Đặng Thơ Thơ

Tác phẩm của Bruce Nauman tại MoMA - Nữu Ước
Nghệ sĩ đa phương tiện Bruce Nauman sáng tác theo nhiều thể loại như sắp đặt, video, trình diễn, điêu khắc và nhiếp ảnh. Những tác phẩm mang tính văn bản của ông là những điêu khắc bằng ánh sáng neon, chú trọng vào ngữ nghĩa học (semantics), về những thay đổi nhỏ nhặt trong từ ngữ có thể tạo ra hiệu ứng ý nghĩa như thế nào.
Trong văn học, tùy bút là thể loại bộc lộ rõ nhất cá tính, tư duy và suy nghiệm của người viết. Với Bùi Vĩnh Phúc, mối quan hệ giữa chuyện sống và sáng tác được cô đọng qua nhận định:
“Với tôi, sống hay viết thì cũng vậy. Viết là một dạng sống. Và sống, nhìn một cách nào đó, cũng là một dạng viết. Tôi viết nên tôi trong sự sống mình.”
Một nhận định mang tính hiện sinh! Quan niệm này cho thấy tác giả coi văn chương là một cách định hình và xác lập bản thể. Thật vậy, đọc Bùi Vĩnh Phúc là dịp cho chúng ta hiểu con người anh, đi cùng anh trong hành trình anh đã trải qua, đi vào tâm cảm một người thơ lãng mạn, một nghệ sĩ mẫn cảm, một nhà nghiên cứu phê bình uyên bác, với phong cách như Nguyễn Thị Tịnh Thy đã viết: “Thận trọng nhưng quyết đoán, giàu cảm xúc nhưng giữ sự tỉnh táo của một người làm khoa học văn chương, Bùi Vĩnh Phúc luôn làm mềm hóa lý thuyết, chứng tỏ rằng việc áp dụng lý thuyết vào phê bình và nghiên cứu là do yêu cầu tự thân của tác phẩm và tác giả chứ không hề bị áp đặt, khiên cưỡng.” Bùi Vĩnh Phúc đã ghi lại dưới dạng tuỳ bút những ký ức thời niên thiếu, những biến động trong cuộc đời – từ chuyện vượt biên đến cuộc sống lưu vong tại hải ngoại, trong đó anh sử dụng ba phương thức biểu đạt chính: tính liên văn bản, hệ thống trường nghĩa /semantic fields (vận hành qua cả hai nguyên lý tương phản và bổ sung) cùng việc duy trì chất thơ trong văn xuôi. Cách tiếp cận này giúp anh hệ thống hóa ký ức, kiến giải các chấn động tâm lý và xây dựng một cấu trúc tinh thần độc lập để đối diện với thực tại.
- Tính liên văn bản: sự liên kết giữa ký ức và tri thức
Nhà thơ - nhà phê bình - nhà ngôn ngữ học của chúng ta viết: “Tất cả chữ viết của con người, kết hợp lại, là một liên văn bản bất tận.”
Đọc Bùi Vĩnh Phúc là đọc những liên văn bản, đủ thể loại, băng qua nhiều trục thời gian, nhiều không gian văn hoá và tâm cảm. Tính liên văn bản trong tùy bút của Bùi Vĩnh Phúc là cách anh liên kết những kinh nghiệm cá nhân với các hệ thống ký hiệu văn hóa, văn chương thế giới, và khoa học. Tác giả gọi đó là “một sự dệt nối” trong vô thức, diễn ra ở nhiều cấp độ.
Đầu tiên, chúng ta có thể thấy ảnh hưởng văn học và nghệ thuật phương Tây lên những hình ảnh thường tái hiện trong hồi ức và những giấc mơ, và ý nghĩa của chúng trong đời sống của tác giả, đặc biệt khi rơi vào những hoàn cảnh đầy thử thách như đối diện với cái chết trên biển hay sự cô độc trong thời gian vừa định cư ở Hoa Kỳ. Đoạn văn đầu tiên trong tuỳ bút Những đóa hoa dịu dàng phất phơ trong gió mở đầu bằng một giấc mơ trong đó tác giả còn là một đứa trẻ:
“Khi tôi tỉnh dậy, mặt trời đang xuống, để loang trong khoảng không trước mắt tôi một dòng sông máu thê thiết. Soleil cou coupé. Thằng bé quá nhỏ trong giấc mơ tôi bỗng nhớ tới một câu thơ của Apollinaire. Mặt trời bị cắt cổ. Câu thơ rơi về từ một ký ức xưa cũ, nhưng trong giấc mơ, cái ký ức ấy thuộc về phía tương lai trước mặt của thằng bé. Vậy mà câu thơ vẫn hiện ra.”
