tù vừa ăn vừa trào lệ khiến tất cả đoàn phim ngậm ngùi, sau đó là khâm phục - không chỉ vì anh đã nhập vai một cách xuất sắc mà còn vì sự trải nghiệm xót xa của đời anh vào một thăng hoa nghệ thuật...
Mặc kệ những tiếng "sát phạt" của đám tá lả bên cạnh, khi đã có men rượu, Sơn như chìm trong kỷ niệm cũ, anh thầm thì: "Ông Thế ơi, tôi đã không có can đảm như tay kỹ sư của phim "Sau cánh cửa". Tôi bị cám dỗ ma qủy cuốn đi... Ông có biết chiều nay tôi nghĩ gì không?" Thế im lặng. Và thật lâu sau, Sơn mới tiếp: "Tôi run người căm giận kẻ đã gieo cái chết trắng cho đồng loại... Và tôi ghê sợ chính tôi... Không ngờ, tôi lại từng đổ đốn, lại từng khốn nạn thế...". Cả buổi tối hôm đó, Sơn "độc thoại" về những đoạn đời hãi hùng của anh. Anh thành thực trong xấu hổ và ân hận vì đã từng có ý định lấy trộm của bạn một đôi giày lúc cơn nghiện giày vò, sau khi đã "thổi bay" cả ngôi nhà "hương hỏa" giữa phố cổ cùng bao vật dụng gia đình trong khói trắng... Anh cười cay đắng kể lại chuyện đến nhà bạn thân hỏi xin tiền, biết chắc là bạn sẽ chạy cửa sau nên đón lõng bạn ở đó... Anh bật khóc khi nhớ lại chuyện đứa con gái sinh viên phải đành lòng dúi trộm cho bố mấy trăm ngàn dành dụm được để bố cắt cơn ghiền... Mắt anh rưng rưng một niềm xúc cảm và biết ơn khi nói về những người quản giáo tốt bụng, lương thiện đã cưu mang nâng đỡ anh trong trại cải tạo mà anh trân trọng gọi là "các thầy". Anh còn đề nghị Thế cộng tác viết kịch bản và làm phim về đoạn đời của anh trong "trại", mà anh khẳng định chắc chắn rằng: "Đó sẽ là một phim rất xúc động, có tác dụng thiết thực đối với nhiều cuộc đời trót lỡ lầm...".
Nhưng chưa kịp bắt tay nhau thực hiện ý định này thì Sơn đã vội ra đi ở tuổi mới ngoài 50! Nữ diễn viên từng đóng vai luật sư tìm mọi cách để minh oan cho nhân vật kỹ sư do anh thủ vai trong phim "Công lý", đã hốt hoảng thông báo cho Thế: anh mất tại một căn phòng xa trung tâm Thành phố, nơi anh đã sống một mình suốt những năm qua... Thế lặng đi đau xót… Không gia đình, tài sản chẳng còn gì, chỉ tồn tại sống và chạy chữa bệnh tật bằng khoản tiền thù lao ít ỏi do đóng phim truyền hình; nhưng những năm tháng qua, chắc hẳn đối với Sơn lại là những năm tháng giàu ý nghĩa nhất. Đó cũng chính là đoạn đời đặc biệt của Sơn: anh tự đốt cháy mình trong lao động nghệ thuật căng thẳng, dám sống hết mình với vai diễn, dường như chỉ bằng cách đó anh mới bù đắp được phần nào khoảng thời gian quý giá đã mất của tuổi trẻ. Đó còn một cuộc "tự hành xác" đau đớn song vinh quang. Những vai diễn cuối đời của anh không chỉ là những vai diễn, chúng còn là sự thức tỉnh của một tâm hồn lương thiện, của một tình yêu đắm say trước những vẻ đẹp của Cuộc sống mà anh từng chối bỏ, vùi dập chúng trong những cơn mê điên dại...
