Nguyễn Tử Siêm, GS TS Nông nghiệp
Cố vấn trưởng quốc tế, Bộ Ngoại giao, Thương
mại và Phát triển Canada
Cuốn sách này bàn về một chủ đề rất đỗi quen
thuộc với tất cả chúng ta, những người xa hay gần đều có gốc rễ từ nông dân và
chịu tác động ít nhiều qua các bước thăng trầm của nền nông nghiệp. Tác giả PGS
TS Vũ Trọng Khải lại thuộc lớp người trải nghiệm những va đập giữa lý luận và
thực tiễn, giữa chiến lược, chính sách và số phận nông dân suốt nửa thế kỷ qua,
có cách nhìn nhiều chiều và sắc sảo, phản biện quyết liệt và nồng ấm tình cảm,
cuốn người đọc cùng trăn trở trước những “Vấn đề dân cày”[1] mà
Qua Ninh và Vân Đình (Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp) đặt ra từ 77 năm về trước
mà cho đến nay vẫn còn bức xúc.
Nhiều đề bài là các câu hỏi: “Sao lại đánh
thuế xuất khẩu gạo?”, “Sao lại vẫn còn đánh thuế xuất khẩu gạo?”, “Sao lại đổi
rừng tự nhiên lấy vườn cao su?”, “Vì sao một chủ trương đúng (QĐ 80/TTg) lại
không được cuộc sống chấp nhận?”, “Làm gì để tăng giá trị hạt gạo và thu nhập
của người trồng lúa gạo ở Việt Nam hiện nay?”, “Có hay không tội danh “lập quĩ
trái phép” trong vụ án Nông trường Sông Hậu?”, …
Tất cả lại bắt nguồn từ câu hỏi bức xúc nhất:
Lối tư duy phi logic, bao giờ hết?
Cuốn sách này khó có thể định loại là chuyên
khảo, là giáo trình, là tùy bút, là tạp văn hay hồi ký? Dù là gì nó cũng có giá
trị biên niên, ghi lại hiện trạng và những bước chuyển đáng nhớ trong các chủ
trương nông nghiệp và xã hội nông thôn nước ta mà các thị dân trẻ sau này khó
mà tìm lại. Các học viên có thể tìm thấy những nội dung rất cơ bản về kinh tế
nông nghiệp hay xã hội học nông thôn trình bày giản dị mà sâu sắc từ một người
thầy từng trải. Người nông dân hay doanh nhân bị oan sai có thể tìm thấy những
chứng lý tự bảo vệ mình trong các bài viết dậm chất “thầy cãi” về quyền sử dụng
đất hay tự chủ kinh doanh với lối tư duy logic mà tác giả kế thừa từ truyền
thống gia đình Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên của Chính phủ Cụ Hồ. Người luật sư có
thể tìm thấy cách lập luận độc đáo, nhà hoạch định chính sách có thể “rút kinh
nghiệm sâu sắc”. Ông viết: “Không chia ra ba loại tổ chức khoa học để nhà
nước quyết định có tài trợ kinh phí nghiên cứu hay không, như NĐ 115
CP ngày 5/9/2005 của Chính phủ. Cần lưu ý là luật pháp chỉ phân biệt
đối xử đối với hành vi, không được phân biệt đối xử với các chủ thể (tổ chức,
cá nhân) thực hiện các hành vi đó”; cái “lưu ý” này thật là đáng giá.
Như tác giả tự nhận, ông là “chuyên gia bất
đắc dĩ về phát triển nông thôn”, hoàn cảnh buộc phải tự học, mà đã tự học thì
phải đào bới tận cùng, chứ không dễ chấp nhận những giáo điều. Tưởng đâu “nông
dân” đã thành khái niệm kinh điển rồi, mà nghe tác giả bàn tiếp vẫn không thể
bỏ qua: “Xét về mặt pháp lý, người nông dân có toàn quyền tự chủ trong kinh
doanh, nhưng xét về mặt kinh tế, họ phải là những người sản xuất gia công theo
đơn hàng của các doanh nghiệp. Nếu không, người nông dân không thể tồn tại và
phát triển trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh quyết liệt ở qui mô quốc gia
cũng như qui mô toàn cầu”. Với khẳng định này, ông bảo vệ cái lý tồn tại
(raison d’être) của những người mà cả đời ông gắn bó; những ai bị ám ảnh quan
hệ “bóc lột-bị bóc lột” hay “chủ-tớ” chắc cũng khỏi phải phân vân. “Nông dân
phải là người được hưởng lợi trước tiên từ những thành quả của quá trình phát
triển”. Thế nhưng, cái lợi được hưởng đâu phải tự nhiên mà với điều
kiện “chỉ những nông dân sản xuất hàng hóa mới cần và có thể giữ “chữ
tín”trong các hợp đồng liên kết với các doanh nghiệp cung cấp dịch
vụ ở cả “đầu vào” và “đầu ra” của sản xuất”. Cái tư lợi của nông dân
xưa cũng phải gỡ bỏ để hài hòa với cả cộng đồng bởi “Không được hy sinh lợi
ích của bất kỳ nhóm dân cư nào trong quá trình phát triển nông thôn”. Nghĩ
như vậy mới sòng phẳng, vừa thấu tình vừa đạt lý, chính là cái gốc của phát
triển bền vững.