Bùi Vĩnh Phúc tìm đến các tác phẩm văn chương đã tiếp cận từ thời trẻ như một hệ quy chiếu để suy nghiệm và lý giải thực tại. Anh đặt hình tượng mặt trời bị cắt cổ trong thơ Apollinaire vào tâm thức của một đứa trẻ năm tuổi trong giấc mơ của một người viết, với mục đích xóa nhòa ranh giới thời gian (quá khứ và tương lai), dệt nối các biểu tượng thi ca Pháp với văn hoá Việt (mùi rơm khô trên cánh đồng, chiều cuối năm đón Tết) để gợi đến dự cảm về một tương lai bất ổn sau này trong chuyến vượt biên cận kề cài chết.
“… một sự dệt nối, giữa những ngọn tháp ở New York trong tâm trí của Lorca, rồi sau đó là trong tâm trí của tôi, của hắn, với chiếc thuyền mong manh như một chiếc lá khô, giòn và mỏng, giữa trận mưa cuồng. Có gì đó liên hệ với Thanatos chăng? Bản năng chết của vô thức. Để cân bằng với Eros, bản năng sống. Tình yêu. Khoái cảm. Sự sống. Hay, đúng hơn, đó là lúc hai bản năng sống và chết ấy ôm choàng lấy nhau trong cái tôi hạt bụi và mong manh trước miệng hố sâu.”
Ngay giữa cơn bão biển khốc liệt trong cuộc vượt biên, tác giả liên tưởng đến “những ngọn tháp ở New York trong tâm trí của Lorca”, một nhà thơ Tây Ban Nha. Tập thơ Poeta en Nueva York của Lorca phản ảnh sự lạc lõng của con người trước nền văn minh cơ khí. Đặt hình ảnh những khối bê tông sừng sững của nền văn minh hiện đại cạnh chiếc thuyền nhỏ mong manh giữa đại dương, Bùi Vĩnh Phúc đã khái quát hóa nỗi cô đơn và sự bất lực của cá nhân trước định mệnh thành một kinh nghiệm phổ quát của con người trong dòng thời gian vô tận của những nền văn minh nối tiếp nhau. Một liên văn bản giữa ký ức cá nhân/tập thể và tri thức văn hoá của nhân loại,
Đoạn tuỳ bút trên của Bùi Vĩnh Phúc còn là liên văn bản giữa phân tâm học và các dấu chỉ văn hóa. Anh phân giải cuộc xung đột sinh tồn bằng các khái niệm phân tâm học của Sigmund Freud: Thanatos (Bản Năng Chết) và Eros (Bản Năng Sống). Tại lằn ranh sinh tử, thay vì triệt tiêu nhau, hai bản năng này tồn tại đồng thời, tạo ra một trạng thái cân bằng tâm lý đặc biệt khi con người đối diện với nguy cơ hủy diệt. Để cụ thể hóa cuộc xung đột giữa sống và chết, tác giả đưa ẩn dụ “trận đấu bò Tây Ban Nha” để ví cơn bão biển như con bò mộng đang lao tới, chiếc thuyền là kẻ đấu bò bị thương, và tình trạng nguy nan được nhấn mạnh bằng chi tiết người đấu bò không còn “miếng vải đỏ thần thánh” (muleta) để điều khiển trận đấu. Ẩn dụ này, liên kết với phân tâm học Freud, giúp tác giả cấu trúc lại một sự kiện hỗn loạn thành một tình thế mang tính biểu tượng, đầy kịch tính. Ngay giây phút cận kề cái chết, Bùi Vĩnh Phúc đã tự phân thân, thành kẻ ngồi trên khán đài xem trận đấu bò đang diễn tiến, mà chính anh là kẻ đấu bò bị thương. Đây là biện pháp khách quan hoá cái tôi khi rơi vào tình thế của thảm kịch.