“...Trong một lần bị cơn nghiện giày vò, tiền con gái dúi cho thì sạch bách, tay trùm xã hội đen đã nhốt tôi vào một căn buồng tối cùng một cô gái, hứa sẽ đưa thuốc cho tôi với điều kiện: Phá trinh cô ta… Ông có biết tôi đã sống qua điều gì không?… Ngờ đâu, cô gái đó là một bạn diễn của tôi, trong vai phụ chị ô sin. Cô ấy được hứa hẹn sẽ được giới thiệu vào một dự án phim lớn do ông trùm này tài trợ, sẽ được vào vai chính… Nhưng cô ta cự tuyệt sự gạ gẫm của tay trùm, vì thế hắn rất tức tối, tìm cách trả thù, và đã định mượn tay tôi… Khi biết cô gái đang khóc trong góc tối là ai, tôi choáng váng… Lúc đó, cô ấy cũng đã tỉnh rượu sau cuộc chiêu đãi của tay trùm, cô ôm lấy tôi và bảo: Anh cứu em với… Cơn nghiện của tôi bay biến hết… Nếu có sẵn con dao trong tay, tôi đã lao ra đâm chết tay trùm…” Thế mỉm cười buồn bảo Hà Sơn: “Tôi tin rằng, nếu cô gái đó không phải là người quen cũ, là bạn diễn, thì ông cũng sẽ hành động như vậy…”. Anh đã kể cho Hà Sơn nghe câu chuyện cô bé 17 tuổi Temple Drake trong tiểu thuyết Sanctuary (Thánh địa tội ác) của W. Faukner đã bị rơi vào thế giới ngầm của xã hội đen ra sao, rồi bị tên Popeye biến thái bất lực về tình dục hành hạ thế nào bằng cái lõi ngô suốt thời gian dài… “Cái thằng khốn sẽ bị lên giá treo cổ đó xét cho cùng cũng chỉ là nạn nhân, sản phẩm rác rưởi của một xã hội thối rữa từ trong gia đình… Ông và tôi đang làm công việc góp phần vào dọn dẹp thứ rác rưởi đó, hy vọng tạo ra môi trường dễ thở hơn cho bọn trẻ… Câu chuyện của ông, chúng ta sẽ quyết đưa lên phim nhé?” - Thế kết thúc câu chuyện với Hà Sơn giữa những tiếng sát phạt của dân làm phim. Giờ, Hồng Sơn đã mất, một mình Thế vẫn tiếp tục thực hiện lời hứa đó, dù nó sẽ là Âm bản chưa biết đến khi nào…
Thế nuôi ý tưởng viết kịch, làm phim chân dung về những nhà văn hóa Việt xưa - nay, nhất là những nhân vật có số phận “chẳng ra gì” có quan hệ ít nhiều với bố và bác anh từ khá lâu, có lẽ từ năm cuối anh dạy học trên Tây Bắc. Nhưng khi về Hà Nội, nhiều nỗi lo toan, nhiều sự kiện lấn lướt nên ý tưởng đó bị chìm đi, cho đến một ngày…
Nhà quay phim Trần Trọng, con trai đầu của nhà thơ Trần Dần gọi điện cho Thế báo: một chương trình ca nhạc khá đặc biệt kỷ niệm Trần Dần sẽ được tổ chức tại Nhà hát lớn Thành phố Hà Nội, anh cần bố trí thời gian tới dự và quay tư liệu cùng Trọng. Thế phấn khởi lắm, anh mới được gặp nhà thơ Trần Dần có một lần khi đến nhà ông theo đạo diễn Huy, và chụp trộm được mấy tấm ảnh chân dung ông, mấy lần định tới thăm ông lần nữa, song lần chần chưa tìm ra dịp thì được tin ông qua đời, đến nay đã 8 năm…
Buổi đó, tại Nhà hát lớn, người xem trước khi bước vào phần biểu diễn chính đã được thưởng thức cocktail nhẹ và dàn nhạc sống trình tấu nhiều tác phẩm âm nhạc cổ điển. Bên cạnh đó là một công trình hoành tráng của nghệ thuật sắp đặt: toàn bộ sảnh của nhà hát, từ tầng một đến tầng hai được trưng bày hàng loạt tượng đầu người xếp lô nhô được dán kín bởi các trang thơ, trang nhạc phẩm ca khúc sẽ được biểu diễn. Phía dưới các tượng đầu người được rải những cánh hoa hồng thật lấp lánh bởi những ánh nến đặt xen kẽ… Thế đang dán mắt vào vizơ máy quay thì một người đàn ông lớn tuổi ngà ngà say đập mạnh vào vai anh: “Này! Quay thật nhiều cảnh đó đi! Đấy, chính là Người người lớp lớp của Trần Dần đấy!”
