Văn Giá
Những ngày cuối năm 2024, công trình “Văn học như một diễn ngôn” của nhà nghiên cứu phê bình Trần Văn Toàn được xuất bản. Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam tiếp cận một cách có hệ thống lý thuyết diễn ngôn của nhà xã hội học, nhà triết học M. Foucault (1926-1984) và thực hành nghiên cứu, phê bình một số vấn đề, trường hợp của văn học Việt Nam. Công trình thực sự có tính mới, hiện đại. Mới thì dễ có khả năng hấp dẫn, tạo được sự chú ý nhưng cũng vì thế mà không dễ tiếp nhận và chia sẻ ngay đối với cộng đồng bạn đọc, kể cả giới NCPB và giảng dạy văn học.
- Tác giả công trình và con đường đến với lý thuyết diễn ngôn
PGS. TS Trần Văn Toàn hiện đang là cán bộ giảng dạy bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại tại khoa Ngữ Văn Đại học Sư phạm Hà Nội. Việc anh đến với hướng nghiên cứu diễn ngôn và sự ra đời cuốn chuyên luận của anh có thể xem là kết quả của nhiều nhân duyên tốt lành.
Nhân duyên trước tiên với Trần Văn Toàn là khu vực nghiên cứu và giảng dạy chuyên sâu của anh: giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến 1945. Giai đoạn này đã diễn ra bước chuyển đổi hệ hình của văn học từ trung đại sang hiện đại – một bước chuyển hết sức nhanh chóng, nếu không muốn nói dường như là một sự đứt gãy. Đây là giai đoạn mà lí thuyết diễn ngôn dựa trên tương quan quyền lực/ tri thức của Foucault dường như rất thuận lợi để vận dụng. Trong buổi ra mắt sách, Trần Văn Toàn có chia sẻ nguyên do để anh tìm đến với lí thuyết của M. Foucault. Số là, với tư cách là người làm văn học sử, anh đọc thấy trong văn học giai đoạn giao thời có rất nhiều tác phẩm đề cập đến vấn đề tình dục với một sự khoan dung rất đặc biệt, kể cả với những cây bút đạo lí như Hồ Biểu Chánh (1884-1958). Đây là một khác biệt hoàn toàn với văn học trung đại nhưng dường như lại không được các nhà nghiên cứu quan tâm. Anh tâm sự: “Tôi đặt câu hỏi: vì sao có tình trạng này? Đi tìm câu trả lời lần hồi tôi bắt gặp lí thuyết của M. Foucault. Ông ta giúp tôi hiểu là văn học hiện đại được xây dựng trong một khung tri thức mới (episteme). Khung tri thức này cho phép những vấn đề của tình dục xuất hiện với gương mặt hòan toàn khác, với chức năng biểu đạt hoàn toàn khác với văn học trung đại. Khung tri thức này là kết quả từ sự tương tác quyền lực giữa phương Tây và phương Đông. Từ định hướng này tôi tìm hiểu sâu vào các lĩnh vực khác: diễn ngôn về dân tộc, diễn ngôn tả thực, diễn ngôn về giới”.
Nhân duyên thứ hai, sau khi bảo vệ luận án tiến sĩ, Trần Văn Toàn là giảng viên thỉnh giảng tại trường Đại học ngoại ngữ Bu-san (BUFS) từ năm 2010 đến 2012. Mặc dù đã công bố những nghiên cứu về diễn ngôn từ năm 2007 (in trong một hợp tuyển năm 2009) nhưng ở giai đoạn đó anh mới chỉ ở những bước đầu tiên tìm hiểu lí thuyết diễn ngôn. Hai năm ở Hàn Quốc, hoàn toàn tự do (thoát khỏi những ràng buộc sự vụ và mưu sinh trong nước) Trần Văn Toàn có điều kiện để đọc sâu và nghiền ngẫm về lí thuyết diễn ngôn một cách hệ thống. Trên thực tế, đề cương của cuốn chuyên luận đã được phác dựng ở thời điểm này.