Việc Bùi Vĩnh Phúc chuyển đại từ nhân xưng từ “Tôi” sang “Hắn” khi viết về những thứ kinh hoàng trong lúc vượt biên cũng là biểu hiện của cơ chế tự vệ tâm lý (psychological defense mechanisms) dưới góc nhìn phân tâm học. Khi một chấn thương (trauma) vượt quá sức chịu đựng của bản ngã (Ego), ngôn ngữ buộc phải tự đứt gãy để bảo vệ kẻ đang chấn thương. Cơ chế này tạo ra sự phân mảnh chủ thể và khách thể. Đại từ “Tôi” đại diện cho chủ thể đang sống, đang cảm nhận nỗi sợ hãi tột cùng của một kẻ sắp chìm. Nếu tiếp tục dùng “Tôi”, người viết sẽ phải sống lại toàn bộ cơn bão. Bằng cách gọi mình là “Hắn”, tác giả đã trục xuất phần bản thể bị tổn thương ra bên ngoài. “Hắn” là một kẻ lạ, một khách thể tội nghiệp nằm dưới đáy thuyền, còn “Tôi” lúc này đã biến thành một khán giả đứng từ xa quan sát. Sự ngập ngừng “đẩy tôi (không, đẩy hắn)” chính là khoảnh khắc dao động và phân thân của bản ngã: ý thức nhận ra nỗi đau quá lớn và lập tức đẩy ký ức đó cho một kẻ khác gánh thay.
Hành vi gọi mình là “hắn” còn là một cách vô hiệu hóa siêu ngã (superego). Bằng cách biến mình thành một người khác, người viết dễ dàng hơn trong việc mô tả sự hoảng loạn, sự run sợ của “hắn”, một cách khách quan nhất, mà không bị sự kiểm duyệt của siêu ngã, lòng tự trọng hay sự phán xét của chính mình ở hiện tại. “Hắn” chịu trách nhiệm cho nỗi sợ, còn “Tôi” giữ sự tỉnh táo để ghi chép lại nỗi sợ đó. Việc chuyển đổi nhân xưng ngôi thứ này cho thấy văn chương là một liệu pháp phân tâm học. Bằng cách tạo ra “hắn”, Bùi Vĩnh Phúc đã đổi vị trí từ một nạn nhân lịch sử thành một chủ thể toàn quyền kiểm soát có thể cấu trúc lại bi kịch của chính mình thông qua trò chơi ngôn ngữ.
Khi cơn bão qua đi, người viết quay trở lại với ngôi thứ nhất “Tôi” để thu hồi bản thể. Nhưng “Tôi đã không còn tôi cũ.” “Tôi” đã thay đổi, biến dạng, đã nghiêng ngã và tìm hướng chuyển dời để sống còn. Việc đưa bức tranh Cây ngã (Bent Tree) của Chaim Soutine vào tuỳ bút cũng là sự liên kết văn bản để thiết lập một ẩn dụ thị giác. Những nét vẽ vặn vẹo, biến dạng của cây cối trong tranh Soutine có thể hiểu theo cách chúng bị cong oằn và uốn theo chiều gió của những cơn mưa bão trong bài viết của Bùi Vĩnh Phúc. Và người đọc sẽ có sự liên tưởng đến cảnh “gió thổi bồng bồng/ mây trắng như bông” (thơ Bùi Vĩnh Phúc) bay ngang và thổi tung thành phố của Chaim Soutine lên trời.
Tuỳ bút của Bùi Vĩnh Phúc có cấu trúc phi tuyến tính, thể hiện qua việc tác giả liên kết các văn bản do chính mình viết ở những thời điểm khác nhau: tùy bút năm 1986 và phần viết thêm năm 2017, cùng những bài thơ thuộc nhiều giai đoạn sống. Anh viết tuỳ bút như theo dòng vận hành của ký ức, mà ký ức thì như một cuộn phim đang chiếu lại các hình ảnh cũ (chợ Tết, hoa mào gà, tiếng pháo), cắt ghép với hình ảnh thực tại (giảng đường ở Mỹ, căn nhà ở California), tạo nên một mạng lưới văn bản ký ức chồng lấp lên nhau. Ở một thời điểm nào đó, anh nhìn lại: “Bây giờ, tôi đã lớn rồi. Trái tim tôi đã cũ đi nhiều. Tôi đã sống phiêu bạc nay đây mai đó bao nhiêu năm như một con thuyền chìm nổi. Tôi đẩy tất cả những lượng sống mình cho những ước mơ và cho những điều tôi tin tưởng, hướng về.” Trong niềm tiếc nuối quá khứ, anh sử dụng các câu hỏi từ âm nhạc của Dalida (“Que sont devenues les fleurs du temps passé?”) và thơ của François Villon (“Où sont les neiges d’antan?”). Việc đối thoại liên tục với các văn bản khác nhau có thể phần nào giúp tác giả giải quyết sự gãy nứt của thời gian, bắc cầu qua những biên giới địa lý - văn hoá, và sắp xếp lại những sự kiện trong đời thành một diễn ngôn mang ý nghĩa cho mình, đồng thời tiếp tục cuộc trò chuyện với tương lai về những thứ còn dang dở.