Thế gật gù đồng tình và thầm nghĩ: dù chặng đường “Người người lớp lớp” cùng những câu thơ đơn độc của ông đâu có được rải hoa hồng, dù có còn sống đến lúc này ông cũng không đủ tiền mua một vé vào xem biểu diễn để chứng kiến tư tưởng của ông được diễn dịch và thăng hoa, nhưng thế là máu thịt tâm hồn ông cũng đã thẩm thấu vào cuộc sống và biến thành máu thịt của nó. Đó là hạnh phúc lớn nhất của một người nghệ sĩ, là sự an ủi có ý nghĩa nhất đối với hương hồn ông…
Và Thế chợt hình dung ra cảnh: trong khi ông đang toát mồ hôi, gò lưng ngồi dịch những bộ sách dày cộp để sao cho kịp hợp đồng với các nhà xuất bản, thỉnh thoảng ông vẫn dừng lại, nheo cặp mắt tinh nghịch và lẩy ra những câu thơ thâm trầm mang phong vị dân gian cổ xưa, kiểu: Đố ai chọc mắt các vì sao…
Một trong những bộ sách dày cộp do ông dịch đó, có một một cuốn sách ghi một lời đề từ như đóng xích trong tâm tư Thế suốt mấy chục năm ròng, không chỉ vì nội dung độc đáo mà còn vì thân phận đặc biệt của nó: “Tôi tặng cuốn sách này cho những ai bụng nhồi đầy tiếng Hy-lạp, tiếng La-tinh, mà chết đói” – Juyn Valex[106].
Cả bộ ba tiểu thuyết dịch Jăc Vanhtrax (trilogie) gồm: Chú bé, Cậu tú, Người khởi nghĩa của nhà văn Pháp Juyn Valex, Thế đã mua được trong lần đi coi thi tốt nghiệp phổ thông trung học tại một huyện xa xôi nhất Tây Bắc, ở một hiệu sách mà chỉ giáo viên cấp III phố huyện mới là khách thường xuyên. Ban ngày coi thi (mà số giám thị còn đông hơn thí sinh), buổi tối ngồi tán gẫu bên bếp lửa với anh em giáo viên tập thể nhà trường, Thế có đem khoe bộ sách mới mua được và thắc mắc với bạn đồng nghiệp: “Vì sao cả ba cuốn sách đều không đề tên người dịch, trong khi đó thì lại có tên của người làm bìa sách?”.
Các bạn Thế đều lắc đầu rồi mau chóng chuyển sang những giai thoại về nhà giáo Tây Bắc quanh chai rượu nhạt men lá. Nhưng đêm ấy và suốt những đêm sau đó, cứ rời khỏi các trang sách dịch dưới ánh đèn dầu, giữa một thị trấn miền núi cô tịch, thắc mắc kia lại trở về ám ảnh anh.
Đã từng quen thuộc với sách của những dịch giả nổi tiếng như Hoàng Thiếu Sơn, Cao Xuân Hạo, Tuấn Đô, Dương Tường, Nhị Ca, nhóm Lê Quý Đôn, v.v., chỉ cần đọc vài trang sách dịch Jăc Vanhtrax, Thế hiểu ngay rằng dịch giả của nó phải thuộc loại cự phách! Số lượng in mỗi tập hồi ấy là 15.200 cuốn (gấp 15 lần so với một cuốn tiểu thuyết văn học dịch thời bây giờ, và giá cả thì cũng không đến nỗi “cứa” vào đồng lương còm của giáo chức, vì thế, giáo viên miền núi mới mua được sách quý ở một thị trấn đồng rừng heo hút). Nhưng tại sao?… Sự cố tình hay là sự sơ xuất của một nhà xuất bản lớn, có uy tín? Cái bí ẩn đó đeo đẳng Thế mất nhiều năm ròng.
Về hè năm ấy, Thế có hỏi bố anh, một họa sĩ, nguyên là một giáo sư Pháp văn có quan hệ khá rộng trong giới văn chương, ông chỉ mỉm cười như thương hại thằng con trai cả đã dạy học được vài năm nhưng vẫn còn ngây ngô thơ dại lắm! Cũng trong dịp hè đó, nhà thơ Đoàn Phú Tứ có lần đến thăm gia đình Thế. Vừa xuất hiện trước cửa, nhìn thấy bố anh, bác đã giơ ngón tay lên nói như một kịch sỹ: “Alcool! Alcool!”. Bố Thế chỉ tay vào anh: “Hôm nay, thằng nhãi này, một ‘tín đồ’ của toa sẽ mua rượu chiêu đãi toa với moa! Nó có lương đấy! Lương giáo viên cấp ba hẳn hoi cơ!”. Rồi ông quay lại Thế: “Tao hết chữ Pháp dạy mày rồi! Mày cắp tráp đến bác Tuấn Đô mà học nhé!”.
