Mai An Nguyễn Anh Tuấn
7.
Người thầy đầu tiên[42] của Thế khi anh chính thức làm nghề tại Xí nghiêp phim truyện (sau chuyển thành Hãng) có thể nói là đạo diễn Thái, anh được giao làm phó đạo diễn cho ông trong phim Sau cánh cửa.
Thông thường, kẻ chân ướt chân ráo bước vào một nghề nghiệp xa lạ và khó khăn như làm phim truyện nhựa thì rất hay mặc cảm, lại hàng ngày ngồi hàng nước cơ quan đợi việc nghe kể về những ông đạo diễn chính oai phong quyền thế khét lẹt trong một đoàn làm phim, thì Thế e dè nơm nớp. Nhưng buổi tiếp xúc đầu tiên với đạo diễn Thái để ông giao việc, anh thấy ngay cái ấn tượng trên là phí lý, ngớ ngẩn, nhất là đối với một ông đạo diễn còn mang nhiều bóng dáng của các vai diễn điện ảnh - đặc biệt là vai anh Dậu trong phim "Chị Dậu"… Ông xử sự rất bình dân, mày tao chi tớ thân mật và bỗ bã với kẻ đang đi theo phục dịch ông với tư cách phó đạo diễn - tức là “đầu chày đít thớt” trong một đoàn làm phim. Khi Thế báo cáo với ông về kế hoạch công việc, sau khi nghiên cứu kịch bản phân cảnh đã cộp dấu vào sản xuất: “Thưa thầy…”, ông phẩy tay: “Thầy bà quái gì, chú mày! Tao cũng là kẻ phải đi học nghề chán chê nữa đây! Còn mày là dân văn vào, tao cũng phải học mày đấy, vốn văn chương tao ít lắm, nghe chửa?”
Thế yêu quý, kính trọng ông ngay từ buổi ấy. Và những đòi hỏi khắt khe về kỷ luật & tiến độ sản xuất phim trở nên nhẹ nhàng hơn rất nhiều đối với một kẻ vốn mơ mộng, quen vùi đầu trong sách vở; và có lần đến chậm hơn đạo diễn chính tại hiện trường quay, không theo như quy định là phải đến trước nửa giờ, anh đã cảm thấy rất xấu hổ. Nhưng khi lắp bắp xin lỗi ông, thì ông cười xòa: “Thôi mà, vào nghề tao cũng đã bị mắng mỏ nhiều lắm rồi…” Anh đã được học nghề của “thầy cả” Thái - điều quan trọng nhất chưa phải là mi-zăng-sen, cách làm việc với máy quay, với diễn viên, mà là ứng xử đầy tình người của ông đối với anh em trong đoàn làm phim - từ thành phần sáng tạo tới nhân viên lao công…
Làm phó, Thế phải đi tìm diễn viên, và khi anh đưa anh bạn là Hà Sơn - một diễn viên sân khấu tới Xí nghiệp để chụp ảnh thử vai, thì vẻ trong sáng hào hoa của một chàng thanh niên điển trai Hà thành gốc đã chinh phục được ngay đạo diễn Thái và các thành phần đoàn làm phim! Trong giai đoạn quay, vì tôn trọng sự khiêm nhường, “biết người biết của” mà đạo diễn chính bộc lộ một cách chân thành, nên Thế đã cố gắng giữ thể diện cho ông mỗi khi cần góp ý về cảnh quay - nhất là thoại của nhân vật: anh nhỏ tai nhà quay phim Đan, để ông Đan nói lại với ông Thái mà cả đoàn phim không biết sự tham góp chuẩn ấy chính là của tay phó…
Vài chục năm sau Thế sẽ gặp lại ông trong đoàn Thiếu sinh quân tới thăm Thầy cũ - nhạc sĩ Phạm Tuyên, anh thấy lòng nhân hậu ở ông vẫn nguyên vẹn như xưa và tới lúc đó như được tỏa rạng thêm trên mái đầu bạc trắng giống vị Tiên ông…
Song ở mảnh đất điện ảnh đầu tiên đó của Thế, người có ảnh hưởng sâu đậm nhất đối với anh và để lại ấn tượng khó quên tới nhiều năm sau lại là đạo diễn Đỗ. Ông tỏ ra đặc biệt quý Thế - thằng em “lính mới tò te” vào nghề đạo diễn còn nặng “đuôi” văn chương, ham tìm học hỏi các đàn anh trong nghề. Ông vóc người tầm thước, đôi mắt mơ màng có chút riễu cợt sau cặp kính trắng, mái tóc bồng bềnh đầy chất lãng tử với chòm râu như nhân vật hoàng thân Mưskin trong phim Thằng ngốc[43] quay theo tiểu thuyết cùng tên của ông già Đốt người Nga (F. Dostoievsky)… Ông đã mời Thế về nhà ông, căn nhà đối diện vườn hoa Hàng Đậu, được trò chuyện với người vợ tần tảo của ông - một nghệ sĩ chơi Flute, và cô con gái nhỏ yêu văn của ông. Có thể thấy rõ, ông là một người sống chết vì nghệ thuật điện ảnh, lúc nào cũng bứt rứt, khát vọng làm được những bộ phim đúng theo ý mình; đi đâu, gặp ai, ông cũng đều say sưa kể về những ý tưởng các bộ phim mình sẽ làm… Có lần, Thế đã “chịu trận” ngồi nghe ông “xi-nê mồm” ý tưởng phim về Thánh Thơ Cao Bá Quát từ chập tối tới khuya, để cùng ông thấm thía cay đắng rằng: ý tưởng này cùng nhiều ý tưởng nào khác có liên quan tới sự “thao thức”, “quẫy đạp”, “phá vỡ”, “tìm tòi” đều là sự “cấm kỵ” tuyệt đối trong lòng nền nghệ thuật Hiện thực xã hội chủ nghĩa!
Chàng trai Hà Nội, anh bộ đội cụ Hồ trong kháng chiến chống Pháp sau khi tốt nghiệp khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội đã tìm đến nghệ thuật thứ bảy, rồi chàng cựu chiến binh được gửi sang Bungari học nghề đạo diễn điện ảnh. Khi Thế bắt đầu hành nghề trên cương vị phó đạo diễn vào cuối những năm 80, ông đã nổi danh là đạo diễn sung sức với vài bộ phim do ông đạo diễn và viết kịch bản, song như ông nói với Thế: Đó chỉ là những bản nháp của ông, những Dương bản hời hợt chưa thể hiện được một phần mười những điều ông ấp ủ… Song, viết và làm phim đối với Đỗ đã là cách duy nhất, tốt nhất để ông và gia đình nhỏ của ông vượt qua những đoạn trường khổ ải của cả đất nước một thời ngăn sông cấm chợ, Giá - Lương - Tiền chao đảo, khi mà dường như có rất ít cách lương thiện để mưu sinh…
Ở cơ quan mới, bài học nghề “vỡ lòng” thật sự đối với Thế là một lần đạo diễn Đỗ gặp anh từ cổng Xưởng phim ra, ông lặng lẽ dắt tay Thế quay trở lại đến trước một căn phòng: “Em cần biết về cái Phòng này, nó ít người, song có vai trò chức năng cực kỳ quan trọng, và có quyền sinh quyền sát với mọi sinh mệnh điện ảnh tương lai…”.