- Hệ thống trường nghĩa (semantic fields): trục tương phản và nguyên lý bổ sung
Đọc Bùi Vĩnh Phúc là trôi và chìm ngập trong những trường chữ và nghĩa, những trường hình ảnh, ấn tượng, xúc cảm, liên tưởng, và kinh nghiệm. Trong cái viết của anh, “các nghĩa trượt lên nhau, trượt vào nhau và trượt qua nhau đã làm thành một trường nghĩa rộng lớn. Nghĩa tạo ra nghĩa, từ những liên nghĩa, hàm nghĩa, nghĩa ẩn, nghĩa chìm, và dấu vết của chúng, sau khi bị vượt qua, vẫn còn tiếp tục nằm ở đấy, làm đầy cái không gian ngữ nghĩa.”
Ngôn ngữ trong tùy bút Bùi Vĩnh Phúc được cấu trúc chặt chẽ dựa trên các trường nghĩa lớn. Các từ ngữ không đứng riêng biệt mà kết hợp và cộng hưởng với nhau tạo thành những mạng lưới ý nghĩa đa tầng. Chúng vừa vận hành theo trục tương phản để tạo những góc nhìn đối điểm, vừa phối hợp theo nguyên lý bổ sung để thiết lập sự tương tác giữa các trường nghĩa khác từ những góc nhìn phân cực.
Hãy xét về trục tương phản của thực tại và ký ức. Tôi chú ý đến trường nghĩa liên quan đến kỷ niệm - cội nguồn - tết - quê hương trong tuỳ bút Những đóa hoa dịu dàng phất phơ trong gió. Trường nghĩa này tập hợp các từ ngữ giàu cảm tính, hình ảnh, âm thanh, mùi vị, xúc cảm. Về thị giác, đó là nồi bánh chưng, hoa mào gà mọc hoang, xác pháo hồng, xe thổ mộ, chậu cúc đại đóa, chợ Tết Nguyễn Huệ, bàn thờ thiên khói hương. Về thính giác và khứu giác, đó là tiếng pháo nổ râm ran, tiếng nước sôi sùng sục, tiếng vó ngựa lóc cóc, tiếng gà trưa êm ả, mùi khói rơm rạ, mùi trầm hương, mùi thuốc pháo khen khét, mùi vôi mới. Các ký hiệu này dựng lại một không gian văn hóa nguyên bản, nơi tâm lý con người đạt trạng thái ổn định và “thanh bình” trong trường nghĩa của những gì thuộc về ký ức.
Đối trọng với ký ức tuổi thơ là không gian thực tại của người di dân tại hải ngoại, mang đặc tính cô lập và bất ổn. Đây là trường nghĩa lưu vong – đứt gãy – tha hoá, đặc biệt rõ nét trong tuỳ bút Hãy ngước mặt và thả bay đi những cơn mưa. Trường nghĩa này tập hợp các từ ngữ nói lên tâm trạng lưu vong: lang thang, không nhà, cắt vụn, gãy gập, đứt đoạn, chia lìa, bơ vơ, lạc lõng, khắc khoải, vong thân, cuốn phim rè, kẻ lạ ngay trên quê hương của mình, nhịp đập của một trái tim giả, v.v. và cảm thức trong không gian xa lạ bất trắc: cơn mưa đen phủ chụp, sắc lẻm như dao, trận mưa cuồng, miệng hố sâu, giấc mơ đen trắng, bóng đèn vàng vọt, sạp chợ đìu hiu, chiến đấu với hư không, chiếc phong vũ biểu của tâm hồn tôi hạ thấp đến một mức độ thảm hại nhất… Các ký hiệu này gộp lại, tạo thành trường nghĩa mang không khí bất ổn của hiện tại, nơi những thân phận di dân trở thành những văn bản bị lỗi hay cuốn phim bị đứt, hỏng, thiếu sót.