Trở về nước Trần Văn Toàn từng bước công bố những nghiên cứu cụ thể của mình như là những thực hành cụ thể. Anh viết về các tác giả cụ thể như Nhất Linh, Phan Bội Châu, về những chủ đề như hậu thuộc địa, nữ quyền, phê bình sinh thái… Những bài viết cụ thể đó đã dành được sự quan tâm của đồng nghiệp nhưng chỉ là những bài tiểu luận thì những diễn giải sâu về lí thuyết thật khó để trình bày cho hết nhẽ. Và vì nhiều lí do, cuốn sách với đề cương đã được phác thảo vẫn chỉ là ấp ủ. Phải đến năm 2019, một nhân duyên khác mới lại đến với anh. Qua giới thiệu của Nguyễn Bá Cường - Giám đốc Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Trần Văn Toàn được mời sang trao đổi học thuật về hậu thuộc địa và văn học Việt Nam tại Đại học Sư phạm Paris (ENS) – trường đại học mà chính M. Foucault đã từng theo học (sau khi tốt nghiệp phổ thông, Foucault đã thi vào ngôi trường này như là cách chống lại mong muốn của gia đình hướng ông vào ngành y). Sự tiếp nhận hào hứng và những chia sẻ của một số học giả người Pháp và cử tọa có lẽ chính là nguồn cảm hứng thúc đẩy Trần Văn Toàn quyết tâm hiện thực hóa cuốn sách mà anh đã phác thảo đề cương từ nhiều năm trước đó.
Nhưng cũng phải 5 năm sau cuốn sách mới ra mắt người đọc. Quả thật, để có được cái mới trong học thuật vốn không dễ dàng gì. Cần trực cảm khoa học, cần thời gian, cần cả những nhân duyên. Đó là chưa kể, một hướng đi mới khi xuất hiện bao giờ cũng đi kèm với nó là nghi ngờ, chất vấn khe khắt. Trong bối cảnh đó, chỉ có thể nói đức kiên nhẫn đã trở thành bệ đỡ cho nhà nghiên cứu phê bình Trần Văn Toàn đi tiếp.
- Diễn ngôn và diễn ngôn văn học như một hướng tiếp cận mở
Đọc vào công trình của Trần Văn Toàn, cách làm của anh là phải hiểu hệ thống lý thuyết của Foucault để rồi từ đó rút tỉa ra những cạnh khía thích hợp cho việc ứng dụng tiếp cận văn học. Đây là điều không dễ dàng. Ta biết rằng trước tác của nhà triết học này rất đa dạng, hướng vào hàng loạt các vấn đề xã hội chứ không chỉ dành riêng cho văn học, thậm chí Foucault chưa bao giờ là người làm nghiên cứu văn học theo đúng nghĩa. Ông nghiên cứu về nhà tù, pháp luật, về bệnh viện, chứng điên, về tình dục... Nhà triết học này tạo ra một bộ khung lý thuyết có tính bao quát rộng và linh hoạt, có giá trị gợi dẫn cách nhìn và khám phá vào mọi lĩnh vực xã hội mà vhj chỉ là một lĩnh vực.
Trên một tinh thần như vậy, thử thách đặt ra đối với tác giả công trình ở mấy bước sau: (i) Mô tả cho được một cách khái quát và cốt lõi nhất lý thuyết diễn ngôn của Foucault; (ii) Từ lý thuyết này, ứng dụng vào việc nghiên cứu, phê bình, giảng dạy văn học; (iii) Cuối cùng, đưa ra một số thực hành nghiên cứu, phê bình của mình như là những minh chứng cho con đường nghiên cứu đã lựa chọn.
Ở điểm thứ nhất, tác giả cho rằng có thể hình dung hoạt đông nghiên cứu, phê bình văn học vốn rất phong phú theo hai hướng khác nhau: “bản chất luận” và “kiến tạo luận”. Cách tiếp cận văn học theo hướng “bản chất luận” là cách làm phổ dụng lâu nay, tức là khám phá các yếu tố nội tại của văn học, chỉ ra bản chất xã hội và thẩm mỹ của văn học, nỗ lực kiếm tìm chân lý và thuyết phục người khác bằng việc trưng ra các chân lý. Cách làm này trên thực tế cũng đã tạo ra nhiều tri thức và giá trị cần thiết, bổ ích. Tuy nhiên, về cơ bản đó là cách làm nhằm phát hiện ra “chân lý” và vì thế nhiều khi mang tính phán truyền, áp đặt, bất khả tư nghị. Một cách khác, đi theo hướng “kiến tạo luận”. Hướng đi này không chấp nhận một cách dễ dãi các chân lý như trên, mà tiến hành chất vấn, thảo luận, “bất tín nhận thức”, mong muốn chỉ ra cho được một điều rất cơ bản: những cái gọi là “chân lý” đó được hình thành trong những điều kiện nào, tại sao trong cùng thời điểm chân lý này lại được phê duyệt để tồn tại và chân lý khác bị loại trừ, khả năng cộng sinh và chi phối lẫn nhau của chúng trong cùng bối cảnh thuộc về... Như vậy, những chân lý không phải có sẵn mà nó được kiến tạo để trở thành nhưng cũng chính vì thế mà không bao giờ nhất thành bất biến, mà luôn bị chất vấn trong sự lưu hành phức tạp và linh hoạt của chúng. Lý thuyết diễn ngôn ra đời để nhận diện những kiến tạo và chuyển đổi trên.
