Tô Hà Lâm
Năm nào cũng vậy, mỗi khi tới mùa trao giải Nobel văn học vào tháng Mười là đây đó sẽ lại có những lao xao xoay quanh việc bao giờ Việt Nam, hay chí ít bao giờ một tác giả gốc Việt, đoạt giải Nobel Văn học, nhất là khi giải này đã về gần sân nhà hơn bao giờ hết (Hàn Quốc cách Việt Nam chỉ có mấy tiếng bay!). Phải chăng giấc mộng Nobel là một cái gì đó qua cao vời? Hay thật ra không phải, nhà văn Việt Nam ta quá giỏi rồi, tác phẩm cao siêu lắm, chẳng qua Viện Hàn lâm Thụy Điển chưa biết đấy thôi? Bài viết dưới đây thay vì đồn đoán hay thở ngắn than dài, đề xuất một chiến lược để cho văn Việt đến được Stockholm.
Nobel chọn ai và bằng cách nào?
Muốn bàn đến khả năng, trước hết ta phải hiểu cơ chế. Giải Nobel Văn học do Viện Hàn lâm Thụy Điển chấm chọn. Quá trình đề cử, sàng lọc, đọc thẩm định, bỏ phiếu diễn ra hằng năm, với quyền đề cử dành cho các thành viên Viện Hàn lâm, các giáo sư văn chương/ngôn ngữ, các hội nhà văn và các cựu chủ nhân giải Nobel. Danh sách ban đầu sẽ được rút gọn xuống 15-20 ứng viên, rồi 5 ứng viên rút gọn, trước khi các thành viên Viện Hàn lâm bỏ phiếu để bầu người chiến thắng vào tháng 10.
Về mặt văn hệ, Nobel Văn học ngày càng có xu hướng cân bằng giữa trung tâm và ngoại vi, nhưng độ mở vẫn đi qua chiếc cổ chai dịch thuật và xuất bản quốc tế. Nghiên cứu gần đây về diễn ngôn trong các bài diễn từ trao giải cho thấy một thiên lệch dai dẳng hướng về các chuẩn mực thẩm mỹ phương Tây, các tác phẩm dịch thường được định vị như kênh đưa tiếng nói ngoại vi vào trung tâm hơn là một trung tâm mới tự thân. Ở bình diện thực hành, chính Viện Hàn lâm Thụy Điển cũng thừa nhận dịch thuật là điều kiện tiền đề để tác phẩm giữ được lực văn chương qua những ngôn ngữ cầu nối (Anh/Pháp/Đức), dẫu về nguyên tắc, Viện Hàn lâm có thể chủ động đặt dịch khi cần.
Tóm lại, dịch thuật và hiện diện trong sinh quyển xuất bản quốc tế là điều kiện cần (dù không đủ) để một tác phẩm không viết bằng tiếng Thụy Điển lọt vào tầm ngắm của giải Nobel.
Hai mùa Nobel gần nhất và tín hiệu cho châu Á - Đông Âu
Hai mùa gần đây có hai tín hiệu đáng lưu ý với người viết Việt Nam (dù ở đâu, viết bằng tiếng gì):
- 2024: Han Kang (Hàn Quốc) được vinh danh “vì văn xuôi giàu chất thơ đối diện các sang chấn lịch sử, phơi bày tính mong manh của đời sống” – một điển phạm cho thấy cách Viện Hàn lâm đọc các truyền thống văn học ngoài Âu châu qua lăng kính ký ức - bạo lực - thân thể, được nâng đỡ mạnh mẽ bởi dịch thuật Anh ngữ và sự hiện diện trên hệ giải thưởng quốc tế (Booker).
- 2025: László Krasznahorkai (Hungary) – tác giả “thị kiến tận thế” – khẳng định lại sức hút của các truyền thống ngoài tiếng Anh nhưng được dịch và thẩm thấu sâu vào không gian phê bình – học thuật phương Tây hơn ba thập niên.
Hai ca này cùng củng cố một quy luật: dịch hệ thống + quỹ đạo tiếp nhận bền bỉ là nền tảng của cơ may Nobel, bất kể ngôn ngữ gốc.