Sự tương phản giữa hai trường nghĩa tạo ra cấu trúc đối điểm rõ rệt: quá khứ sống động phong nhiêu còn hiện tại thì đơn sắc, nghèo nàn. Nếu trục tương phản của trường nghĩa biểu hiện sự xung đột của những chặng đời, thì tính bổ sung giữa các trường nghĩa có vai trò giúp tác giả đối mặt với những chấn động tâm lý và suy giải các yếu tính của thời gian. Các trường nghĩa vì vậy không triệt tiêu nhau; chúng thâm nhập, mượn đặc tính của nhau để hoàn thiện một diễn ngôn chung. Chẳng hạn như trường nghĩa về thiên nhiên ở vùng đất mới (những cánh đồng poppy dại phất phơ, xa lộ California) đã giao thoa và bổ sung cho trường nghĩa quê nhà. Tác giả nhìn những đóa hoa dại ở Mỹ nhưng lại nhớ đến những bụi hoa mào gà ở Việt Nam; anh đứng giữa xa lộ hiện đại nhưng tâm trí lại dẫn về tiếng vó ngựa lóc cóc kéo chiếc xe thổ mộ của quá khứ. Ở đây, thực tại đóng vai trò là chất xúc tác giác quan, còn ký ức là nội dung biểu đạt. Sự bổ sung này xóa bỏ biên giới địa lý, hoà hợp các không gian để tác giả định vị lại nội tâm và bản sắc văn hoá của mình.
Một cách hữu hiệu để kết hợp các trường nghĩa là vận dụng nhịp điệu và nhạc tính (musicality) của từ ngữ. Bùi Vĩnh Phúc viết tùy bút với ý thức và tâm hồn của một người làm thơ. Câu văn của anh có sự uyển chuyển, trầm bổng và giàu nhạc tính do cách vận dụng từ ngữ tạo dư âm:
“Rừng dừa vẫn vỗ đập cái tiếng vỗ chất ngất của nó trong mưa và gió biển ngoài kia.”
hay:
“Dòng sông ngân lên thành một khúc nhạc trắng muốt. Dòng sông trắng ngân lên như một phím dương cầm.”
Những cụm điệp từ hay từ láy “lung linh nhoà nhạt”, “dập dờn như sóng”, “chấp chới bay”, “xôn xao máy động”, hay “phất phơ phơ phất”, “bồi hồi lay động”… xuất hiện liên tục. Chúng tạo ra một thứ nhịp điệu lững lờ chuyển động vô hình trong tâm tưởng người đọc. Khi viết về loài hoa coquelicots (hoa anh túc), anh tả cả thanh âm: “Nghe như có cả một đàn chuông rung liên hồi vào không gian những âm thanh trong veo bất tuyệt.” Đặt âm thanh vào hình ảnh một loài hoa, đưa thi ca vào văn miêu tả, trong đó có bài thơ viết thay con gái để tặng mẹ, hay trích dẫn các câu thơ Pháp, Việt vào mạch văn xuôi; những yếu tố này biến toàn bộ bài tùy bút thành một bài thơ mở rộng và mang cấu trúc đa tầng, đa văn bản.
Những đoạn văn về mưa tạo ra một trường nghĩa đầy ám ảnh:
“Những mũi tên trắng xoá của trời hình dung thấy cắm thẳng xuống đất. Những mũi tên cứ giăng đầy và cắm xuống mãi. Những hình ảnh không màu ấy trong giấc mơ là một loại phim đen trắng và không có âm thanh. Nhưng chính vì đen trắng mà lại vô thanh nên nó đã có hiệu ứng chấn động kinh khủng… Những cơn mưa, ám ảnh mình hoài, từ đó, trở thành một cái gì thân thiết mà tàn bạo. Tàn bạo và thân thiết như định mệnh con người.”