Sau đó, trong quán nước, và ở nhà riêng, ông cho Thế biết về cái phòng được gọi là Phòng Biên tập: “Đó là nơi không ít những sáng tác mới chưa kịp thành âm bản đã chết yểu, nơi bóp chết không ít tài năng vừa nhú mầm, nơi ban phát bổng lộc và trừng phạt theo kiểu đền ơn trả nghĩa và ném đá giấu tay, nơi một kẻ làm Trưởng phòng đi học Nga bốn năm về không phát âm nổi đúng từ pagialuixta (không có chi, xin mời) lại có quyền hành ngang Thượng đế trước những tác giả hiền lành chỉ biết có chữ nghĩa và biến họ thành những kẻ nô lệ ngoan ngoãn…”. Thế băn khoăn: “Em không tin nổi… Hóa ra, sáng tác kịch bản được đánh gía và chọn lựa không phải do giá trị của bản thân nó mà là do sở thích, ý đồ riêng của người có năng lực hạn chế nhưng lại được trao quyền phán xét?” - Ông Đỗ cười ầm lên - “Ôi chú em ngây thơ quá! Vừa thấy em buổi đầu, anh đã thấy em nhất định sẽ là nạn nhân tương lai của cái lò bát quái sẵn sàng nghiền nát, chia cắt, thủ tiêu chất xám kia - nhất là những gì có liên quan tới Tự Do - Dân Chủ - Nhân Quyền! Ôm ấp bao ý tưởng hay ho như em mà lạc vào lãnh địa xôi thịt khoác vỏ nghệ thuật cách mạng cao quý này thì thực là phí phạm, nhầm địa chỉ rồi…!”. Bị dội gáo nước lạnh tàn nhẫn, Thế chỉ biết ú ớ và nhìn ông Đỗ như một nhân vật kỳ dị của đạo diễn người Mỹ Hitcok. Ông thôi cười và trầm giọng nói như mếu: “Họ đã “xử tử” một kịch bản tâm huyết nhất của anh trong cái Phòng ấy em ạ, ở một buổi gọi là “trao đổi ý kiến”. Kịch bản của anh lấy từ nguyên mẫu nhan nhản ngoài đời: thứ nhất, nhân vật Giám đốc kiêm Bí thư một Công ty sản xuất, có nhiều nét tương tự như ông Giám đốc tiền nhiệm của Xưởng phim ta - có học, năng nổ xông xáo công việc, mềm mỏng trong ứng xử, rất biết mua chuộc cấp dưới và làm vừa lòng cấp trên, xử dụng quyền lực tài ba tựa cây gậy thần, nếu lên phim với tài năng của diễn viên người xem sẽ hình dung đó là một con rắn xanh cực độc giấu mình rất kỹ; nhân vật thứ hai là Phó Giám đốc, khôn như cáo và nịnh bợ bậc thầy, phong cách gợi tới một con sâu đo, một con biến hình, luôn tỏ ra hạ mình khiêm nhường xuống sát đất giữa lúc thủ sẵn dao nhọn đâm trộm đối thủ khi gặp dịp - như kiểu một nhân vật của Dickens ấy… - Thế chêm vào: Vâng, Uria Hip, trong Đêvit Corpơphin - Đỗ nhìn chàng trai trẻ đồng nghiệp vẻ hài lòng vì sự đồng cảm, ông gật đầu - Nhân vật thứ ba là một kế toán trình độ trung cấp, cánh tay phải của Giám đốc trong mọi chuyên kinh doanh của cơ sở sản xuất lẫn tư gia mà ông ta mặc nhiên là “đặc mệnh toàn quyền” cho khối tài sản của Giám đốc ngày một phình to thêm, và trở thành “chuyên gia” của Công ty, của Giám đốc trong việc biến báo khái niệm “Tham ô” của một cá nhân nào đó thành khái niệm “tham ô tập thể” khi chẳng may sự nghiệp “vét cho đầy túi tham” bị đổ bể…” - “Còn các nhân vật tích cực ạ?” - Thế sốt ruột, Đỗ rít xì gà một hơi dài rồi nói - Có hơn chục nhân vật tạm gọi như thế, trong đó có cả hình bóng của anh đây, thực ra, nói là nhân vật tích cực thì oan uổng cho tác giả và cho các nhân vật đó, bởi họ đã lờ nhờ như cái bóng vật vờ mưu sinh nhọc nhằn khi phải lựa chiều “mưa nắng” của Ban giám đốc; họ được tiếng là “ông chủ bà chủ” nhưng hàng ngày phải hạ mình trông chờ cầu xin ơn huệ nhỏ nhoi của những người tự xưng “đầy tớ” mà sống xa hoa như ông hoàng bà chúa… Rồi họ trở nên bạc nhược, hèn hạ, có người buộc phải bán rẻ nhân phẩm và thân xác để đổi lấy bữa ăn cho mình và gia đình đang suy sụp… - “Phải chăng đấy cũng là cuộc ăn thịt chính mình, tự xé nát lương tâm, sự thê thảm có khác gì người thợ xây châu Âu thời xưa buộc phải ném người thân đầu tiên vào lò lửa để cứu nghề theo lời nguyền ác độc đè lên số phận họ, như mình đã kể trong vở kịch dựng cho Nhà máy Bê tông đúc sẵn?” - Thế thầm nghĩ, còn Đỗ hăng lên, mắt long sòng sọc - Đó là sự báo hiệu cho sự sụp đổ của cả một xã hội… Em đã đọc Sa đọa (La Chute) của Albert Camus chưa, ông ấy đã hé lộ một bí mật khủng khiếp với nhân vật của ông ấy rằng: “Ngài chớ có đón chờ ngày Phán xử cuối cùng[44]; nó đang xảy ra mỗi ngày”…
Đỗ dừng rất lâu, ngả người trên chiếc ghế mây cũ kỹ, lim dim mắt hút thuốc, như quên phứt thằng trai đồng nghiệp vừa hâm mộ vừa kinh hoảng mình đang ở bên cạnh để ông trút bầu tâm sự u uất. Nhưng ông không quên điều gì hết. Ông từ từ ngồi dậy - Em cần ghi nhớ điều này, em đã không may rơi vào chốn làm thứ nghệ thuật bằng ngôn ngữ quốc tế nhưng lại bị trông coi canh chừng bởi những người quản lý nghệ thuật kém cỏi về văn hóa và không biết gì về điện ảnh, đúng hơn là họ núp vào điện ảnh để trục lợi, vinh thân phì gia, họ quan tâm tới sự an toàn và sự tiến thân của họ hơn là cái được gọi là nghệ thuật em ạ. An toàn và tiến thân bằng mọi giá là kế sách lớn nhất của họ, họ đâu cần phim có tư tưởng mới lạ, cách thể hiện tân kỳ độc đáo, họ tự hào là người canh giữ trung thành tận tụy cho cửa ải lập trường quan điểm chính thống, còn bọn nghệ sĩ kia múa may quay cuồng gì cũng chẳng khác dựng một tiểu phẩm sân khấu cho văn nghệ quần chúng, cứ đánh giặc thắng lợi lớn, tăng gia sản xuất hăng hái, tổ chức thi đua rầm rộ là ổn thỏa - nhưng liệu hồn, đừng có chơi kiểu symbol équivoque (biểu tượng hai mặt) tinh vi theo đuôi bọn Nhân văn ngông cuồng đòi đổi mới vừa bị dẹp tơi tả chưa lâu…
Không biết là đã có ai tơi tả và tơi tả ra sao, Thế chỉ nhận ra là tâm hồn anh đã tơi tả, đã hoang mang cùng cực trước những bài học đầu nghề của vị đạo diễn đàn anh. Thế rụt rè:
- Thưa đại ca…
Đỗ chợt hào hứng:
- Được, em gọi anh là đại ca, theo cách của giới giang hồ cũng có nghĩa em chấp nhận những suy nghĩ của anh, bước vào hàng ngũ những kẻ bị truy đuổi, vùi dập… Tốt, anh không hề bị cô đơn…
- Em thiển nghĩ: số người như anh nói trong Xưởng phim chỉ là thiểu số thôi, họ làm sao áp đảo được phần đông các nghệ sĩ điện ảnh giàu lương tâm ạ?