Lý thuyết này được Trần Văn Toàn, trong cuốn sách của mình, trình bày có hệ thống, lớp lang với sự tác động qua lại của các thành tố hình thành nên diễn ngôn nói chung và diễn ngôn văn học nói riêng. Do bản thân quy mô lý thuyết khá lớn, nên không dễ gì có thể rút gọn vào trong vài ba vấn đề theo cách quy giản chung chung. Với mục đích chủ yếu nhằm giới thiệu công trình, tôi người viết bài này chỉ muốn nhấn mạnh mấy khía cạnh cốt lõi giúp bạn đọc hình dung một cách tổng quát, sơ bộ về hướng tiếp cận diễn ngôn trong nghiên cứu, phê bình văn học mà tác giả đã khai triển.
Thứ nhất, về khái niệm “diễn ngôn” (discourse). Không giống với khái niệm diễn ngôn trong ngành ngôn ngữ học quy về văn bản và lời nói, diễn ngôn trong nghiên cứu của M. Foucault mà Trần Văn Toàn tiếp nhận là một khái niệm nhằm để chỉ một tổng thể tri thức phức tạp và sống động được hình thành bởi bối cảnh, đối tượng và sự tương tác. Nó không hướng tới một cách giải thích duy nhất, cũng không khuyến khích truy tìm ở cấp độ phổ quát, mà cần hướng về cấp độ cụ thể, thí dụ: diễn ngôn về nhà tù, pháp luật, bệnh điên, tính dục... (như M. Foucault đã nghiên cứu); trong văn học là các diễn ngôn về giới tính, tính dục, thực dân, sinh thái, v.v. Có điều, khi nói về một diễn ngôn nào đó, người nghiên cứu luôn đặt nó trong tổng thể các diễn ngôn trong cùng thời đại mà chúng thuộc về để thấy mối quan hệ ràng rịt giữa chúng.
Thứ hai là khái niệm “quyền lực/tri thức” (power/knowledge). Không phải ngẫu nhiên hai khái niệm này thường song hành với nhau nhằm chỉ mối quan hệ khăng khít hai chiều giữa chúng. Tri thức tồn tại như một mạng lưới những hiểu biết của con người về các lĩnh vực chuyên môn được xuất hiện trong một bối cảnh xã hội cụ thể. Nhưng hệ thống tri thức đó có không phải tự nhiên sinh ra, mà do sự mất cân bằng về quyền lực thúc đẩy chúng xuất hiện, đồng thời quyền lực cũng sẽ cấp phép, tuyển chọn hoặc loại trừ chúng. Những quyền lực này có thể là thể chế, pháp luật, có thể là các quy ước đạo đức, mỹ học, định kiến, kể cả ý thức và vô thức cộng đồng. Khi đó, chúng chi phối, định đoạt, phê duyệt tri thức. Ví dụ, khi Simone de Beauvoir nói rằng người ta không sinh ra đã là đàn bà, mà họ trở thành đàn bà dưới những quy chuẩn văn hóa nào đó, hiểu như một thứ quyền lực. Vì vậy mới thấy quan niệm và cách biểu đạt thân phận đàn bà trong mỗi một thời đại là rất khác nhau, không có một mẫu số chung, bất biến. Đàn bà thời xã hội trung đại Việt Nam có một chân dung rất khác so với đàn bà của xã hội hiện đại do quyền lực/tri thức mà họ thuộc về nhào nặn mà thành.
Từ những gợi dẫn này, qua nhiều thực hành nghiên cứu, phê bình văn học, tác giả Trần Văn Toàn thường hay sử dụng “các cặp nhị phân” quyền lực/tri thức để cắt nghĩa các vấn đề/ tác phẩm văn học. Thí dụ: cặp nhị phân “nam tính/nữ tính” để cắt nghĩa về diễn ngôn tính dục trong lịch sử văn học Việt Nam; cặp nhị phân “người/tự nhiên” để phân tích về diễn ngôn về nhân tính trong sáng tác Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Huy Thiệp; cặp “thực dân/thuộc địa” để khám phá về các tác phẩm của cụ Phan Bội Châu và Nguyễn Ái Quốc; cặp bình “thường/khác thường” để soi chiếu vào sáng tác Nguyễn Nhật Anh và văn học viết cho thiếu nhi... Cách làm này cho thấy rõ các thao tác nghiên cứu, phê bình của Trần Văn Toàn: dùng những cặp phạm trù thuộc về “quyền lực/tri thức” của M. Foucautl để khám phá văn học.