Và mùi hương trong mưa:
“Mùi thơm ướt át của hoa lá thoáng nhẹ tự nhiên làm trái tim người ta mềm ra. Mùi thơm hình như vỗ lại một vài kỷ niệm nhỏ nhoi nào đó trong đời.”
Những cơn mưa trên đường phố Sài Gòn, mưa trên sân thượng, mưa trên sông vắng, mưa tối vượt biên, mưa bây giờ tại thành phố Cali gần biển, v.v. mưa đã tạo thành một trường nghĩa theo đuổi nhà thơ, ngồi viết cùng nhà thơ, và tấu lên những cung bậc đầy hạnh phúc và đầy ám ảnh trong tâm hồn tác giả.

Semantic Fields của Đặng Thơ Thơ
(Sắp đặt chữ-nghĩa dựa trên văn bản của Bùi Vĩnh Phúc)
III. Thời gian qua lăng kính triết học và vật lý lượng tử
Nếu nhìn hai tùy bút của Bùi Vĩnh Phúc dưới lăng kính của trường nghĩa, chúng ta sẽ thấy tác giả cấu trúc ký ức thành những vùng không gian, thời gian và cảm xúc. Từ ngữ trong các trường nghĩa khác nhau đối thoại và tương tác với nhau, tạo thành những mạng lưới ý nghĩa đan xen chồng chéo. Điểm giao thoa giữa các trường nghĩa là những suy nghiệm của Bùi Vĩnh Phúc về bản chất của thời gian. Bùi Vĩnh Phúc đưa hiện tượng học cùng khái niệm vật lý lượng tử vào tùy bút để suy giải bài toán thời gian và sự tồn tại của ký ức, tạo ra một cuộc đối thoại giữa các văn bản khoa học, triết học, và văn học.
Thay vì nhìn thời gian theo trục tuyến tính (quá khứ đã qua và biến mất vĩnh viễn), Bùi Vĩnh Phúc đề nghị một cách nhìn mang tính vật lý lượng tử qua nhận định:
“Những hình ảnh rộn rã và làm ấm lòng mình ấy dĩ nhiên là không bị mất đi đâu, chúng chỉ lui vào cõi thời gian xa xăm. Chúng nằm ở một chiều, một biên giới thời gian nào đó mà con người chưa biết cách để khơi động lại.”
Bùi Vĩnh Phúc từ chối cách hiểu thời gian là một đường thẳng. Ngoài hồi niệm quá khứ, anh còn nói đến một thứ “ký ức tương lai” khi trong giấc mơ, tác giả mô tả đứa trẻ nhớ về câu thơ của Apollinaire – một câu thơ mà đứa trẻ đó sẽ đọc rất lâu sau này. Sự đảo lộn trình tự này xóa nhòa ranh giới thời gian, biến thực tại thành một trạng thái đồng hiện, cho phép mọi hiện tượng cùng xảy ra. Trong đời sống, con người chịu sự chi phối của thời gian cơ học, vận động của đồng hồ, những múi giờ và ngày tháng…, nơi dòng chảy một chiều đào thải và làm tiêu biến mọi sự kiện. Việc anh nói về quá khứ “dĩ nhiên là không bị mất đi đâu” thể hiện một niềm tin xác quyết mang tính khoa học hơn là cảm xúc thuần túy, hay chỉ là cách nói văn chương. Những hình ảnh rộn rã của ngày Tết quê hương, tiếng pháo hay mùi khói bếp mà chúng ta tưởng là đã mất hút, thật ra chỉ dịch chuyển sang không gian hiện hữu mới của chúng, “lui vào cõi thời gian xa xăm.” Quá khứ không phải là hư vô hoặc chỉ nằm trong ký ức, mà là một thực thể tồn tại ở trạng thái bảo toàn năng lượng. Hiện tượng tác giả vẫn ngửi thấy mùi sơn mới hay mùi khói rơm ngay trong hiện tại (dù nó thuộc về 30 năm trước) cũng là một cách suy nghiệm theo khoa học lượng tử, cho phép có xác suất rằng chúng ta ngửi được mùi của quá khứ qua những hàm sóng của ý tưởng và hồi ức.