Đỗ không vội trả lời tay đạo diễn trẻ đầy ấu trĩ và ngây ngô như một chú cừu non đang chuẩn bị bước ra đấu trường toàn sói dữ. Ông nhìn Thế thương hại:
- Anh quý em nên cảnh báo vậy, em tin hay không tin thì tùy… Có điều, em cần biết giữ mình nơi “hang hùm nọc rắn này”, cần biết giả vờ, đóng kịch trước những kẻ yêu tiền tài địa vị của họ hơn nghệ thuật và nghệ sĩ dưới quyền họ… Giả vờ, đóng kịch mà vẫn không bị đánh mất bản ngã mình, ngậm đắng tìm tác phẩm đích thực, đó là nghệ thuật sống não lòng của người nghệ sĩ Việt thời nay em ạ… Trải nghiệm của riêng anh đấy! Cái kịch bản anh vừa kể em đó, đâu phải cái đầu tiên bị họ “cạo lông” một cách tàn bạo! Em xem, sau cuộc góp ý kịch bản thực chất là đấu tố tập thể về kịch bản này, như người khác thì phải vào nhà thương điên rồi!… - Nhìn Thế chăm chú chờ đợi, ông thở dài - Buổi đó Trưởng phòng mời cả Giám đốc, Phó Giám đốc dự, có gần đủ các nhà biên kịch kỳ cựu, một vài đạo diễn tên tuổi (Đỗ nhắc đến tên ông Hoàng Thân, nhân vật duy nhất mà Thế có dịp được quen biết). Hầu hết các ý kiến đã xoay quanh cái trục chính mà một ông học biên kịch ở Nga về phán mở đầu: “Hàng trăm kịch bản đã qua phòng Biên tập, nhưng chúng ta chưa từng gặp một thứ kịch bản nào có tư tưởng đen tối, mang sắc thái thù hận và cách thể hiện mù mịt nhố nhăng như cái kịch bản này!”. Em nên biết là ông ta nói rất chân thành, chân thực, xuất phát từ cách nghĩ cách cảm của một người ít dành thời gian đọc sách nghề nghiệp xem phim kinh điển mà dành nhiều thời gian buôn bán hàng hóa ở nước ngoài và quan hệ bốn phương rộng hơn các nhà ngoại giao… Và chính sự chân thành đó mà mà ông ta được không ít người coi là thần tượng về trí tuệ và đạo đức, lời ông ta là tiêu chuẩn chân lý khó bác bỏ. Thế rồi, phần lớn hội “góp ý” hôm đó đã xúm vào đánh “hội đồng” kịch bản đáng thương của anh như tát nước theo mưa, nào là: kịch bản này cố tình bôi đen đất nước - con người và chế độ tốt đẹp của chúng ta; nào là: cái nhìn tác giả thực quái đản và ác nghiệt, chỗ nào và ở đâu cũng chỉ thấy tiêu cực đen ngòm, méo mó, vẻ đẹp lương thiện chạy trốn, dễ khiến người ta có cảm giác rằng: tác giả có động cơ phá hoại, đầu độc xã hội, làm tâm lý chiến cho địch… nào là: tác giả có đầu óc bệnh hoạn, chữ nghĩa chứa đầy nọc độc, ngòi bút khá tinh xảo nên càng nguy hại; nào là: nhân vật chính diện giống các hình nhân vật vờ tựa bóng ma còn nhân vật phản diện thì sống động như các quái vật Dracula, Frankenstein của Điện ảnh thế giới tư bản giãy chết; nào là: ai cũng thấy rõ là tác giả trút mối thâm thù vào các nhà lãnh đạo Xí nghiệp và anh em nghệ sĩ qua những nhân vật bịa đặt… Một số người tử tế thường ủng hộ anh đưa ra vài ý kiến yếu ớt phản biện lại bị đám đông đè bẹp ngay, đành bó tay bất lực…”.
Sống trong Xí nghiệp phim như một kẻ cô đơn, và hình như cũng có tên trong sổ đen nhóm “xét lại chống Đảng” từ nhiều năm trước, nên khi lãnh đạo Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội gợi ý mời ông sang trường thì ông rất phấn khởi, vì ông sẽ thực hiện được ý định mang những kiến thức và kinh nghiệm làm phim truyền lại cho các thế hệ sinh viên… Nhưng ông đã mang cái án “nguy hiểm với chế độ” chuyển từ Xí nghiệp phim sang Trường; lại vốn là con người khí khái, trung thực, yêu lẽ phải, dị ứng với tất cả những gì khuất tất không lương thiện, nên đã vô tình bị rơi vào một “cái bẫy” đối với một tâm hồn chính trực như ông! Kết cục, giữa thời cả nước đói, túi ông thì rỗng, ông đã bị trường cắt lương, chỉ được hưởng “trợ cấp xã hội” như một kẻ ăn mày mà với một người có lòng tự trọng cao mang bao khát vọng sáng tạo sôi sục như ông, khác gì một đòn giáng chí tử buộc ông phải tự vẫn! Khi nghe được tin dữ, Thế vội tới nhà ông, vợ ông kể trong nước mắt: “Anh ấy tập tễnh (sau lần bị tai nạn ô tô gẫy chân) bước về nhà, ôm mặt khóc nức và kêu lên với con gái: “Chúng nó cắt nốt cái dạ dày của bố rồi!”…
“Một đêm mùa hè năm 1989, ông đã quyết định từ giã cuộc đời theo đúng phong cách của những võ sỹ đạo”. Bạn anh, một nhà biên kịch kiêm phê bình điện ảnh đã thận trọng và kìm nén đau xót viết như thế; và anh có lẽ cũng sẽ viết như vậy, trong những ngày ấy cho báo chí, để đỡ “chướng tai gai mắt” đối với lãnh đạo văn nghệ, và cũng để làm giảm bớt nỗi bi thương trong cái chết của ông, giảm đi nỗi đau lòng của người thân ông trước một sự kiện khủng khiếp: Trong gian bếp lạnh ngắt, ông đã dùng con dao trầu cau rạch bụng, tự kéo ruột mình ra và cắt chúng thành mấy đoạn để khỏi bị cứu sống… Cái chết tiêu cực này, để lại sự bàng hoàng xót thương nhiều năm trong lòng đồng nghiệp, dù sao cũng là một sự phản kháng có ý nghĩa đối với sự đểu cáng, sự “tử tế” giả vờ, thói đạo đức giả che đậy lòng tham lam ích kỷ đã bắt đầu tràn ngập, thống trị xã hội…
