Thứ Sáu, 16 tháng 1, 2026

Nghiên cứu liên ngành văn học và y học: Thành tựu bước đầu của khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm Huế

 Nguyễn Thị Tịnh Thy

  1.  

Năm 1967, chương trình giảng dạy về Nhân văn y học (Medical Humanities) đầu tiên trên thế giới được thực hiện tại Pennsylvania State University (Penn State). Năm 2000, GS. Rita Charon (bác sĩ và là tiến sĩ văn học Anh) xuất bản các công trình nghiên cứu về Y học tự sự (Narrative Medicine) tại Đại học Columbia (Mỹ). Bà chính thức hóa việc giảng dạy cách đọc văn chương cho sinh viên y khoa như một công cụ lâm sàng, khuyến khích bác sĩ lắng nghe câu chuyện của bệnh nhân như một tác phẩm văn học để hiểu bối cảnh bệnh lý sâu sắc hơn; thấu cảm (Empathy) với bệnh nhân, nhìn bệnh nhân không phải bằng các con số và chỉ dấu y khoa, mà còn nhìn thấy một cuộc đời, một gia đình và những nỗi sợ thầm kín của họ. Y học tự sự sẽ khiến các bác sĩ tương lai có năng lực tường thuật, có khả năng nhận biết, tiếp thu, chuyển hóa, diễn giải và xúc động bởi những câu chuyện về bệnh tật.

Từ mốc thời gian và học thuật này, hàng loạt các trường y danh tiếng (Columbia, Harvard, Oxford, Yale...) bắt đầu thay đổi chương trình đào tạo, biến văn học từ một môn tự chọn thành một môn học quan trọng để bồi dưỡng lòng trắc ẩn và kỹ năng giao tiếp.

2.

Ở chiều ngược lại, nghiên cứu văn học qua lăng kính y học (nghĩa là giới phê bình văn học sử dụng tri thức y khoa để siêu âm và mổ xẻ tác phẩm) có một lịch sử hình thành sớm hơn. Đầu thế kỷ XX, trong các công trình về phân tâm học, Sigmund Freud đã mượn kiến thức của y học tâm thần để “Đọc Con Người”. Từ thập niên 1980 đến nay là giai đoạn “Y khoa Nhân văn” và “Hậu hiện đại”. Ở giai đoạn này, nghiên cứu y học trong văn học trở nên đa diện và có tính phản biện cao. Phê bình khuyết tật (Disability Studies) và Lý thuyết Chấn thương (Trauma Theory) được vận dụng phổ biến với mục đích nghiên cứu cách văn chương tái hiện những tổn thương không thể diễn đạt bằng diễn ngôn y khoa thuần túy.

Dĩ nhiên, nghiên cứu y học và văn học ở các khu vực và từng quốc gia sẽ có những khuynh hướng riêng mang đặc điểm lịch sử, chính trị, văn hoá và đặc biệt là ký ức tập thể. Tại các quốc gia như Hàn Quốc và Việt Nam, nghiên cứu văn học qua lăng kính y học thường gắn liền với lý thuyết Chấn thương (Trauma theory) do lịch sử chiến tranh để lại. Văn chương Nhật Bản lại đi xa hơn, dẫn đường cho y học với các nghiên cứu về cái chết (Thanatology) và sự già hóa dân số. Trung Quốc đang đầu tư mạnh vào “Narrative Medicine” để giải quyết khủng hoảng niềm tin giữa bác sĩ và bệnh nhân trong xã hội hiện đại. Hồng Kông và Singapore lại trở thành cầu nối, nơi tổ chức các diễn đàn lớn nhất châu Á về nhân văn y tế, kết hợp giữa tư duy phân tích của phương Tây và bối cảnh gia đình/xã hội của phương Đông. Và như thế, nếu phương Tây đang nghiên cứu để “Vượt Qua Giới Hạn Con Người” thì châu Á đang nghiên cứu để “Tìm Lại Bản Chất Con Người” sau những biến động và áp lực của hiện đại hóa.

  1.  