Nhận định rằng những điều đã qua nằm ở “một chiều, một biên giới thời gian nào đó mà con người chưa biết cách để khơi động lại” thật ra rất gần với giả thuyết về không gian đa chiều trong vật lý hiện đại. Tác giả xem ký ức như những hạt năng lượng hoặc những làn sóng phát ra từ một biến cố lịch sử. Khi một sự kiện xảy ra (như một tiếng vó ngựa lóc cóc trên đường phố cũ), chấn động vật lý và tâm lý do sự kiện gây ra không biến mất mà tiếp tục di chuyển mãi vào vũ trụ. Sự cách biệt giữa con người và quá khứ không phải là khoảng cách về địa lý, mà là ranh giới giữa các chiều thời gian. Theo cách lập luận này, nhớ về quá khứ không phải là hồi tưởng về một điều không còn nữa, mà là hướng tâm thức về một điểm nào đó trong vũ trụ, tại một tọa độ xác định, nơi quá khứ vẫn đang diễn ra một cách độc lập. Tuy nhiên, chúng ta phải đối mặt với vấn nạn hiện sinh vì “con người chưa biết cách để khơi động lại”. Nhận định này chỉ ra giới hạn của con người khi bị giam cầm trong thực tại vật chất. Chính tại giới hạn này, văn chương và tùy bút xuất hiện như một biện pháp, một nỗ lực dùng nghệ thuật mở rộng biên giới tâm tưởng để đi vào một chiều thời gian khác, để “tất cả mọi chuyện đã xảy ra đều được thu cất đầy đủ trong cuộn phim thời gian vô tận. Có lẽ chỉ cần tìm được một chỗ đứng thích ứng nào đó là ta thấy lại được tất cả.”
Tùy bút của Bùi Vĩnh Phúc là một văn bản có cấu trúc phức tạp, nơi hành vi viết đồng nhất với tiến trình nhận thức hiện sinh (viết là sống, và sống là viết lên cuộc đời mình). Bằng việc kết hợp tính liên văn bản, hệ thống trường nghĩa giữa hai trục tương phản – bổ sung, với cách nhìn phi tuyến tính về thời gian, tác giả đã chuyển hóa những kinh nghiệm cá nhân thành đối tượng nghiên cứu mang tính thẩm mỹ và triết học. Văn chương của anh là một nỗ lực sử dụng ngôn từ và cấu trúc văn bản để định vị những vùng ký ức đang tồn tại ở một chiều không gian khác.
Kết
Để tạm kết luận cho phần trình bày này, tôi muốn nói rẳng những trường nghĩa dày đặc và hình thức liên văn bản với “những hình ảnh kết nối bất khả suy niệm” đã tạo ra chất thơ đặc thù trong tuỳ bút Bùi Vĩnh Phúc, mà theo tôi, còn giàu chất thơ hơn cả thi ca của anh. Với chất thơ đậm đặc trong các ẩn dụ văn chương, cách vận dụng từ ngữ tạo thanh và hình ảnh; các lý thuyết văn hoá, khoa học, triết học, v.v. kỹ thuật liên văn bản giúp tác giả tạm thời mở ra một lối đi tắt vào biên giới thời gian ở một trường nghĩa mang tính thi ca, nơi các mảnh vỡ ký ức tồn tại song song và tự do, thoát khỏi quy luật của thực tại, để hiện hữu dưới dạng những hạnh phúc trong đời.
Bùi Vĩnh Phúc là một con người hạnh phúc. Anh tìm thấy hạnh phúc trong những gì anh trải qua, với mọi mùi vị của chúng, và trong những gì anh tận lực làm: dịch thuật, dạy học, làm thơ, nghiên cứu, phê bình văn học, đọc và viết, thưởng thức nghệ thuật, sống và yêu thương cuộc sống. Anh viết:
“Sáng nay, với cơn mưa, tôi đã bất chợt ngửi thấy trở lại những mùi hạnh phúc ẩm mốc cũ. Một chút hạnh phúc ẩm mốc dịu dàng. Hạnh phúc không phải chỉ là những niềm vui. Nó còn là những nỗi buồn. Hạnh phúc không chỉ là những nụ cười. Nó còn là những giọt nước mắt. Nó là niềm sung sướng nhưng đồng thời cũng là nỗi đớn đau. Hạnh phúc là tất cả những điều ấy khi chúng đan dệt với nhau để làm thành tấm áo của kỷ niệm ta.”
Đấy là tuỳ bút, thơ, cái viết, và cách sống của Bùi Vĩnh Phúc.