Một đạo diễn đàn anh khác mà Thế chủ động làm thân và cũng được yêu quý không kém, là đạo diễn Huy - hậu duệ đời thứ tư của “Thần Siêu”, danh nhân văn hóa đất Kẻ Chợ Thăng Long - Hà Nội. Tính cách đạo diễn Huy hầu như trái ngược với đạo diễn Đỗ, không bộc trực nóng nảy thẳng ruột ngựa mà ôn tồn, thâm trầm, tinh tế. Một buổi ở Làng Kim Lũ Đại Kim - ngôi làng cổ nổi danh truyền thống khoa bảng vào hạng nhất nhì của kinh thành Thăng Long xưa, trong ngôi từ đường họ Nguyễn do cụ Phương Đình Nguyễn Văn Siêu xây dựng, sau khi thắp hương trên Ban thờ tổ, đạo diễn Huy đọc cho Thế nghe một bài thơ của ông, làm theo ý thơ của “Thần Siêu”[45]:
Việc đời nát ruột bầm gan
Chí chưa nỡ bỏ mấy trang sách nhàu
Trời xanh đội đến bạc đầu
Chân lùa cát bụi chẳng màu bùn nhơ
Gọi quan, gọi lão cũng ờ
Đường dài còn tấm thân giờ ta đi…
Rồi ông bảo Thế:
- Em à, những tâm sự của cụ gửi gắm ở Tháp Bút, Đình Trấn Ba, Cầu Thê Húc, Đài Nghiên, cũng là lời nhắn gửi với con cháu, nhất là những người làm văn học nghệ thuật chúng ta đó! Cả đời cụ đã cố giữ lòng trong sạch, từ bi và nhân ái - đó cũng là cái gốc của đạo Phật… Còn Hãng phim của ta, theo dòng đời giờ đây đã thực sự lấm cát bụi bùn nhơ rồi, cát bụi bùn nhơ của sự đố kỵ, hẹp hòi, gian tham, cả độc ác nữa… Em đã trót bước chân vào chốn cát bụi bùn nhơ này tức là “chí chưa nỡ bỏ mấy trang sách nhàu” thì nên học cụ chữ Nhẫn, lánh xa các cuộc ganh đua danh lợi sẵn sàng dìm chết đồng nghiệp vì quyền lợi ích kỷ của vài ông khoác áo nghệ sĩ, lại còn có quyền sinh quyền sát với văn nghệ sĩ nữa… Họ trái tim nguội lạnh, tâm hồn trống rỗng, chưa thành nghệ sĩ thực sự đã là kẻ lưu manh, là đao phủ…
Sau đó ông từ tốn kể cho anh nghe về thân phận đạo diễn Vân, từ những điều được chứng kiến và qua lời kể của một số người khi ông là diễn viên mới toanh của Kịch đoàn Xí nghiệp phim:
Ông Vân vốn là một ngòi bút đã có tiếng tăm trong cuộc kháng chiến chín năm chống Pháp. Ông là dịch giả tiếng Việt sớm nhất và đầu tiên cuốn tiểu thuyết Thép đã tôi thế đấy của nhà văn Xô Viết N. Ostrovsky. Rồi ông trở thành một cộng sự đắc lực cho R. Karmen, tác giả bộ phim tài liệu nổi tiếng Việt Nam trong suốt 7 tháng làm phim ở núi rừng Việt Bắc và trung du, Đồng bằng Bắc bộ với 40.000 mét phim đã được quay. Ông là một người mà R. Karmen liên tục nhắc đến trong hai cuốn hồi ký Ánh sáng trong rừng thẳm và Việt Nam chiến đấu: R. Karmen rất thích nghe ông Vân kể chuyện, bởi ông kể thực hay về đất nước mình, dân tộc mình với bao nhiêu truyền thuyết, phong tục, tập quán; ông còn biết nhiều câu tục ngữ Nga… Giữa họ có nhiều sự đồng cảm đến nỗi Karmen phải thốt lên: “Vắng anh ấy một ngày là tôi cảm thấy buồn”.
Cuộc hôn nhân đầu tiên của nữ nghệ sỹ T. Minh là với đạo diễn điện ảnh Vân. Sau 1954, khi nước ta chuẩn bị bắt tay làm phim truyện điện ảnh, bà T. Minh theo học lớp diễn viên, còn ông Vân theo học lớp đạo diễn do các giảng viên Liên Xô hướng dẫn. Tốt nghiệp khóa học, ông Vân tự viết kịch bản, thực hiện một bộ phim truyện nhựa hơn 100 phút Một ngày đầu thu, kể về lớp thanh niên Việt Nam theo cách mạng và bước vào kháng chiến. Diễn viên T. Minh đóng vai chính. Một số đạo diễn, như Nông Đạt khen Vân rất nhiều, khen nhất là Vân rất chịu khó tìm tòi trong công tác đạo diễn và rất yêu nghề. Đạo diễn Thành minh họa lòng yêu nghề đó như sau: “Vân là đạo diễn, vợ đóng vai chính, đến cảnh vợ với bạn diễn nam là người tình của nhau trong phim ôm nhau thắm thiết, Vân hét rất lớn: ôm chặt vào…”.
Nhưng Một ngày đẩu thu vừa được khen trên báo chí, bỗng có lệnh “cấm chiếu”, nghe đâu là “Ăn phải ‘bả’ diễn biến hòa bình của bọn xét lại Liên Xô”! Cho tới hôm nay, không một văn bản, không một lời lẽ nào giải thích cụ thể. Ngay bản gốc Négatif phim đó cũng đã bị hủy hoại bởi ẩm mốc trong kho tư liệu phim. Còn “vụ án” về đạo diễn Vân và cái chết đầy bi thảm của ông, cho đến tận hôm nay cũng không một cơ quan công quyền nào làm sáng tỏ đúng, sai.
Đạo diễn Vân đi tù không án gần sáu năm, có lẽ bởi ông đã đôi lần gặp gỡ trao đổi chính kiến với những người có tên trong “sổ đen có vấn đề” về Nghị quyết 9 và hiện tình đất nước. Hồi học Nghị quyết, thấy cấp trên nói cho bảo lưu ý kiến, nên ông phát biểu thẳng thừng: Nghị quyết Trung ương Đại hội 3 đã ghi rõ: xây dựng miền Bắc vững mạnh, tiến tới hòa bình thống nhất đất nước, Nghị quyết 3 chưa ráo mực thì Nghị quyết 9 đã chống lại! Ông ngây thơ không biết là những lần ông gặp gỡ các bạn cùng quan điểm như HMC, LĐ, TĐ, v.v. ở công viên Thống Nhất đều bị công an theo dõi… Rồi ông bị tống vào Hỏa Lò, sau đó cũng như các bạn “xét lại”, ông bị đày đi các trại trên núi rừng Việt Bắc.
Đạo diễn Vân được ra tù, về Ninh Bình làm ở một hợp tác xã gì đó, ít lâu sau thì về Hà Nội với vợ con. Nhưng ông bị vợ đuổi ra khỏi nhà, đêm đêm ra ngủ ở vườn hoa Hàng Đậu, nhớ con thì tìm đến nhà nhìn qua khe cửa, ngắm con ngủ một lúc thì bỏ đi… Có lần ông Vân ăn cắp xe đạp, cố tình cho người mất xe bắt tại trận để được đưa ra tòa, có dịp kêu oan cho bà con thiên hạ biết về việc mình bị đi tù không án là trái pháp luật, để được đưa công khai ra xử toàn thể anh em dính vào vụ án xét lại.