Văn học Việt Nam trong nước: lực thẩm mỹ có, độ hiển thị hạn chế
Trong 40 năm Đổi mới, văn học Việt Nam đã tạo ra những tiếng nói có sức phổ quát: Nguyễn Huy Thiệp với truyện ngắn lịch sử - hiện thực châm biếm làm rung chuyển tiêu chuẩn thẩm mỹ cuối thập niên 1980; Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh – một bản anh hùng ca nghịch âm của ký ức hậu chiến; Dương Thu Hương với các tiểu thuyết đối thoại trực diện với đạo đức xã hội và quyền lực. Tuy vậy, chính ba trường hợp tiêu biểu này cũng phơi lộ hai điểm nghẽn:
1. Con đường dịch và phát tán: Nỗi buồn chiến tranh có hành trình dịch - biên tập phức tạp, song lại nhờ đó bùng nổ trên trường quốc tế (đoạt giải Independent Foreign Fiction 1994, trở thành một trong những tác phẩm Việt được dịch nhiều nhất). Đây là mẫu chuẩn cho thấy khi một tác phẩm Việt được dịch mạnh tay (Anh/Pháp, v.v.) và có nhà xuất bản trụ cột, cơ hội đi xa tăng vọt. Ngược lại, nhiều tác phẩm khác thiếu đòn bẩy dịch thuật - xuất bản đồng bộ nên độ phủ quốc tế mỏng, khiến cơ hội lọt vào cơ chế đề cử - đọc thẩm định của Viện Hàn lâm bị giới hạn. Các tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Bình Phương rất có giá trị, nhưng độc giả quốc tế không hề biết tới.
2. Môi trường tiếp nhận và kiểm duyệt: Nguyễn Huy Thiệp từng là hiện tượng, nhưng quỹ đạo tiếp nhận quốc tế của ông, dù đáng kể, hãy còn phân tán; còn trong nước thì có những tranh cãi dài hạn quanh lịch sử và biểu tượng quyền lực. Sau khi ông qua đời năm 2021, di sản của ông tiếp tục được nhìn lại. Bảo Ninh đến nay vẫn khơi dậy tranh luận trong nước (cả vinh danh lẫn bài bác), cho thấy độ căng của ký ức chiến tranh trong trường tiếp nhận, đồng thời cũng lý giải vì sao âm vang quốc tế không luôn luôn chuyển hóa thành đồng thuận nội sinh. Dương Thu Hương là điển cứu về những giằng co kiểm duyệt, hải ngoại hóa: in rồi cấm, dịch và xuất bản chủ yếu ngoài Việt Nam; được ghi nhận bởi các thể chế văn học Pháp - Mỹ. Quỹ đạo ấy giúp tác phẩm đi xa nhưng cũng làm đứt gãy mạch lưu hành bản địa. Người đọc trẻ trong nước không thể tiếp cận tác phẩm của Dương Thu Hương trừ các bản lậu trên mạng Internet.
Từ ba trường hợp trên, có thể rút ra rằng nội lực văn chương Việt trong nước không thiếu, đặc biệt ở hai trục lịch sử/chiến tranh và đạo đức xã hội; nhưng độ hiển thị, hạ tầng dịch thuật, hệ sinh thái xuất bản quốc tế còn mỏng. Đây là rào cản chính cho khả năng đoạt giải Nobel của tác giả Việt trong nước.
Văn học gốc Việt ở hải ngoại (viết bằng Anh/Pháp): một đường băng khả thi hơn?
Nếu xét cơ hội trung hạn, các tác giả gốc Việt viết bằng tiếng Anh/Pháp (hoặc xuất bản ổn định qua kênh Anh/Pháp) đang có xác suất thực tế cao hơn vì ba lý do:
- Độ hiển thị trong các trung tâm dịch và xuất bản: cộng đồng tác giả gốc Việt ở Mỹ/Canada/Pháp/Úc đã hình thành một mạng lưới tiếp nhận vững hơn (giải thưởng, đại học, phê bình, tạp chí, đại lý văn học). Nhiều tên tuổi (Ocean Vuong, Viet Thanh Nguyen, Monique Truong, Kim Thúy, Nguyễn Phan Quế Mai, v.v.) duy trì được chu kỳ xuất bản - phê bình - dịch liên tục, cộng thêm những hạ tầng kết nối như DVAN (The Cleaving: Vietnamese Writers in the Diaspora) củng cố tính hiển thị toàn cầu của văn chương gốc Việt.