Nghe thấy chữ “Tuấn Đô”, Thế sửng sốt, mắt tròn mắt dẹt, bố anh và bác Đoàn Phú Tứ cười như phá… Trong lúc chạy đi lùng mua rượu và đồ nhắm cho hai ông “tiên tửu” (bố anh vẫn gọi các bạn rượu của mình như thế), khi tình cờ được biết rõ lai lịch của dịch giả kiệt tác Đỏ và đen[107], anh dự định sẽ hỏi bác bằng được về người dịch bộ Jăc Vanhtrax. Nhưng ngắm và nghe bác Đoàn Phú Tứ trò chuyện với bố, không hiểu sao, một mỗi e dè chặn ngang họng anh… Anh dự cảm rằng, nếu hỏi bác và bố mình điều đó, trong lúc ấy, biết đâu sẽ vô tình phủ lên bầu không khí sảng khoái hiếm hoi của các ông một luồng gió u ám, trong khi cuộc đời các ông, những nghệ sĩ – trí thức Hà thành vốn được coi là gàn dở và đói rách bậc nhất trong xã hội, cũng đã nếm đủ cay đắng rồi!
Một tác giả tiền chiến từng bất tử với Màu thời gian[108] mà phải ẩn mình trong công việc dịch thuật và cái tên lạ hoắc “Tuấn Đô”, thì việc người dịch Jăc Vanhtrax không có nổi một cái bí danh hoặc tên giả in trên sách chắc phải là một điều hệ trọng lắm! Như thế, cũng có nghĩa là không ai có quyền được nói tới người dịch ra bộ sách, kể cả bạn và người thân! Cũng có nghĩa là, sách chỉ được quyền mang tên tác giả, còn người chuyển ngữ, người sáng tạo thứ hai mà theo luật bản quyền lẫn cả đòi hỏi của đạo lý không thể thiếu tên – thì Măckêno! – một “học thuyết” nổi tiếng cùng với những “học thuyết” phi văn hóa khác không hiểu sao đã ngang nhiên tồn tại trong một xã hội văn minh suốt hàng mấy thập kỷ!
Có phải chịu tấm tức với cái điều bí mật không đáng có ấy như một cái dằm trong ký ức, thì mãi tới khi tình cờ được biết dịch giả vô danh nằm trong bóng tối hàng chục năm kia chính là nhà thơ Trần Dần, Thế đã chợt ứa nước mắt. Và tới một lần, khi được đạo diễn Huy đưa tới thăm nhà thơ, anh đã vô cùng háo hức, hồi hộp…
Anh từng nhiều lần đi xe chầm chậm qua con phố nhỏ Vũ Lợi có ngôi nhà số 7 này, rất muốn tự động vào thăm nhà thơ, được nhìn thấy ông và chỉ để nói một câu: “Thưa bác, cháu chỉ là một anh giáo dạy văn quèn, một kẻ làm phim chưa ra đâu vào đâu cả, nhưng cháu ngưỡng mộ bác, yêu thơ bác, yêu cả những bất hạnh mà bác phải gánh chịu…”.
Và Thế hình dung ông chỉ mỉm cười nhẹ rồi đọc mấy câu thơ của ông: Em ạ/ tình yêu không phẳng lặng bao giờ// Tình yêu/ không phải chuyện/ đưa cho nhau/ ngày một bó hoa// Nó là chuyện/ những đêm giòng/ không ngủ… Thế mà, anh đã được toại nguyện mong ước một cách không ngờ…
Đạo diễn Huy trò chuyện với ông thân mật, cởi mở, xưng hô “anh, em”. Lúc ấy trông ông đã rất yếu mệt. Duy chỉ có đôi mắt sáng rực, đau đáu, nhìn như thấu tận gan ruột người khác, có một cái gì đó hơi giễu cợt nhưng không giấu nổi lòng nhân hậu và đồng thời phảng phất một nỗi buồn…
Trước ông, Thế chỉ im lặng lắng nghe, như thấu từng lời, từng biểu hiện nhỏ trên nét mặt ông. Anh đã được tận mắt chiêm ngưỡng một con người cả một đời coi Thơ là mạng sống, là lý lịch thật đời tôi – hơn thế, đã dám coi cái lý lịch thật đó cao trọng hơn mọi thứ lý lịch vàng son khác, con người giữ chỉ một tia hy vọng/ Để mà thắng và yêu…
Thời sinh viên văn khoa, không hiểu Thế và mấy người bạn đã mò đâu ra và chuyền tay nhau chép vội nhiều bài thơ, câu thơ của thi sĩ Trần Dần, người mà trong chương trình Đại học chỉ được giới thiệu như một trong những đầu sỏ của nhóm phản động Nhân văn Giai phẩm! Nhiều câu thơ đầy hào khí của ông đã in hằn trong tuổi trẻ sôi động giàu hoài bão của lũ sinh viên đói khát: Đi/ Dù biết/ khổ đau còn là luật// của trái đất này/ khi/ nó chuyển mình đi// Hãy thù ghét/ mọi ao tù/ nơi thân ta rữa mục// mọi thói quen/ nếp nghĩ – mù lòa// Hãy sống như/ những con tàu/ phải lòng/ muôn hải lý/ mỗi ngày/ bỏ/ sau lưng/ nghìn hải – cảng – mưa – buồn!…