Đạo diễn Vân về Hà Nội không ở một chỗ nào nhất định, nay ngủ nhà này mai ngủ nhà khác, gần chục nhà của bạn bè ở suốt từ Bạch Mai cho đến Bưởi, còn tiện đâu ăn đấy, lúc nhà bạn lúc cơm đầu ghế, có khi ngủ ngoài ga Hàng Cỏ hoặc ghế đá vườn hoa… Khi cán bộ chấp pháp hỏi lệnh tha tù, ông nói như khóc: Bắt tôi không có lệnh, thả khỏi tù thì có lệnh tạm tha nhưng lệnh này khi nhập hộ khẩu ở Ninh Bình, công an giữ lại làm hồ sơ…
Rồi ông phiêu bạt vào Sài Gòn tìm việc làm. Có bạn thân gợi ý ông thử đến Xưởng phim TP. Hồ Chí Minh xin làm đạo diễn, hợp đồng từng phim một, hoặc viết kịch bản phim truyện, phim tài liệu, nơi nhà văn nhà biên kịch Vũ Thư cũng rời biên chế Xí nghiệp phim truyện Việt Nam vào viết kịch bản cho họ. Sau đó ít lâu có tin đạo diễn Vân đã cùng một người con gái lên Sơn La, định vượt biên sang Trung Quốc và bị bắn chết… [46]
Tại ngôi từ đường này, đạo diễn Huy đã tiếp đón nhiều nhân sĩ trí thức ôm ấp nhiều khát vọng lớn về văn hóa, giáo dục, nghệ thuật – như Nguyễn Xuân Khánh, Lê Đạt, Đặng Đình Lưu, Phạm Toàn (Châu Diên), Dương Tường, v.v. Thế may mắn được tiếp xúc thường xuyên với các ông, với tư cách là kẻ “theo voi ăn bã mía”, “theo đóm ăn tàn”, và được ảnh hưởng khá nhiều cách nghĩ, cách cảm của các ông. Có điều, anh ngây thơ không biết rằng: trong lãnh đạo Hãng phim từ lâu nay đã hình thành ấn tượng về “một nhóm Nhân văn” mới tại làng Lủ, trong đó có một số nghệ sĩ của Hãng tham gia rất cần được quan tâm theo dõi và uốn nắn giáo dục kịp thời…
8.
Năm đó Thế được Ban Giám đốc Hãng giao phim, kịch bản của nhà biên kịch người Thái Cầm Kỳ. Lúc ông viết kịch bản "Vượt rừng" kể lại chuyện người thanh niên yêu nước người Thái dẫn bốn tù chính trị vượt ngục Sơn La rồi khi trở về bị giặc giết hại, ông chịu khó trao đổi với Thế thường xuyên, vì đã đọc những truyện ký của anh viết từ thời dạy học về nhà ngục khét tiếng này. Chính ông đã đề nghị với Ban giám đốc & Hội đồng nghệ thuật Hãng phim giao kịch bản trên cho một đạo diễn mới tốt nghiệp nhưng có hiểu biết về Tây Tắc, và được chấp thuận ngay. Nhưng sau đó, một đạo diễn lâu niên kiêm Xưởng trưởng đã nì nèo lãnh đạo xin được làm phim này - phim có dính dáng đến lịch sử sắp vào guồng sản xuất, coi như cuộc "cúng giỗ" cuối cùng của ông trong loại phim "cúng cụ". Thế buộc phải cắn răng đồng ý. Mới đầu, Thế được đề nghị làm phó đạo diễn cho ông. Ông tỏ ra rất vui, và bảo thẳng anh: “Bác rất thích được làm việc với một đồng nghiệp hay đọc sách, lại có bằng văn chương, vì như vậy phim sẽ có gốc chắc chắn của văn học!” Ôi, đáng quý và đáng yêu quá, lời động viên rất chính xác và cũng rất có nghề! – Thế chua chát nghĩ… Sau đó, suốt gần hai tháng trời, “thằng bé” đã làm thay công việc khó khăn nhất của một đạo diễn chính, cũng là công việc then chốt, quan trọng nhất của quy trình sản xuất phim: viết Kịch bản phân cảnh (scénario technique, dành cho các bộ phận sáng tạo và kỹ thuật trong một đoàn làm phim, tựa như bản thiết kế chi tiết trong việc xây dựng công trình). Như thế lại được tiếng là “học nghề” của một đạo diễn kỳ cựu, khi mỗi lần ông ấy đọc duyệt từng phân đoạn thì gật gù: “Đó, phải viết như thế, đúng, đúng là những điều bác đã ấp ủ lâu nay! Cám ơn đồng nghiệp trẻ đã thể hiện được tư tưởng của bác! Và cháu rất có tiến bộ trong ngôn ngữ điện ảnh… Tuy nhiên, cần đặc biệt chú ý tới những tình tiết, chi tiết liên quan đến chủ đề tư tưởng phim, bởi phim của chúng ta là phim của nền điện ảnh XHCN ưu việt có âm hưởng chủ đạo là ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, hay lãng mạn cách mạng, không thể len vào dù chỉ một chút dư âm của sự hoài nghi, u ám, chủ nghĩa cá nhân ích kỷ…”.
Và như để kẻ học nghề phải trả công xứng đáng cho những bài giảng làm ù tai của ông, khi kịch bản phân cảnh được cộp dấu vào sản xuất, thì tác giả thực sự của nó bị gạt bắn ra khỏi cương vị phó đạo diễn - thay vào đó là một phó đạo diễn khác giỏi giang hơn Thế nhiều lần trong các quan hệ xã hội và có khả năng kiếm thêm kinh phí tài trợ cho đoàn phim về ăn, ở, đi lại, quảng cáo, cùng các chi phí khác phi sản xuất…
Còn Thế, sau khi bị cướp quyền “cầm cờ” đạo diễn chính, rồi cả công sức lao động một cách lịch sự, đến tên cũng không có trên générique - màn chữ phim một cách đáng đời như thế, giúp ông ta “hạ cách an toàn xuống miền lãng quên”, anh đành tự an ủi: “Âu cũng là một bài học đầu tiên cho kẻ làm nghề, nhất là với những kẻ chỉ có chữ mà không có thứ gì khác bảo kê cho nó… Coi như một lần “cày thuê cuốc mướn” chữ nghĩa thành công, mặc dù chẳng được xu rỉ nào! Đến như các nhà văn tài ba có mấy ai đã sống được bằng nhuận bút, còn mình chỉ là thằng thợ viết thôi, lại là thợ viết hạng bét, có gì mà buồn!”.
Ông Lê Vui cùng xưởng, một đạo diễn cũng khá kỳ cựu, tên tuổi nổi danh cả nước (cũng sắp đến lúc “hạ cánh an toàn xuống miền lãng quên”) một buổi trịnh trọng mời Thế đi ăn trưa, rồi khi trở về Xưởng lúc không có ai đã hạ giọng sòng phẳng với anh: “Chú mày chưa làm phim nên kinh nghiệm chưa có nhiều, rồi sẽ được giao phim xứng đáng thôi! Nhưng mấy cậu đạo diễn gốc dân văn mới vào ngành thì anh tin lắm, yêu lắm… Anh chuẩn bị vào phim, lo nhiều thứ, không có thời gian tâm trí đâu viết phân cảnh… Anh tin là chú làm giúp anh được… - Ông nhìn xoáy vào Thế, thấy đúng là thằng ngớ ngẩn, chứ không phải là kẻ lọc lõi biết cò kè mặc cả, nên tỏ niềm thương cảm thật sự - Yên tâm, anh trả chú mày bằng một nửa nhuận bút kịch bản của anh, được chưa? Bọn cầm bút chúng mày đói bỏ mẹ, đừng làm cao nữa!” Cái bỗ bã thân thiết và chân tình đó của ông đã thuyết phục được Thế, và anh đã nhận lời mà vẫn tìm cách giữ được thể diện cho một đạo diễn nhớn là ông. Sau đó, qua bè bạn học cùng khóa, Thế được biết mình không phải là người duy nhất được ông ấy (và mấy đạo diễn kỳ cựu khác) thuê viết kịch bản phân cảnh! Lần đó, Thế đủ tiền mua được một chiếc xe máy Win cũ, để tập “bay như gió” vào công việc, dù không phải bao giờ cũng xuôi chèo mát mái, nhưng bớt ngớ ngẩn đi và đồng thời có dịp hiểu thêm ý nghĩa của cái gốc văn chương trong nghệ thuật điện ảnh…
9.