Từ tư duy biện chứng thì thực tế “xé rào” được
nhìn nhận công bằng hơn: nó cởi trói (do ta tự buộc chứ ai?) cho sự tiến triển
bình thường; nhưng chưa đủ, để phát triển tiếp phải có động lực tiếp, mới hơn,
mạnh hơn thế, mà tác giả gọi là các chính sách “thúc đẩy”, nó khác hoàn toàn
với các chính sách “cởi trói”. Với vai trò thúc đẩy sự phát triển, đạt chất
lượng mới cao hơn, nó phải được hoạch định có căn cứ khoa học và thực tiễn, đòi
hỏi nhà hoạch định chính sách không chỉ có lương tâm và lòng dũng cảm, mà điều
quan trọng hơn là phải có trí tuệ. Bàn về những vấn đề chính tri-kinh tế, khi
cần, tác giả cũng dẫn Tư bản luận của K. Marx nhưng không gây
cảm giác sáo mòn, mà thấy thật xác đáng.
Giữa những trang viết, những con số có phần
khô khan, bỗng vang lên những cái tên nghe thân thương mà nhói lòng. Ấy là Nông
trường sông Hậu, là Trần Ngoc Hoằng – người sĩ quan quân Giải phóng “người
chiến sĩ ấy, ai đã gặp anh không thể nào quên”[2] và
Ba Sương[3] –
người con gái ông. Hai cha con người nông dân đất phèn “rũ bùn
đứng dậy sáng lòa”[4] trở
thành những anh hùng được cả trong nước vả ngoài nước ngưỡng mộ rồi lại bị dập
xuống đến mức tội đồ vì “lập quĩ trái phép”. Chuyện đời mà cứ như tiểu thuyết,
khi Ba Sương bị tuyên án, cả trăm nông dân xin đi ở tù thay nữ Giám đốc của họ.
Đọc bài “Có hay không co tội danh “lập quĩ trái phép” trong vụ án
Nông trường Sông Hậu?”, những người làm vụ án này chắc phải tự vấn lương
tâm vì sự phá nát một mô hình kinh doanh nông nghiệp có qui mô lớn và đa dạng,
tiêu biểu và mai sau chắc con cháu chúng ta sẽ lục tìm lại hàng ngàn trang viết
thời đó để đưa vào văn học nghệ thuật như một bài học về sự ấu trĩ một thời.
Cuốn sách là một tập hợp các bài viết đa dạng,
bởi vậy khó đem các chuẩn mực ra để bình xét như một công trình khoa học hệ
thống và hoàn chỉnh. Lúc nhàn rỗi ta có thể nhẩn nha đọc chơi để thấy muôn mặt
đời thường với những câu chuyện một thời ấu trĩ, được kể lại tự nhiên mà đậm
chất suy tư trí tuệ và thấm đẫm nhân văn. Tuy tác giả dẫn vào cánh đồng bất
tận, vào khu rừng mê cung của các biến động về chính sách và xã hội nông thôn,…
nhưng đi cùng ông khá yên tâm, không sợ lạc lối, thể nào cũng tìm được đường ra
hay ít ra cũng gợi ý phải nghĩ tiếp hướng nào, nếu ai muốn khám phá với cái tâm
trong sáng.
Nhớ có lần 20 năm trước cùng ông đi khảo sát
nông nghiệp Trentino, một tỉnh tự trị ở Bắc nước Ý. Những dãy núi Dolomites
thuộc Alps hùng vĩ với đỉnh Marmolada (3.343 m) tuyết phủ sao mà giống
Phanxipan mây mù đến thế. Tổng Paganella có 5 xã mà chỉ 4.730 người. Trentino
rộng 6.000 km2 với nửa triệu dân mà sản xuất tới một nửa sản
lượng táo của Ý và đặc biệt nổi tiếng thế giới với mật ong, nho tím và rượu
vang chất lượng cao.
Đoàn toàn cấp lãnh đạo cả, lần đầu sang cứ
thích ở thành phố thơ mộng Trento mà thưởng ngoạn. Ông thì lại như đắm mình
trong không gian dân dã của vùng núi phát triển mà hoang sơ. Chúng tôi cùng
lứa, cùng ngành, cũng thích chơi bời lắm nhưng trong đầu vẫn cứ day dứt. Thông
trồng cả trăm năm mới khai thác mà họ không mua đứt bán đoạn, sữa được chở bằng
xe bán tải giao cho hợp tác xã, ghi sổ rồi sẽ hưởng lợi tận sản phẩm cuối cùng
từ miếng phomát bán trên máy bay. Khi ở ta nhiều hợp tác xã “chết chưa chôn
được” thì bên này hợp tác xã, liên minh hợp tác xã có cả trăm năm rồi. Khách du
lịch không ở khách sạn sang trọng mà lại trú tại nhà dân (cái từ “homestay”
nghe thấy lạ!).
Còn ta, phải làm gì, làm sao, bao giờ Sa Pa ta
được thế?
Ngẫm ra cái nghề cả nghĩ lúc nào cũng có việc
để làm. Bây giờ đọc những bài này tôi càng tin rằng dù sách đã in thì ông vẫn
tiếp tục trăn trở, tiếp tục suy ngẫm tìm lối ra. /.
Tháng 1/2015
N. T. S.
Nguồn: Rút từ cuốn sách Phát triển
nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện nay – những trăn trở và suy ngẫm. Bản
gốc do tác giả Vũ Trọng Khải gửi.