Thuộc lớp học trò sinh sau đẻ muộn nên Thế không được chứng kiến những cuộc đấu đá quanh những vụ án văn chương, nhưng rồi cũng được thầm hiểu sự bẽ bàng của không ít bậc “mũ cao áo dài” trong nghiệp lập ngôn lập thuyết khi trót phang tơi tả những người cầm bút mà chỉ mấy chục năm sau đó được “tái xuất giang hồ” và còn được truy tặng giải thưởng Nhà nước. Thế đến thăm ông với không ít xót xa, thương cảm, và mặc dù ông không thèm để ý đến một kẻ đi “theo đóm ăn tàn” của một thằng đàn em, anh cũng chẳng lấy thế làm điều. Duy nhất có một thoáng, khi đến lần thứ hai, đạo diễn Huy giới thiệu anh là đồng nghiệp với Trọng - con trai đầu của ông -, ông mới chiếu cố hỏi một câu lấy lệ, rồi sau đó lại quay về ngay với cái quỹ đạo suy tưởng cao vời của ông, ông giảng giải cho người đàn em Huy đến thăm ông, trong gần một giờ đồng hồ, những điều mà dường như ông không nói lúc này thì sẽ không bao giờ có dịp nào nữa!
Quả vậy, mấy năm sau, ông đã qua đời. Đó là lần duy nhất và cũng là lần cuối cùng Thế được diện kiến nhà thơ tài danh, một thủ lĩnh thi ca Việt Nam đương đại mà hiện còn chưa được biết đến đầy đủ và chưa được đánh giá đúng mức. Thế đã không kịp thực hiện cái ý định đem ba cuốn sách dịch kia đến để xin chữ ký của ông, người từng tuyên ngôn với chính mình: dịch là thêm một lần sáng tạo (Ghi), và kể cho ông nghe trong nhiều năm anh đã khao khát được biết người dịch bộ tiểu thuyết lạ lùng đó là ai.
Theo tư liệu riêng của gia đình nhà thơ, ông dịch bộ sách này (cùng một số sách khác) vào cái thời kỳ ông bắt đầu viết Sổ thơ, Sổ bụi, Vở bụi trong tâm trạng “đau lòng sổ bụi”, “những bức thư không gửi”. Chắc chắn là, khi ông nhận dịch bộ Jăc Vanhtrax, trước hết là vì mưu sinh, nhưng ông đã phải thích thú nó, bởi nó vô tình chứa đựng những gì phù hợp với tâm huyết và chí hướng của ông, bởi thân phận những người cầm bút trong đó, bởi người đã từng quan niệm “xây một tập thơ/ là phá một nhà tù” bắt gặp cái tinh thần phản kháng quật khởi của Công xã Pari ngồn ngộn trong bộ sách – nhất là ở tập cuối Người khởi nghĩa (L’Insurgé) mà Juyn Valex đã viết đề từ như sau: Tôi tặng cuốn sách này cho Tất cả những ai là nạn nhân của bất công xã hội đã cầm vũ khí chống lại một xã hội tổ chức hỏng và đã họp dưới lá cờ của Công xã thành khối đại liên minh những đau khổ. Cái tinh thần cách mạng của bộ tiểu thuyết sử thi đó chắc chắn đã sống với nhà thơ trong những năm đau khổ cùng cực, làm một trong những “tay vịn” giúp ông đứng vững.
Chỉ có điều, trong Nỗi buồn ga cuối còn nguyên của nhà thơ, phải chăng có một nỗi buồn, chưa, và sẽ không có dịp nào nữa để giải tỏa: tên ông vẫn còn để trống trong bộ sách dịch kỳ công dày hơn nghìn trang in. Và nếu chịu khó đọc lại phần chú thích ở đầu tập III, người đọc sẽ cảm thông hơn với cái nỗi buồn thiên thu ấy của thi sĩ-dịch giả: Trong tập III của bộ Jăc Vanhtrax này, được viết và xuất bản sau cuộc ân xá, người ta không ngạc nhiên thấy tên thật của những nhân vật đã xuất hiện dưới những tên giả trong hai tập đầu” (NXB Văn học 1975). Vâng, nhân vật của bộ tiểu thuyết đến tập cuối đã được trả lại tên thật, còn nhà thơ thì ngay cả đến cái tên giả cũng không được quyền gắn vào công trình mồ hôi nước mắt của mình!