Vào thời điện ảnh Việt tan tác, các rạp chiếu phim cả nước biến thành quán bia, vũ trường, văn phòng, dịch vụ đủ loại do “công lao - sáng kiến” của Liên hiệp Điện ảnh, ở Cơ quan bị cắt lương vì không có phim làm, Thế và không ít đạo diễn đồng nghiệp phải vào phía Nam tìm đường làm phim. Gặp đúng thời phim “mỳ ăn liền” đua nở rầm rĩ giữa đất Sài Thành hoa lệ. Việc làm phim lúc đó thật tưng bừng nhộn nhạo, "nhà nhà sản xuất phim, người người làm đạo diễn", phim ảnh trở thành những vụ "áp-phe" béo bở chưa từng thấy; thậm chí một ông buôn bán đồ phòng cháy chữa cháy ở chợ giời may mắn chộp được ít tiền là cũng nhảy xô vào sản xuất phim - kể cả viết kịch bản, làm đạo diễn, để mua danh và hốt bạc một cách dễ dàng dựa trên sự dễ tính và cũng dễ bị lừa của đông đảo khán giả. Thất vọng cùng cực, anh đành ngao ngán nhận làm thuê cho một Công ty dịch vụ văn hóa “tả pí lù”: viết báo, biên tập sách, tổ chức sự kiện, làm quảng cáo, phim ca nhạc, phim chân dung…
Ông Trần Bảo, Giám đốc Công ty này là một lãnh đạo chính quyền Thành phố mới về hưu, có quan hệ rộng khắp từ các tỉnh thành xa xôi tới Trung ương, lại có chút máu mê thơ ca, tuy chỉ là thứ thơ Câu lạc bộ phường song cũng đủ để thuyết phục được Thế đầu quân về với ông. Đặc biệt là cái dự án sách và phim tài liệu về lịch sử Thanh niên xung phong Thành phố sau năm 75 khiến anh rất hào hứng, bởi liền nghĩ ngay tới một bộ phim truyện sử thi hoành tráng nhiều ý nghĩa…
Trong cuộc gặp mặt đầu với kẻ làm thuê tương lai, ông Bảo lim dim mắt đọc bài thơ có tên “Yêu nhau ta gọi thầm Duyên hải”[47] cảm động đến độ dù Thế biết rõ đấy là bài thơ của một anh phụ trách Thanh niên xung phong Thành phố mà anh mới quen, song lại có cảm tưởng như chính ông là tác giả…
Trong thời làm cho C.ty văn hóa này, Thế được giao nhiệm vụ viết kịch bản, đạo diễn kiêm quay phim về TP. HCM dịp kỷ niệm 15 năm, mang tên: “Thành phố không mệt mỏi”. Sau khi đã quay tư liệu một vài cơ sở sản xuất kinh doanh tiêu biểu, lúc được giới thiệu đến C.ty của doanh nhân nổi như cồn Tăng Minh Phụng, Thế được biết nhà văn Vũ Thư (tên tuổi quen thuộc với anh suốt thời thơ ấu với những truyện dịch trong “Bông hồng vàng”, “Bình minh mưa” của nhà văn Nga K. Paustovsky) lúc đó đang làm cố vấn cho ông Tăng Minh Phụng trong việc giao dịch hàng hóa với nước Nga (lúc Liên Xô sắp sụp đổ). Thế là anh đã gặp ông hai lần tại C.ty thương mại đang ăn nên làm ra nọ, với tư cách chỉ là hai người làm thuê cho ông chủ nhiều tiền và biết trọng trí thức. Nhà văn không thể biết rằng: có một kẻ vô danh tiểu tốt mới vào nghề điện ảnh đã kín đáo quan sát ông, tự hỏi ông đang làm gì cho ông chủ ấy trong lĩnh vực hoàn toàn xa lạ với ông là kinh doanh…
Thế hồi hộp lắm, vì đã được biết sơ qua về quãng đời tù đày của một nhà văn đang có tên trong cơ quan anh với chức danh “nhà biên kịch” từng tốt nghiệp trường VGIK danh tiếng (Đại học điện ảnh quốc gia toàn Liên bang Xô viết), và chắc chắn phải có không ít kịch bản phim trong ngăn kéo bản thảo. Bạn Thế, một nhà biên kịch - nhà phê bình điện ảnh cũng từng xuất thân từ VGIK năm trước đã cho anh biết: “Chuyên gia điện ảnh nổi tiếng của Liên Xô là Vaisfield đã kể lại một kịch bản của nhà văn Vũ Thư mà ông rất thích, nằm trong kho lưu trữ của trường có tên là Đêm cuối cùng, ngày đầu tiên. Đó là một đêm hè. Một anh du kích ở đồng bằng sông Hồng nhận nhiệm vụ đặt mìn trên đường tàu hoả. Vì ngày mai, có đoàn tàu chở lính Pháp từ Hải Phòng về Hà Nội. Anh dẫn theo một cậu bé. Đặt mìn xong, anh và cậu bé nằm trong lán chờ. Anh mở đài nghe tin tức. Bỗng anh nghe tin, đêm đó, hiệp định Geneve được ký. Ngày mai sẽ không còn chiến tranh. Anh phân vân. Trái bộc phá kia xử lý thế nào? Anh quyết định tháo trái bộc phá. Rồi báo cáo cấp trên. Nhưng cấp trên phê bình anh. Vì chưa được lệnh. Trái bộc phá vẫn đặt lại chỗ cũ. Sáng hôm sau, đoàn tàu chở lính Pháp lao về Hà Nội. Cậu bé biết chuyện. Cậu lao ra. Giang tay hô to: “Có mìn!’’ Lính Pháp trên tàu giương súng bắn chết cậu bé… Kể xong, ông GS. Nga trầm ngâm: “Chỉ những người từng khổ đau trong chiến tranh, như người Việt Nam, mới có quyền kể những câu chuyện về khát khao hoà bình…”. Sau này, Thế được biết: chính nhà văn Vũ Thư cũng kể lại nội dung kịch bản trên chưa kịp thành âm bản phim trong Hồi ký Đêm giữa ban ngày của ông.
Nếu được gặp ông, anh sẽ nói gì đây? Bảo rằng: “Thưa bác, (cháu) em vinh dự là người cùng cơ quan với bác”, hay là: “Các rạp chiếu phim đã biến mất trở thành quán bia, vũ trường bởi Liên hiệp Điện ảnh đã phá tan nát nền Điện ảnh, đầu phim thì dành cho các nghệ sĩ lớn có công với Cách mạng hoặc nghệ sĩ Nhân dân, nghệ sĩ Ưu tú thực hiện rồi, nên thằng đàn em đành thất nghiệp chạy vào đây, may quá được gặp bác…”?