Ở Việt Nam hiện nay, Nhân văn y học (Medical Humanities) hay Y học tự sự (Narrative Medicine) chưa trở thành một môn học chính thức trong chương trình đào tạo bác sĩ y khoa của các trường Đại học Y dược. Việc vận dụng y học nhân văn từ bản năng (truyền thống y đức) sang chuyên nghiệp (áp dụng lý thuyết Y học tự sự của thế giới) vẫn chưa được thực hiện; tên gọi và chức năng liên ngành của của Văn học vẫn chưa hiện diện chính thống trong diễn ngôn Y khoa. Nghĩa là, văn học chưa được xem như một môn khoa học bổ trợ cho khoa học cơ bản.

Ngược lại, Trong lĩnh vực văn học, giai đoạn từ thập niên 1930 đến năm 1975, các nhà nghiên cứu Trương Tửu, Vũ Ngọc Phan, Huỳnh Phan Anh, Tam Ích, Nguyễn Đình Tuyển, Lê Tuyên, Nguyễn Văn Trung,… đã dùng kiến thức phân tâm học để phân tích văn học. Sau 1986, phê bình phân tâm học phục sinh cùng tên tuổi của nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thuý với hai công trình có giá trị: “Hồ Xuân Hương – hoài niệm phồn thực” (1999) và “Bút pháp của ham muốn” (2009).

Từ góc độ bệnh tật, năm 1959, Trần Văn Bảng đã nghiên cứu “Bệnh Trạng và Cái Chết của Hàn Mặc Tử” (Tạp chí Bulletin du Syndicat des Médecins, số 6, 06/11); Mạc Văn Phước thực hiện Luận án tiến sĩ năm 1968 với đề tài “Bệnh tật và cái chết của bốn văn nhân: Tản Đà, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Tường Tam” (Sài Gòn).

Và, thật đáng khâm phục khi năm 2015, Vũ Đức Sao Biển gọi tên y học trong nghiên cứu văn học với tiểu luận “Y học trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung”, in trong “Kim Dung giữa đời tôi”, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh. Ngoài ra, có nhiều nhà khoa học và nhà báo cùng quan tâm đến chủ đề này: Đặng Thị Thái Hà với “Thơ Hàn Mặc Tử nhìn từ những vấn đề thân thể và bệnh tật”, tạp chí Nghiên cứu văn học, số 6/2017; Hà Thanh Vân với “Khi văn chương viết về dịch bệnh”, https://vanvn.vn, 06/10/2021; Phan Tuấn Anh với “Hình tượng dịch bệnh trong tiểu thuyết G. G. Márquez, https://vannghequandoi.com.vn, 19/01/2022…

Sau khi lý thuyết chấn thương của Amos Goldberg được Hải Ngọc dịch trên Tạp chí Văn học nước ngoài, số 4/2009 với nhan đề đầy tính khơi gợi: “Chấn thương, tự sự và hai hình thức của cái chết”, giới học thuật Việt Nam chú ý đến hướng nghiên cứu này khi tìm hiểu tiếng nói của “cái tôi bị chấn thương” trong văn học. “Chấn thương” trở thành một từ khoá xuất hiện thường xuyên trong khoa học và khoa bản văn chương. Cuối tháng 3 năm 2024, hội thảo quốc tế với chủ đề “Chấn thương, khủng hoảng và chữa lành trong văn học – nghệ thuật Việt Nam, Nhật Bản” do trường Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn tổ chức thu hút nhiều học giả với 66 tham luận.

Mặc dù nghiên cứu văn học từ các lý thuyết phân tâm học và chấn thương đã có nhiều thành tựu đáng kể, nhưng chưa có nhà khoa học nào đặt hai lý thuyết này vào gốc rễ của nó khi vận dụng. Trên thực chất, phân tâm học và chấn thương đều thuộc về lĩnh vực y học – y học tâm thần. Nghĩa là đã có sự liên ngành giữa y học và văn học trong gần một thế kỷ của khoa học văn chương Việt, nhưng y học vẫn chưa được xem như một “khoa học bổ trợ” cho văn học – “khoa học cơ bản”.

  1.  

Trong gần mười năm nay, khoa Ngữ văn - Đại học Sư phạm Huế là nơi có sự nghiên cứu tập trung nhất về văn học và y học.