Đây là vài đoạn trong bộ sách lớn ấy - bộ sách của một nhà văn cách mạng Pháp kế tục truyền thống của Vonte, J. Rutxô, Monteskiơ… có thể nói đã được hóa thân vào bản lĩnh văn chương và máu thịt tâm hồn nhà thơ Trần Dần:
Tôi là kẻ được thoát nạn, tôi sẽ viết lịch sử những ai không thoát nạn, những kẻ cùng khổ không kiếm ra miếng ăn (Người khởi nghĩa, Juyn Valex, NXB Văn học, 1975).
Nhưng rồi mày sẽ phải trả nợ chúng tao, cái xã hội chó má! Mày đã làm những người có học và những người can đảm bị đói khi họ không muốn làm tôi tớ cho mày! (Cậu tú, Juyn Valex, Nxb Văn học, 1974).
Qua một người bạn chung biết được địa chỉ của ông Nguyễn Hữu Đang và được ông cho phép, nhà nghiên cứu sân khấu Thành Văn cùng Thế đến thăm ông tại một khu tập thể cũ kỹ ở Nghĩa Đô, huyện Từ Liêm cũ. Đó cũng là thời gian anh bắt đầu thực hiện cái công việc đã ấp ủ từ lâu - tức là đi tìm những nhà văn, nhà văn hóa cao tuổi để ghi lại tư liệu hình ảnh, ghi xong rồi cứ dành để đó như một thứ”lương khô”, đợi khi có điều kiện sẽ làm phim chân dung…
Thoạt tiên, ông Đang thấy đồ lề quay phim cồng kềnh đi theo các vị khách thì có vẻ hơi khó chịu, và đề phòng. Bọn Thế đều biết rõ điều này: sau thời kỳ quản thúc ở Thái Bình, được về sống tại ngoại ô Hà Nội, ông bị kiểm soát như các thành viên cựu Nhân Văn, nhưng riêng ông thì không được phục hồi quyền phát biểu tự do như một công dân, không được quyền trả lời phỏng vấn công khai như những người khác. Điện thoại của ông thường chỉ nói được vài câu là đã lại u u u u… Ông giơ chiếc máy nghe cũ kỹ lên để cho bọn Thế biết ông bị nặng tai, và cầm cây bút ra hiệu là sẽ bút đàm. Trước khi đến với ông, qua một số tài liệu và được nghe kể lại không ít chuyện về ông, Thế đã hằng ngưỡng mộ, kính phục và biết ơn ông- một nhà cách mạng chân chính có tinh thần độc lập, một người làm chính trị biết tôn trọng văn hoá như một sản phẩm tinh thần đặc biệt và đòi hỏi phải có không gian tự do để nó được phát triển…
Khi Thế đến, bên cạnh những bát đĩa bẩn của bữa ăn trước lẫn với cà-mèn đựng xôi chưa ăn hết là mấy cuốn sách để trên bàn, chắc là ông đang đọc dở, như: Retour de l’ U.R.S.S- A.Gide (Trở về từ Liên Xô), Histoire de la bombe atomique (Lịch sử bom nguyên tử), v.v. Ông đã bước sang tuổi 90, cơm nước phải nhờ đến các cháu thay phiên tới giúp, song những hoạt động trí tuệ thì ai có thể thay thế được cho con người vốn có tinh thần độc lập từ xưa - kể từ khi ông bị thực dân Pháp bắt tra tấn và suýt đưa ra tòa lúc còn là vị thành niên?
Ngồi ở chiếc bàn vừa để ăn vừa để đọc sách của ông, nhìn quanh là mấy tấm ảnh kỷ niệm treo trên tường và bày trên bàn; và đập ngay vào mắt Thế là tấm ảnh lịch sử: Lễ đài Ba Đình 2-9-1945 được ép plastic cẩn thận kê ngay ngắn trên một chiếc vỏ hộp bánh. Cuộc đời có thể tước đoạt của ông nhiều thứ song không thể tước đi quyền tự hào là người đã được chủ tịch Hồ Chí Minh trao cho trọng trách tổ chức ngày lễ Độc Lập ở Ba Đình, và tới năm 1947, ông vẫn còn được coi là nhân vật quan trọng nhất nhì bên cạnh chủ tịch Hồ Chí Minh… Đứng trước ông - một trong những anh hùng lỗi lạc của văn hóa-giáo dục Việt Nam thời hiện đại, con người đã dám làm dám nói tất cả những gì mà ông từng suy ngẫm và cho là đúng, Thế thấy mình thật bé nhỏ! Song tài bút chiến tựa huyền thoại của ông vốn dành cho một nền văn hóa đúng nghĩa, cho một xã hội pháp trị – xã hội công dân, giờ đây chỉ để dùng để bút đàm một cách vui vẻ với những kẻ vô danh tiểu tốt như bọn Thế!