Nhưng để làm gì? Để tìm sự cảm thông, lời an ủi của bậc đàn anh trong nghề cũng đang bỏ nghề ư?… Thật ra, Thế chợt nảy lòng thương ông, và thương mình. Thế quyết định không kể cho ai là anh có biết ông, thậm chí biết rõ về lai lịch của ông. Không phải vì sợ có người bĩu môi: “Úi giời, thấy người sang bắt quàng làm họ”, mà bản năng mách anh: biết đâu đó cũng là cách anh bảo vệ ông, khi ông đương tìm cách náu mình an toàn để mưu sinh, và để viết những gì cần phải viết cho đời… Nhà văn từ năm 1976, sau khi ra tù, không được cầm bút viết văn viết báo viết kịch bản dịch sách nữa, mà phải làm nhiều nghề khác nhau để kiếm sống - mà một trong những nghề đó là “Chữa tủ lạnh” – cái nghề khiến ông bùi ngùi kể lại: có lần tới một nhà cán bộ nữ chữa tủ lạnh, sau khi biết mấy đứa con chị ta chỉ được ăn mảnh vụn của “đá tủ lạnh”, còn những khay đá thì để đem bán lấy thu nhập của gia đình, thì ông không nỡ cầm tiền chữa tủ lạnh chị ta đưa nữa, với lý do là cái rơ le bị kiến chết cháy làm tắc thôi, không phải sửa gì; và ông đành cắn răng bỏ cái nghề vốn đã bất đắc dĩ ấy để chuyển sang những nghề bất đắc dĩ khác…
Mấy năm sau, qua Hồi ký của ông, Thế được biết đó cũng là thời gian ông âm thầm viết Đêm giữa ban ngày giữa nguy hiểm vẫn còn rình rập. Và cuốn sách đó cũng góp phần trả lời giúp anh cái câu hỏi vấn vương trong nhiều năm - đặc biệt qua những dòng anh sẽ đọc để hiểu thêm về những điều mình sẽ phải viết, đồng thời cảm thấy nụ cười chua chát của nhà văn: “…sau khi ra tù, không đi làm cho nhà nước nữa, đời sống gia đình tôi khấm khá hẳn lên, tinh thần cũng thoải mái, kể cả khi tôi làm thuê cho những người theo lý thuyết của các nhà mác-xít là những tên bóc lột. Những ông chủ cá thể xử sự có văn hóa hơn hẳn ông chủ lớn mà tôi phục vụ suốt đời” (ĐGBN).
Nhưng chỉ sau bộ phim tài liệu về Thành phố 15 năm đó, Thế đã bắt đầu vỡ mộng giữa hàng đống công việc tủn mủn chạy theo đơn đặt hàng của các cá nhân có tiền muốn tô vẽ cho lai lịch gia tộc, hay các đơn vị sản xuất tư nhân & Nhà nước đang mong xây dựng thương hiệu mạnh trong cuộc cạnh tranh bằng mọi chiêu trò quảng bá chấp nhận cả chuyện thổi phồng vô tư, bịa đặt trắng trợn mà không bị đánh thuế…
Một chủ nhật, ông Giám đốc Bảo mời Thế - đúng hơn là gọi -, đi cả ngày giúp cho gia đình ông.
Hôm đó, ông tổ chức cho đại gia đình đi chơi công viên ngoại thành Sài Gòn, để cô con dâu đầu tương lai của ông đang thực tập quản lý kinh doanh biết thêm được “không khí văn hóa cao cấp” nhà ông. Anh có trách nhiệm ghi lại thực sinh động buổi sinh hoạt quý hiếm này bằng phim và ảnh - để “tích góp đủ tư liệu, sẽ thực hiện một phim tài liệu lịch sử thật xứng đáng về Đại gia đình cách mạng của chú” - như ông chân thành tâm sự với anh.
Cả ngày hôm sau, lủng lẳng dây máy ảnh máy quay ở hai vai, Thế tất tả một cách đầy “lương tâm nghề nghiệp” để thực hiện những yêu cầu của chủ thuê mình trong các góc máy, các cảnh huống sinh hoạt… Và tất cả bọn họ yên tâm rằng: đã thuê được một kẻ làm dịch vụ biết rõ sức mạnh sai bảo của đồng tiền, y hệt một tên nô lệ thời trung cổ phương Tây họ từng biết qua phim ảnh. Và họ ăn uống ê hề mà không cần, không có trách nhiệm nghĩ đến một kẻ phục vụ có tầm quan trọng nhất của cuộc này đang khát khô cổ, mồ hôi ướt đẫm… Chẳng lẽ, lúc đó anh lại phải hạ mình tới xin họ một cốc nước, một ly bia? Thêm nỗi nhục cho kẻ mang danh đạo diễn điện ảnh quốc gia phải đi làm công việc dịch vụ của một anh thợ ảnh dạo! Dĩ nhiên, làm dịch vụ thì chẳng hề gì, chẳng có gì xấu, chỉ sợ học trò cũ hoặc bạn đồng nghiệp bắt gặp mình trong cảnh ngộ này thì chẳng biết chúi mặt vào đâu?… Có điều, anh đã có một cuộc tự an ủi rất giàu ý nghiã, tuy chẳng khác AQ bao nhiêu: Chứ sao, mấy ai trong nghề điện ảnh như mình đã được biết rõ tâm trạng của một kẻ làm thuê bán sức lao động cho kẻ nhiều tiền mà cậy của, vô tâm – “cái biết” đó chính là tâm trạng của một miếng mỡ nằm trong chảo mỡ, như văn hào Lỗ Tấn từng nói đến…
Và điều an ủi có ý nghĩa hơn cả đối với Thế, cũng là thứ giữ cho anh không đánh mất lòng tự trọng khi ngửa tay xin một cốc nước, chính là ánh mắt cảm thương kín đáo của cô con dâu tương lai nhà quý tộc nọ thỉnh thoảng hướng về anh… Chính cô đã chủ động đem tới cho anh một chai nước khoáng. Cô làm như hòa nhập hết sức thoải mái vào cuộc vui, nhưng chỉ Thế mới hiểu: cô là người duy nhất trong đám người vui vẻ kia nhận ra sự bất công, mặc dù hợp lý - ở cái không khí văn hóa mà họ bày ra dành cho cô là chủ yếu… Thế biết: một tình thương đối với anh chợt chớm nở trong lòng cô…
Nhưng dù phong phú trí tưởng tượng đến đâu, Thế cũng không thể nghĩ ra nổi một tình tiết có thực khá thú vị với người đời nhưng lại rất buồn với anh sẽ diễn ra, ngoài “kịch bản phân cảnh” dự kiến phim của anh và chắc chắn không thể có vị trí nào trong bộ phim “lịch sử đại gia đình” họ: cô dâu tương lai đó sau hôm ấy lại đâm ra mê cái kẻ làm dịch vụ, chắc hẳn là bắt đầu từ cái buổi quay thuê viết mướn của anh mà cô được chứng kiến từ đầu tới cuối. Ba hôm sau, trong một tối làm thêm, lúc các nhân viên về hết, anh gặp cô ở chân cầu thang vắng vẻ, cô nói với anh như sắp đứt hơi. Cô thầm thì em tình nguyện theo anh cùng trời cuối đất… Em sẵn sàng bỏ phứt không thương tiếc thân phận “chuột sa chĩnh gạo” bày sẵn cho em… Em ghê sợ cái tương lai trong ngôi nhà này… Ông ấy có gương mặt đức Phật nhưng lại mang bản tính của một con quỷ tham lam. Và dâm dục nữa…
Nhưng điều đó lại đặt Thế vào tình huống khó xử, và nguy hiểm. Thực bế tắc! Cuối cùng, anh phải tìm cách “gạt lệ” chia tay em, bán sới khỏi cái Công ty văn hóa đương ăn nên làm ra kia, nhằm giữ mình, giữ nghề, và giữ cho cả tương lai của em dù em muốn tìm cách chối bỏ, bởi em chưa hiểu cuộc sống đang chờ đợi em là gì...