- TS. Nguyễn Văn Thuấn là người đầu tiên đọc tác phẩm văn học từ góc độ bệnh học với lý thuyết diễn ngôn tâm thần phân lập qua bài báo “Chứng điên và thơ điên của Bùi Giáng”, Tạp chí Khoa học Đại học Sài Gòn số 10 (35), 12/2015.

- Từ dữ liệu y học về thân thể của nữ giới, đề tài khoa học công nghệ cấp Bộ năm 2018 (nghiệm thu 2020) “Tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại – nhìn từ lý thuyết diễn ngôn thân thể” của PGS.TS. Trần Huyền Sâm đã tham chiếu vào ba phạm trù: trinh tiết, tình dục và nạo thai trong tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại (Phần nạo thai và trinh tiết theo hướng liên ngành văn học và y học). Trên cơ sở đó, xác lập mối liên hệ thầm kín, bền chặt giữa lĩnh vực văn học và y học. Dù diễn ngôn thân thể trong công trình này còn bị chi phối bởi lý thuyết nữ quyền luận, và vấn đề y học mới chỉ bổ trợ theo dạng thức mô tả y khoa về thân thể nữ như là tiền đề để phân tích các biểu hiện đặc trưng về giới, nhưng đây là công trình có vai trò rất quan trọng. Nó xác lập một cách có chủ đích hướng nghiên cứu và đào tạo của Trần Huyền Sâm.

Vì vậy, năm 2022, Trần Huyền Sâm đưa vấn đề này thành đề tài của nhóm nghiên cứu mạnh ở trường Đại học Sư phạm Huế: “Mối quan hệ giữa văn học với lĩnh vực y học”. Ngoài ra PGS. TS. Trần Huyền Sâm còn thực hiện nhiều hoạt động liên quan đến hướng nghiên cứu này: 1/ Công bố các bài báo khoa học liên quan như: “Luật phá thai Simone Viel và vấn đề chối bỏ thân thể trong tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại”, Kỷ yếu Hội thảo cấp Quốc gia, trường Đại học Sư phạm Huế, Đại học Huế, 2017; “Diễn ngôn về trinh tiết nữ giới (Qua nhà nữ quyền Yvonne Knibehler)”; “Note sur la question de l’hymen en médecine et la virginité féminine dans le roman vietnamien contemporain”, Revue Moussons, Institut de Recherches Asiatiques, Aix-Marseille Université, Numéro 39. 6.2022;... 2/ Tham gia toạ đàm Văn học và Y học do Hội Văn học Nghệ thuật thành phố Huế tổ chức với vai trò diễn giả. 3/ Thực hiện phỏng vấn nhà văn - bác sĩ Nguyễn Đức Tùng với đề tài “Văn học và y học – trò chuyện với cây bút và dao mổ” (báo Phụ nữ Việt Nam, 05/01/2026). 4/ Đề xuất đưa môn học Y học tự sự vào các trường đại học Y như mô hình của Pháp và Mỹ.

Bên cạnh nghiên cứu, Trần Huyền Sâm còn đảm trách học phần Văn học và Y học ở cấp thạc sĩ, hướng dẫn 2 luận văn và 6 khoá luận liên quan đến mối quan hệ giữa văn học và y học. Trong đó, đáng lưu ý nhất là luận văn “Tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại từ góc nhìn y học”, 2019, của thạc sĩ Nguyễn Hữu Minh.

- Nguyễn Hữu Minh đã cung cấp một cách tương đối có hệ thống về lý thuyết nghiên cứu văn học và y học. Khái niệm rõ ràng, lịch sử vấn đề trong và ngoài nước khá đầy đủ, sau khi trình bày mối quan hệ biện chứng giữa văn học và y học và các trường phái lý thuyết của y học liên quan đến văn học, luận văn phân tích “thân thể bệnh tật”, “thân thể chấn thương”; hình tượng bác sĩ, bệnh nhân… Từ đó, khẳng định tầm quan trọng của việc ứng dụng lý thuyết liên ngành văn học và y học vào khám phá, giải mã tiểu thuyết nữ đương đại. Sau khi bảo vệ luận văn, Nguyễn Hữu Minh tiếp tục công bố hai bài báo: “Văn học và y học nhìn từ mối quan hệ liên ngành” http://vannghequandoi.com.vn, 26/08/2020 và “Văn học - y học và sự đối thoại liên ngành trong tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại”, Văn nghệ Quân đội, số 2/2023.