Mái đầu húi cua bạc cháy tựa nương cằn miền núi sau trận cháy rừng giờ không còn ngẩng cao kiêu hãnh mà hơi cúi gằm bởi năm tháng, nhưng cái vóc dáng cồng kềnh và chắc chắn của ông vẫn cho thấy một nghị lực sống được nén lại, và đôi lúc ánh mắt ông vô tình vẫn lóe lên những luồng ánh sáng trí tuệ khiến hai tay nhà báo hậu duệ của ông như bị thôi miên. Nhìn ông, ai có thể tin rằng: sau mười lăm năm tù đầy, ở tuổi 63 ông đã từng phải sống nhờ vào côn trùng và cóc nhái chuột rắn trong suốt hơn mười lăm năm vất vưởng bên lề xã hội ở một làng quê Thái Bình… Trải qua quá nhiều nỗi đớn đau thử thách, và ở giai đoạn cuối cuộc đời vẫn phải lo tránh cạm bẫy, ông phải tự giữ gìn và giữ cho cả người đang đối thoại với mình mà bằng trực giác ông biết là lòng lành, song dường như ông vẫn không bị mất đi sự sắc sảo pha chút hóm hỉnh…
Khi Thế viết hỏi ông: “Bác hiện đang sống thế nào, thu nhập có đủ sống không?”, ng viết trả lời (Viết hoa và gạch dưới trong nguyên văn): “Chưa kể trợ cấp được lĩnh của BAN QUẢN TRỊ TW ĐẢNG mỗi tháng 600.000đ thì riêng lương hưu của tôi cũng đã trên 1 triệu đồng”. Hỏi: “Bác kể cho nghe vài chuyện về ông Trần Thiếu Bảo nhé ?” (Nguyên giám đốc nhà xuất bản Minh Đức, và ông Đang đã từng giúp ông Bảo điều hành nhà xuất bản này, tổ chức in lại những sách giá trị thời tiền chiến của Vũ Trọng Phụng, Khái Hưng, v.v.). Trả lời: “Nếu Thiếu bảo còn sống đến bây giờ thì văn nghệ Việt Nam vui hơn, ông ta biết bày trò và có khả năng.” Khi bọn Thế mon men hỏi đến những vấn đề “nhạy cảm” - như về “Văn Hóa”, hay động đến hai chữ “Nhân Văn”, thì những lúc đó ông tìm cách lảng xa, hoặc vờ lơ đễnh trả lời sang chuyện khác. Ông Đang có thể nói là một trong những ông tổ của nền văn hóa cách mạng - với loạt bài viết về văn hóa trong năm 1945 đã xác định lập trường văn hoá và đường lối hoạt động của Hội Văn Hoá Cứu Quốc, coi việc xây dựng văn hoá là xây dựng đời sống tinh thần của con người, đi đôi với công cuộc đấu tranh chống áp bức, nô lệ. Còn vì hai chữ “Nhân Văn”, ông đã bị giới lãnh đạo văn nghệ miền Bắc thời đó trù dập và không ít nhà văn nhà thơ đã gọi ông là “hắn”, “y”, bởi “đã trở thành một thứ lãnh tụ của một bọn người cơ hội, có âm mưu chính trị…”[109]. Vì vậy, bọn Thế chuyển hướng, cho ông đỡ mệt mỏi và sợ hãi, bằng những câu hỏi vô thưởng vô phạt, kiểu như: “Bác đánh giá về Lão Tử thế nào?”, “Bác thích nhà văn nước ngoài nào hơn cả”, v.v. rồi cũng mau chóng tự thấy mình vô duyên mà không hỏi gì thêm.