- Lợi thế ngôn ngữ cầu nối: việc viết trực tiếp bằng tiếng Anh hay Pháp giúp bỏ qua một vòng dịch và rút ngắn đường đến Viện Hàn lâm; đồng thời, khi đã có quỹ đạo quốc tế, bản tiếng Việt (nếu có) lại được đọc ngược như một dị bản tăng chiều kích đa ngữ, đây là điều khẩu vị Nobel hiện đại nhìn nhận tích cực.
- Khả năng đặt tác phẩm trong điểm hội tụ chủ đề toàn cầu: ký ức chiến tranh, di dân, chủng tộc, giới, đứt gãy lịch sử – các mảng đề tài này vừa là truyền thống của văn học gốc Việt hải ngoại, vừa ăn khớp với tiêu chí Viện Hàn lâm ưa chuộng về tiếng nói ngoại vi hóa phổ quát. (Nghiên cứu diễn ngôn Nobel cho thấy sự ưu ái đối với các lối viết ngoại vi mang tính phổ quát khi đã được bản địa hóa trong chuẩn thẩm mỹ phương Tây)
Ngoài ra, lịch sử nhiều mùa Nobel chứng thực vai trò quyết định của dịch giả/biên tập viên “cửa ngõ” (ví dụ trường hợp Mạc Ngôn và Howard Goldblatt) – điều mà các tác giả gốc Việt xuất bản ở trung tâm Anh/Pháp thường nắm lợi thế sẵn nhờ có đội ngũ tác quyền, biên tập và đại lý chuyên nghiệp.
Những mô thức tiêu biểu và bài học chiến lược
- Mô thức Bảo Ninh (tiếng Việt dịch sang tiếng Anh/Pháp): cho thấy tác phẩm Việt có thể đi rất xa nếu gặp đúng dịch giả/biên tập cửa ngõ, tham gia hệ giải – phê bình Anglo‑phone/Francophone. Tuy nhiên, cần có dòng chảy tác phẩm đều đặn để tích lũy hồ sơ cho Viện Hàn lâm; một đỉnh cao đơn lẻ khó đủ.
- Mô thức Dương Thu Hương (hai trục Việt/Pháp, xuất bản hải ngoại): thành công về biểu tượng tại Pháp – Mỹ chứng minh độ cộng hưởng xuyên quốc gia của văn chương Việt; nhưng những năm gần đây không có tác phẩm mới công bố. Nobel, vốn trao cho sự nghiệp, sẽ ưu tiên sự bền vững và tích lũy.
- Mô thức viết bằng tiếng Anh/Pháp (Ocean Vuong, Viet Thanh Nguyen, v.v.): sở hữu hạ tầng xuất bản - phê bình - học thuật trung tâm, dễ tích lũy vòng đời tác phẩm và tiếng nói công luận; phù hợp tiêu chí ngoại vi hóa phổ quát. Nhược điểm là áp lực thị trường và yêu cầu đổi mới hình thức ở mức cao, cùng rủi ro định danh căn cước.
Dịch thuật – chiếc cầu bắt buộc (và người gác cầu)
Ở cấp độ hệ thống, dịch không chỉ là chuyển ngữ mà là nghiệp vụ định hình tiếp nhận: dịch giả/biên tập có thể làm nên (hoặc phá hỏng) một hồ sơ Nobel. Trường hợp Mạc Ngôn/Howard Goldblatt là ví dụ kinh điển trong nghiên cứu dịch thuật: dịch giả như đồng tác giả thẩm mỹ đối với công chúng Anglo‑phone, từ đó ảnh hưởng đến cách Viện Hàn lâm đọc tác phẩm.