Thứ ba, trong hệ thống diễn ngôn thì văn học cũng là một diễn ngôn, nó chung sống và tương tác với các diễn ngôn khác của một thời đại nhất định mà nó thuộc về. Bằng việc lập luận và phân tích, tác giả công trình cho ta hiểu diễn ngôn văn học bao giờ cũng hình thành trong một thiết chế nhất định. Thiết chế này được hiểu bao gồm “hai cực”: (i) sản xuất, lưu hành, phê bình tác phẩm; (ii) toàn bộ tri thức về văn học được định hình trong lịch sử: các bộ mã nghệ thuật, thể loại, chủ đề, phong cách... Như vậy, trong các thiết chế phức tạp ấy, các diễn ngôn văn học trình hiện. Thí dụ, theo tác giả công trình, thời văn hóa trung đại Việt Nam hình thành thứ “thiết chế khoa cử” làm xuất hiện và chi phối các diễn ngôn văn học mang tính chất của loại hình văn học Nho gia, tuân thủ các quy chuẩn về thể loại, đề cao văn học “vị đời”, gạt “văn chơi” ra ngoại vi, đề cao sự trang nhã; nhưng sang văn học hiện đại, xuất hiện thiết chế giáo dục Tây học, văn minh phương Tây, đô thị và thị trường, nên văn học khác hẳn: đề cao sự đa dạng và cá tính sáng tạo... Trên kia có nhắc đến diễn ngôn giới tính, trong công trình này, Trần Văn Toàn đã có một chương (trong Phần hai) mang tên “Quyền lực/giới tính và văn học” đã giải quyết khá hấp dẫn và mới mẻ về vấn đề giới tính trong văn học trung đại và giai đoạn đầu của văn học hiện đại Việt Nam (1900-1930).
Tôi mới chỉ đưa ra một cách khái lược ba khía cạnh (đồng thời cũng là ba khái niệm) quan trọng nhất của lý thuyết diễn ngôn mà công trình của Trần Văn Toàn đã triển khai. Theo ý kiến của nhà nghiên cứu phê bình Lã Nguyên trong Lời tựa của công trình này cho hay, các công trình nghiên cứu về diễn ngôn của M.Foucault tập trung xoay quanh sáu từ “chìa khóa”: khảo cổ, tri thức, diễn ngôn, quyền lực, thực hành, phả hệ. Tôi nghĩ, với tác giả công trình, đứng trước các nghiên cứu của M. Foucalt, chỉ việc mô tả học thuật cũng đã không hề dễ dàng, và lại càng là một thử thách khi ứng dụng phân tích một số chủ đề diễn ngôn trong văn học Việt Nam hiện đại. Đến lượt tôi, người viết bài này cũng không thể mô tả học thuật công trình này một cách đầy đủ, và cũng không cần thiết.
- Sức vẫy gọi của công trình
Một tác phẩm nghiên cứu phê bình, kể cả sáng tác thực sự giá trị luôn có khả năng tạo hấp dẫn, vẫy gọi công chúng độc giả, trong đó có cộng đồng các nhà khoa học và các nhà văn. Tôi cho rằng công trình này có ba ý nghĩa chính (tương ứng với ba phần nội dung) đối với người đọc, nhất là giới nghiên cứu phê bình văn học:
Thứ nhất, cho phép người đọc hiểu một cách cơ bản sự nghiệp học thuật của nhà triết học, nhà văn hóa M. Foucault, người có ảnh hưởng lớn đến nhiều ngành khoa học kể từ nửa sau thế kỷ XX đến nay. Đặc biệt các lược thuật và diễn giải về lý thuyết diễn ngôn của Foucault mà Trần Văn Toàn thực hiện có giá trị gợi dẫn để những ai quan tâm tiếp tục suy tư và thực hành nghiên cứu diễn ngôn về một số lĩnh vực, trong đó có diễn ngôn văn học.
Thứ hai, việc khẳng định “văn học như một diễn ngôn” và thực hành nghiên cứu một số diễn ngôn văn học của văn học Việt Nam trong Phần hai của công trình (Diễn ngôn về dân tộc và kẻ khác – những tiếng nói của chủ thể thuộc địa; Quyền lực/Giới tính và văn học; Thiết chế và tiến trình văn học...) đã cho thấy tính chất/hàm lượng khoa học mới mẻ và hấp dẫn mà công trình đạt được. Ở đây, một số vấn đề thuộc lịch sử văn học Việt Nam tưởng như định hình, lần đầu tiên bị chất vấn, được hiểu lại với những kiến giải sâu sắc, thú vị. Các nội dung học thuật có giá trị gợi dẫn mạnh mẽ đối với cộng đồng nghiên cứu, phê bình văn học.