Nhưng chính lúc đó thì ông lại chủ động. Ông không bút đàm nữa, ông trút bỏ nỗi sợ cố hữu, cũng bởi ông thừa biết trước mặt ông là kẻ vô hại, hơn nữa, là những kẻ khờ dại đã bị lầm lạc quá lâu trong quỹ đạo tuyên truyền chung mà ông thấy tội nghiệp, xót thương… Ông nói: “Các cậu chờ chút!” Ông bước vào giá sách góc nhà lục tìm cái gì đó. Ngay lúc ông vừa quay đi, trước mắt bọn Thế là những mảng lưng hở qua chiếc áo bở tã đến thê thảm! Bóng ông lúi húi bên cạnh tấm ảnh Dostoievski chợt nhòe đi. Bên dưới tấm ảnh văn hào Nga được nhiều thế hệ độc giả Việt yêu quý là chiếc tủ lạnh cũ. Bất giác Thế đứng lên, bước tới chiếc tủ lạnh, tự động mở ra: cả hai ngăn trên và dưới đều trống rỗng!… Chiếc bàn nhỏ kê sát giá sách để chiếc điện thoại bàn, chiếc kính lúp, cái đèn pin, mấy cục pin con thỏ, v.v.
Ông Đang dường không chú ý tới việc Thế mở tủ lạnh và quan sát đồ dùng sinh hoạt trong phòng ông, chắc bởi lúc đó ông muốn thông báo với hai bạn trẻ điều gì hệ trọng qua một một cuốn sách lớn dày cộp đang ôm trên tay. Thì ra là điều này: ông chỉ tay vào bìa cuốn tiểu từ điển Bách khoa “Petit Larousse” in năm 2000, trên đó ông dán một mẩu giấy có chữ nắn nót của ông: “Mất từ tr. 865 đến tr. 968”. Rồi ông háo hức mở cuốn sách ra để chứng minh điều mình đã thông báo. “Ai đã xé nó đi? Gần 100 trang đó gồm những mục gì hở bác?”- Thế nóng ruột hỏi. Ông thở dài, lắc đầu khẽ và ngơ ngác như vẫn không tin nổi đó là sự thật giữa cái thời buổi thông tin toàn cầu, giữa một xã hội Dân chủ… Ông khẽ trả lời: “Những người có trách nhiệm kiểm soát và chuyển nó đến cho người nhận, chứ còn ai vào đây nữa?! Còn những mục gì ư? Chỉ là những thứ mà theo người ta, sẽ đầu độc một lão già vô hại là tôi!”- Câu cuối ông nói vừa có gì diễu cợt lại vừa đượm nước mắt… Một công trình văn hóa hoàn hảo, một trong những biểu tượng của trí tuệ nhân loại bị phá hoại bởi những người quen thói bao cấp tư tưởng, quen hăng hái săn sóc tâm hồn và tri thức cho người khác - kể cả những người đương nhiên là bậc thầy về văn hóa của họ! Thực là một tấn bi hài kịch không đáng có vậy mà đã diễn ra không chỉ một lần!
Thế và Thành chia tay ông Đang, kịp lưu giữ lại ấn tượng về một cụ già quen sống cô độc nhiều năm ròng, ít có khả năng tự phục vụ được mình trong sinh hoạt đời thường song lại rất minh mẫn, chưa mất khả năng hài hước, và nhất là vẫn lao động trí óc một cách căng thẳng…
Tâm hồn Thế bỗng tràn ngập niềm hy vọng và tin tưởng rằng: rồi sẽ tới ngày mà những bài viết của ông sẽ được sưu tầm lại một cách đầy đủ, công trình lao động trí óc của người từng đi trước xã hội hàng mấy chục năm đó sẽ được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, hệ thống (kể cả gần trăm trang sách mang tên học giả P. Larousse bị xé đi) phản ánh những ưu tư trăn trở của ông Đang suốt hàng chục năm ròng, chứa đựng những thao thức tìm tòi các giải pháp cứu vớt xã hội của một trái tim ưu thời mẫn thế có tầm nhìn được sự hỗ trợ bằng nền tảng tri thức nhiều thế kỷ!
Ba năm sau, khi Thế bố trí được thời gian, hẹn hò với Thành Văn định đến thăm ông lần nữa thì được tin ông qua đời…
[103] Truyện Kiều.
[104] Nơi xảy ra thảm họa khiến 353 người thiệt mạng ngày 22/11/2010 tại Phnom Pênh.
[105] Tiếng Kh’me, Toul Sleng cũng có nghĩa là độc dược.
[106] Cậu tú, Nxb Văn học, 1974.
[107] Le Rouge et le Noir của Stendhal.
[108] Bài thơ in trong sách Thi nhân Việt Nam (1942), tác giả Đoàn Phú Tứ (1910 - 1989), một trong những người thành lập nhóm “Xuân Thu Nhã Tập”.
[109] Bọn Nhân văn - Giai phẩm trước tòa án dư luận - Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1959.