Cần nói thẳng, nếu không có đường dịch bền và rộng sang tiếng Anh/Pháp/Đức, cơ hội Nobel cho tác giả viết tiếng Việt gần như bằng 0 trong ngắn hạn; kể cả có đường dịch nhưng không có bệ đỡ phê bình - học thuật (giới thiệu, chuyên khảo, chuyên đề tạp chí, panel festival), cơ hội vẫn rất thấp.
Định lượng cảm tính về khả năng đoạt giải Nobel
- Tác giả Việt Nam trong nước, viết tiếng Việt (không/ít xuất bản ở trung tâm, dịch nhỏ giọt): khả năng rất thấp trong 5-10 năm, trừ trường hợp đột biến khi một dịch giả/nhà xuất bản lớn nào đó bảo trợ hồ sơ toàn diện (toàn tập chọn lọc, chuyên luận, chiến dịch truyền thông quốc tế).
- Tác giả gốc Việt viết tiếng Anh/Pháp (đã có giải lớn quốc tế, được giảng dạy rộng rãi, có hành trình hình thức riêng): khả năng trung bình - khá trong 10-20 năm, nếu tiếp tục xây dựng sự nghiệp nhất quán và có dịch ngược sang các ngôn ngữ khác, tạo hiệu ứng lan tỏa. (Tương quan với những gì thấy ở Han Kang 2024: có bệ phóng Booker, có sự phổ cập dịch thuật và hồ sơ phê bình trang bị sẵn.)
Lộ trình thực tế (ước tính 7-12 năm) để nâng xác suất
· Chiến lược dịch - xuất bản quốc tế theo tam giác Anh-Pháp-Đức: Dựng bộ tuyển (selected works) cho một, hai tác giả Việt có hồ sơ mạnh, kèm luận đề phê bình bằng Anh ngữ, phối hợp nhà xuất bản đại học.
· Kết nối hạ tầng phê bình - học thuật: Thiết lập hội thảo thường niên về văn học Việt tại 3-5 đại học nói tiếng Anh; bảo trợ chuyên đề văn học Việt trên các tạp chí văn chương/dịch thuật
· Nuôi dưỡng dịch giả then chốt: Học bổng cư trú cho 3-5 dịch giả trẻ Anh/Pháp/Đức, gắn với một chương trình “editor‑in‑residence” tại các NXB quan trọng.
· Mở rộng đề tài và hình thức: Khuyến khích đổi mới hình thức (kỹ thuật tự sự, thơ - văn xuôi lai ghép), đồng thời dịch ngược phê bình Việt sang tiếng Anh/Pháp để tạo điểm tựa lý thuyết bản địa cho cách đọc Việt.
Thử dự báo tương lai
- Trong 5-10 năm tới, cánh cửa thực tế nhất cho một chủ nhân Nobel mang căn cước Việt là một tác giả gốc Việt viết bằng tiếng Anh hoặc Pháp, đã/đang tích lũy hồ sơ quốc tế dày: giải lớn (Pulitzer/Booker International/Neustadt…), dịch đa ngữ, hiện diện học thuật và nhất quán về tầm nhìn thẩm mỹ lẫn tư tưởng.
- Với tác giả viết bằng tiếng Việt trong nước, khả năng trong ngắn hạn thấp chủ yếu do độ hiển thị quốc tế - hạ tầng dịch thuật - xuất bản. Tuy vậy, không có nghĩa là bất khả: một chiến lược liên hợp (dịch sang ba ngôn ngữ chính, monograph phê bình, dịch giả then chốt, hồ sơ toàn sự nghiệp) có thể đảo chiều trong 10-20 năm.
Giải Nobel hẳn nhiên không phải là đích đến duy nhất của một nền văn học, nhưng như hai mùa 2024-2025 cho thấy, khi tác phẩm chạm tới những sang chấn lịch sử - hiện sinh bằng ngôn ngữ nghệ thuật đặc thù và đi qua được các cửa khẩu dịch thuật, cơ may được Viện Hàn lâm lắng nghe là có thật. Câu hỏi còn lại thuộc về chúng ta: liệu chúng ta có đủ kiên nhẫn, có xây dựng được hạ tầng – liên minh dịch giả/biên tập/nhà phê bình để biến khả năng thành xác suất hay không.
Melbourne tháng 3/2026