- Tháng 11/2025, TS. Nguyễn Thuỳ Trang xuất bản chuyên luận “Văn học và Y học - Bắt mạch nỗi đau”, Nxb. Khoa học Xã hội.

Chọn chủ đề bệnh tật, cuốn sách tập trung vào một lĩnh vực cụ thể của y học với nội dung triển khai khá phong phú: ung thư, bệnh lạ, dịch bệnh, chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD), chứng tự kỷ, tâm thần phân liệt, rối loạn đa nhân cách… trong tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI. Tác giả chuyên luận đã xem bệnh nhân như một văn bản, và đằng sau mỗi văn bản ấy là môi trường sinh thái, môi trường xã hội với chiến tranh, hậu chiến, gia đình, tình yêu, tình bạn…

Đối thoại với tư duy nhị nguyên khi nghiên cứu văn học với y học, Nguyễn Thuỳ Trang nhấn mạnh đến ý nghĩa của nỗi đau thân – tâm. Quan niệm truyền thống luôn đề cao giá trị tinh thần, xác thịt (theo một ý nghĩa nào đó) thường bị hạ bệ, được cho là kém thanh cao. Tuy nhiên, từ nỗi đau bệnh tật, tác giả khẳng định sự thiêng liêng và ý nghĩa lớn lao của xác thịt, đặc biệt là trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo đang lấn lướt trí tuệ thiên tạo. Từ đó, chuyên luận cho thấy văn học bắt mạch nỗi đau theo cách thức đặc thù: không kê đơn bốc thuốc, nhưng gieo vào ý thức con người khả năng đối diện, thấu hiểu và chuyển hoá nó.

  1.  

Như vậy, đã có 3 giảng viên, 2 học viên cao học và 6 sinh viên thực hiện đề tài nghiên cứu với sản phẩm khoa học đa dạng (bài báo, luận văn, chuyên luận) và tính ứng dụng cao (đào tạo Thạc sĩ), khoa Ngữ văn – trường Đại học Sư phạm Huế đang hình thành một chi lưu nghiên cứu liên ngành văn học và y học. Từ bài báo đầu tiên của Nguyễn Văn Thuấn, đề tài khoa học và đề cương bài giảng đầu tiên của Trần Huyền Sâm, luận văn đầu tiên của Nguyễn Hữu Minh, chuyên luận đầu tiên của Nguyễn Thuỳ Trang, hy vọng rằng sẽ có những tiếp nối khác để cùng phát triển một hướng nghiên cứu mang bản sắc của đơn vị, góp phần làm đa dạng hoá diện mạo nghiên cứu của ngành văn học trong nước. Đồng thời, nếu thực hiện được đề xuất của PGS.TS. Trần Huyền Sâm, phối hợp tốt với các cơ sở đào tạo y khoa, đưa “Y học nhân văn” (dùng văn học cho y khoa) và “Phê bình y học” (dùng y khoa cho văn học) song hành phát triển thì hiệu quả của hướng nghiên cứu liên ngành này sẽ càng thiết thực hơn.

  1.  

Dĩ nhiên, kiến thức khoa học là của nhân loại, lý thuyết và các môn học trong liên ngành văn học và y học cũng là của nhân loại, nhưng những nghiên cứu trường hợp theo hướng vận dụng lý thuyết vào thực tiễn văn học được thực hiện khá tốt, phân tích thấu đáo và kiến giải sâu sắc chứng tỏ các giảng viên và học viên của khoa Ngữ văn – Đại học Sư phạm Huế đã góp phần đánh thức một hướng nghiên cứu khả dụng từng được thực hiện ở Việt Nam trong thập niên 1960; thể hiện năng lực phát hiện và phát triển vấn đề; làm đa dạng việc nghiên cứu văn chương.

Xin chúc mừng các đồng nghiệp!