Thứ ba, Phần ba “Những sắc màu diễn ngôn” là nơi tập hợp một số thực hành phân tích/phê bình diễn ngôn văn học của tác giả. Đây là phần viết rất thú vị, vừa có ý nghĩa như những minh chứng cho phần lý thuyết được khai triển ở các phần trước, vừa có giá trị gợi dẫn cách làm và thao tác cụ thể cho việc tiếp cận diễn ngôn đối với văn học. Các tiểu luận “Giải nhị phân tương quan người/tự nhiên và diễn ngôn mới về nhân tính (Đọc những truyện ngắn về tự nhiên của Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Huy Thiệp)”, “Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh – nghiên cứu văn chương: khoa học và/là cách thế sống”; “Từ Thằng quỷ nhỏ của Nguyễn Nhật Ánh nghĩ về những phẩm chất của một tác phẩm viết cho thiếu nhi”... qua cách tiếp cận diễn ngôn, tác giả đã cung cấp một số cách hiểu lại/mới về những trường hợp vốn quen thuộc và tưởng đã cũ. Cấp nghĩa cho những cái tưởng như đã đóng băng chính là nhờ cái nhìn mới và phương pháp tiếp cận mới mang lại.
Ở đây, tác giả công trình đã có một vài lưu ý cần thiết. (i) Khi tiếp cận diễn ngôn cần đảm bảo đặc trưng của văn học như một bản chất thẩm mỹ, để văn học được là văn học. Điều đó cũng hàm nghĩa rằng nếu người nghiên cứu biến văn học chỉ là những tài liệu thực chứng mang chức năng minh họa cho các diễn giải lý thuyết thì sẽ khó có thể gọi là nghiên cứu văn học. Như vậy, trong lý thuyết diễn ngôn, các đơn vị tác phẩm, tác giả, thể loại, cấu trúc tự sự vẫn không bị loại trừ, có điều chúng cần được soi chiếu trong cơ chế của sự kiến tạo chứ không phải như những đơn vị tự tại. Điều này dẫn đến một đề nghị khi diễn cứu diễn ngôn cần thiết phải kết hợp với thi pháp học như tác giả công trình đã thực hiện. Thí dụ, nghiên cứu đơn vị tác giả văn học chẳng hạn, nếu đi theo hướng diễn ngôn thì phải nghiên cứu kiểu loại tác giả mà nó được/bị trở thành trong cơ chế quyền lực/tri thức thời đại, tức là bằng một cách tự nhiên đã bắt gặp thi pháp tác giả. (ii) Công trình cũng hàm ẩn một lưu ý rằng, một số hướng tiếp cận văn học rất hiện đại, kịp thời và đa dạng hiện nay như nữ quyền, hậu thực dân, sinh thái, cảnh quan, căn tính... là rất cần thiết, nhưng dưới góc nhìn diễn ngôn, chúng được hiểu như là những “chủ đề nghiên cứu”, và cần trầm tư thêm/sâu về cơ chế “kiến tạo luận” của chúng.
***
Tôi nghĩ, công trình “Văn học như một diễn ngôn” rất có ý nghĩa đối với hoạt động nghiên cứu, phê bình văn học hiện nay. Đồng thời nó cũng có ích đối với hoạt động giảng dạy, kể cả sáng tác văn học. Nhìn từ phía giảng dạy văn học, những kiến giải về các tác phẩm “Sống mãi với cây xanh”, “Một lần đối chứng”, “Lão Khúng”, “Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu), hay tác phẩm “Muối của rừng” (Nguyễn Huy Thiệp)... của Trần Văn Toàn là những phát hiện thực sự, giúp thầy/trò đọc hiểu văn bản dưới một ánh sáng mới một cách sâu sắc và thú vị. Còn từ phía sáng tác, nếu một nhà văn chịu khó đọc các công trình nghiên cứu như công trình này chẳng hạn sẽ có ý thức hình dung về những diễn ngôn đang chi phối, nhào nặn cách anh ta lập ngôn, cách anh ta tư duy để từ đó có ý thức đối thoại với những quyền lực/ tri thức của thời đại.
Không có một nghiên cứu nào là toàn hảo. Cũng không có một lý thuyết nào là vạn năng. Công trình “Văn học như một diễn ngôn” của Trần Văn Toàn đã góp thêm một hướng nghiên cứu, phê bình khả dụng và đầy tiềm năng cho khoa học văn học Việt Nam hiện nay.
Những ngày bão Wipha, 22/7/2025