Đây là những lời cuối cùng hắn nói với em một tuần sau đó, gần Công ty, ở một góc phố tối om bởi bóng đèn bị cháy chưa kịp thay:
- Huyền à, anh rất hiểu tình cảm của em dành cho anh… Anh rất xúc động và biết ơn… Nếu anh trong hoàn cảnh khác, không phải là kẻ đi làm thuê, sự nghiệp ổn định, anh sẽ là người thật hạnh phúc khi có em…
Thế cảm thấy giọt nước mắt long lanh của em qua tiếng thở dài nhè nhẹ.
- Còn anh thấy gia đình họ là cán bộ cơ bản, ông ấy ở R ra, có nhiều quan hệ tốt… - Anh nghẹn lời một lúc bởi chợt cảm thấy sự dối trá vụng về của mình - Con cái họ đều được ăn học tử tế, và cậu Tiến là một thanh niên ngoan ngoãn, không đua đòi ăn diện, anh ta cũng yêu em thật lòng đấy chứ…
Huyền bật khóc rưng rức không cần kìm nén:
- Trời ơi, anh đừng nói những lời không phải của anh như thế nữa đi! Em tuy chỉ hết Phổ thông trung học, nhưng qua cách ông bà ấy đối xử với các nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ mà em chứng kiến mấy tháng qua, em hiểu họ chỉ tìm cách bóc lột chất xám người khác càng nhiều càng tốt… Và họ chỉ coi trọng những người có địa vị cao, những ai thành đạt nhiều tiền của thôi! Đằng sau cái vỏ quý tộc họ đang dày công xây dựng là toan tính lạnh lùng và tàn nhẫn, anh ơi! Họ làm kinh doanh về văn hóa mà không hề quan tâm một người có nhiều mơ ước như anh đang cần gì, nghĩ gì, trăn trở gì… Họ chỉ tìm cách làm sao khai thác anh được nhiều nhất cho công việc kinh doanh của họ, mà trả anh bèo bọt nhất… Nhưng lại muốn anh phải mang ơn họ, bởi họ biết rõ lai lịch anh, một người không giỏi quan hệ, không biết hạ mình quỵ lụy nên bị gạt ra ngoài guồng chính thống nhiều năm nay, bị cắt lương, phải bỏ cơ quan vào trong này tìm đường làm phim… Còn anh đang phục vụ một kẻ thế nào, anh biết không: ông ấy cặp bồ với đứa bạn thân của em, mua nhà bạc tỷ cho nó, và nhét tiền lớn vào tay em để bịt miệng khi em biết chuyện… Không bao giờ em dám nhìn thẳng vào cái gương mặt từ bi đạo đức giả mỗi khi ông ta rao giảng đạo đức cho con cháu và nhân viên Công ty…
Bất giác Thế ôm chầm lấy cô gái chợt trở nên thân thiết vô hạn với anh, bởi em đã nói ra những tử huyệt đời em và đời anh bằng nỗi đau lòng của một tâm hồn trẻ trung nhạy cảm, giàu nỗi xót thương. Thế lau nước mắt cho em, và nhẹ hôn lên đôi môi đẫm lệ… Đèn đường góc phố chợt bật sáng, Thế và em vội vã rời khỏi nhau, phòng gia đình quý tộc nọ phát hiện. Thế và em chào nhau lần cuối rồi lén lút chia tay như hai kẻ ăn trộm bị bắt quả tang.
Ngày hôm sau, Thế báo cáo Ban Giám đốc tạm dừng các công việc, lấy cớ ra Bắc có việc gấp gia đình, rồi bỏ Công ty ấy đi biệt tăm, không đợi thanh toán nốt các khoản công xá, thù lao họ còn nợ khá nhiều sau mấy công trình viết thuê, làm phim thuê. Bởi mấy món nợ đó chẳng là gì so với “món nợ định mệnh” nặng trĩu của Thế với em, sau cuộc chia tay như chạy trốn. Và không trả nổi “món nợ định mệnh” ấy là một trong những thất bại đau đớn nhất của đời anh, nặng nề hơn so với cuộc chia tay với Thảo - cô kỹ sư bê tông mấy năm trước….
Và thất bại này của Thế không ngờ lại được ông Giám đốc Công ty dịch vụ của anh gánh cho một phần, bằng một tai nạn xảy ra mấy tháng sau đó mà dân làm dịch vụ văn hóa kiếm tiền bố thí của ông đến tận ba thập kỷ sau còn phải trợn mắt lè lưỡi kinh hoàng: Xe du lịch đời mới ông ta chở bồ nhí đi nghỉ mát ở Đà Lạt bị rơi xuống vực, chẳng hiểu sao thân hai người nguyên vẹn nhưng riêng đầu ông ta thì bị vỡ tan nát, óc bắn tung tóe đầy xe… Vợ ông, khi biết hết mọi chuyện cũng đành cắn răng bỏ ra mấy cây vàng thuê sư một chùa lớn tổ chức Cầu siêu cho ông, để ông thoát kiếp nạn “chết không toàn thây, “ma không đầu” dưới Thập điện Âm phủ…
[42] Tên một truyện vừa của nhà văn T. Aimatov
[43] Phim Thằng ngốc của đạo diễn Ivan Pyryev, xưởng Mosfilm sản xuất năm 1958
[44] Ngày phán xử cuối cùng (hay Ngày tận thế, Judgment Day): khái niệm quan trọng trong thần học của Kitô giáo, Hồi giáo và Do Thái giáo, được kể trong Kinh Thánh.
[45] Bài tán do chính cụ Siêu đề trên bức chân dung lụa nhân dịp cụ 70 tuổi (1868): Hoà quang đồng trần/ Phi tâm trí khoái/ Hi cổ bạt tục/ Tắc lực bất đãi/ Mục kiến nhĩ văn/ Vô hồ bất tại/ Thứ cơ tồn tồn/ Dĩ tiến ngô thoái (Hoà sáng với bụi đường, Thì lòng ta chẳng thích. Noi xưa vượt thói thường, Thì sức ta không kịp. Điều mắt thấy tai nghe, Chẳng có gì không thật. Tiến bước trong cảnh lui, Giữ sinh tồn muôn vật)
[46] Mới đây, theo nhà văn Thái Kế Toại, ông Vân từng làm phiên dịch cho Chủ tịch Hồ Chí Minh đi Liên Xô vào năm 1955. Rồi ông bị bắt ở Quảng Ninh. Lần sau bị bắt ở Hà Nội giam ở Sơn La, trong tù chết vì bị lao năm 1982. Nhà văn Thái Kế Toại đã làm thủ tục giúp gia đình bốc mộ ông năm 1989…
[47] Thơ Tiết Hùng Thái.